|
Câu chuyện y học: Leptin và béo ph́
Nguyễn Văn Tuấn
Một trong những khám phá khoa học quan trọng nhất liên quan đến béo ph́ trong
thế kỉ 20 là vai tṛ của kích thích tố có tên leptin. Leptin được tiết
ra từ các tế bào béo (fat cells). Nếu cơ thể thiếu leptin, bộ năo tưởng rằng cơ
thể đang đói và ra “lệnh” ăn uống thêm, gây nên t́nh trạng béo ph́. Do đó, điều
trị béo ph́ bằng leptin có thời được xem là một ch́a khóa để chinh phục nạn béo
ph́ đang trở nên cực ḱ phổ biến trong xă hội, nhất là tại các nước Âu Mĩ.
Nhưng kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy những hi vọng vào leptin chỉ là hi
vọng hăo huyền …
Tuy nhiên, nhiều người – ngay cả trong giới y khoa – vẫn c̣n lẫn lộn mối liên
hệ giữa leptin và béo ph́, v́ những thông tin trên mặt báo đại chúng thường
thiếu tính hệ thống, thậm chí giật gân. Bài viết ngắn này sẽ thuật lại câu
chuyện xung quang việc khám phá ra leptin và hi vọng kích thích bạn đọc trẻ đang
dấn thân vào con đường nghiên cứu khoa học có được một bài học hay một vài kinh
nghiệm có ích.
Chuột
ob
Câu chuyện leptin bắt đầu từ Pḥng thí nghiệm Jackson (Jackson Laboratory), một
trong những trung tâm nghiên cứu nổi tiếng trên thế giới, tọa lạc tại thành phố
Bar Harbor, bang Maine (Mĩ). Pḥng thí nghiệm Jackson là nơi sản xuất và nuôi
dưỡng hàng chục ngàn chuột chuyên dùng cho thí nghiệm. Những chuột này được lai
giống thành 2,500 giống chuột khác nhau. Các nhà nghiên cứu trên thế giới muốn
nghiên cứu bất cứ bệnh ǵ đều có thể đặt đơn đặt hàng tại đây để mua chuột về
làm thí nghiệm (với một cái giá không rẻ chút nào). Thí nghiệm trên chuột là
một mô h́nh nghiên cứu rất phổ biến và có ích trong y sinh học, bởi v́ chuột và
con người khá giống nhau về cấu trúc di gen; một phát hiện mới trên chuột có thể
từng bước đem vào ứng dụng trên con người.
Đầu thập niên 1950s các nhà nghiên cứu tại đây chú ư đến một con chuột có một cá
tính rất đặc biệt: Nó có nhiều lông lá hơn, và béo nhất so với tất cả chuột khác
trong chuồng. Suốt ngày chú chuột cá biệt này chỉ thu ḿnh trong một góc chuồng,
và hoạt động duy nhất của nó là … ăn. Ngoài ăn ra nó không làm ǵ khác. Có
người ví von nói chú chuột này được sinh ra chỉ để ăn, chứ chẳng làm ǵ khác.
Ban đầu, các nhà nghiên cứu nghi rằng nó có mang; nhưng khi khám kĩ th́ con
chuột này là giống đực. Họ đặt tên cho chú chuột này là obese (ph́), và
sau này viết tắt là ob. (Chữ Anh obese xuất phát từ tiếng Latin,
obesus, có nghĩa là ăn hết.
Béo ph́
và di truyền
Trong cùng thời gian đó, một nhà khoa học người Anh tên Gordon Kennedy tiến hành
một loạt thí nghiệm cho thấy các tế bào béo (fat cells) tự chúng có khả năng chi
phối đến thói quen ăn uống của loài bọ gặm nhấm (như chuột chẳng hạn). Ông suy
luận rằng có một số gen kiểm soát hoạt động của các tế bào béo, và v́ thế, béo
ph́ có thể do gen quyết định một phần. Lúc ông cho công bố công tŕnh nghiên
cứu này trên một tập san khoa học, giới khoa học tỏ vẻ rất nghi ngờ, bởi v́ suy
nghĩ “chính thống” thuở đó cho rằng béo ph́ chủ yếu do các yếu tố tâm lí và môi
trường chi phối, chứ các yếu tố di truyền hay gen chẳng có vai tṛ ǵ đáng kể.
Nhưng một nghiên cứu trong thập niên 1970s bắt đầu làm cho cán cân nghiên cứu về
di truyền trong béo ph́ trở nên cân bằng hơn. Các nhà nghiên cứu tại Đại học
Rockefeller (New York) tiến hành một nghiên cứu trên những người sinh đôi. Họ
t́m khoảng 200 cặp sinh đôi, và họ tính chỉ số béo ph́ body mass index
(BMI) bằng cách lấy trọng lượng chia cho chiều cao b́nh phương. Người có BMI
cao cũng có nghĩa là có tỉ lệ chất béo cao; và ngược lại, người có chỉ số BMI
thấp cũng có nghĩa là tỉ lệ chất béo trong cơ thể thấp [1].
Chúng ta biết rằng có hai dạng sinh đôi: những anh em sinh đôi dạng MZ (tức
monozygotic twins) là những cặp mà gen của họ giống nhau 100%; và những anh em
sinh đôi dạng DZ (dizygotic twins) là những cặp sinh đôi mà gen của họ chỉ giống
nhau 50%. (Cần phải mở ngoặc ở đây để nói thêm rằng trong anh em cùng cha mẹ,
số gen giống nhau cũng 50%). Thành ra, nếu béo ph́ (hay BMI) thực sự do gen chi
phối th́ mức độ khác biệt BMI trong những cặp sinh đôi MZ sẽ thấp hơn mức độ
khác biệt BMI trong những cặp sinh đôi DZ. Nói theo ngôn ngữ thống kê, nếu BMI
do các yếu tố di truyền quyết định, th́ hệ số tương quan (correlation
coefficient) trong những cặp sinh đôi có cùng gen (MZ) phải cao hơn khoảng 2 lần
trong cặp sinh đôi chia xẻ 50% gen (DZ) [2].
Và, kết quả như giả thuyết đặt ra: hệ số độ tương quan của BMI trong những cặp
sinh đôi MZ khoảng 0.70, gần gấp hai lần so với những cặp sinh đôi DZ mà hệ số
tương quan chỉ 0.37. Các nhà nghiên cứu c̣n ước tính rằng gen có thể quyết định
khoảng 60-70% những khác biệt về BMI trong con người.
Gen ob
(hay Lepob) và leptin
Nhưng trong mỗi tế bào có cả 30.000 đến 40.000 gen; v́ thế, vấn đề được đặt ra
tiếp theo là: gen nào có liên quan đến béo ph́? T́m vài gen trong một quần thể
40.000 gen chẳng khác nào “ṃ kim đáy biển” vậy. Công việc này cũng giống như
đi t́m nhà của người quen, mà chúng ta chỉ biết “địa chỉ nhà bác ấy ở đâu đó bên
Việt Nam”. Một công việc cực ḱ khó khăn và đầy thử thách. Ấy thế mà sau 6 năm
trời miệt mài theo đuổi, các nhà nghiên cứu t́m ra 4 gen.
Sau khi t́m ra gen, nghiên cứu kế tiếp là phải xác định các gen này sản xuất
protein ǵ. Cuối cùng, họ t́m ra một phân tử (molecule) có chức năng
chuyên sản xuất chất béo, và quá tŕnh sản xuất này do một gen điều khiển. Họ
đặt tên cho gen này là gen ob để nhớ đến chú chuột ob tại Pḥng
thí nghiệm Jackson như đề cập phần trên. Roger Guillemin, Nhà sinh học từng
chiếm giải Nobel, đề nghị các nhà nghiên cứu Rockefeller là trong thực tế, gen
này nên đặt tên lepto (từ tiếng Hi Lạp Leptos có nghĩa là gầy
hay mong manh). Ngày nay, giới khoa học đồng ư đặt tên gen này là
Lepob (chữ Lep lũy thừa ob), và phân tử do leptoob
sản xuất được gọi là leptin. Danh từ leptin có mặt trong trường khoa
học từ đó [3].
Nghiên cứu thêm về leptin cho thấy trong thực tế nó là một loại hormone – kích
thích tố. Kích thích tố leptin được sản xuất trong nhiều loại tế bào, nhưng chủ
yếu là trong các tế bào béo (fat cells). Các nhà nghiên cứu Đại học Rockefeller
khám phá rằng những chuột thiếu leptin là những chuột rất ph́. Sau khi được các
tế bào béo tiết ra, leptin di chuyển theo đường máu đến bộ năo và trú ngụ trong
vùng năo có tên là hypothalamus. Nhiệm vụ của leptin là giao chuyển tín
hiệu (hay hiệu lệnh) của gen ob báo cho năo biết là cơ thể đă no rồi,
đừng ăn uống thêm nữa. Thành ra, khi chuột không có leptin (và năo không nhận
được tín hiệu), năo tưởng rằng cơ thể vẫn c̣n đói nên ra lệnh cho cơ thể ăn uống
tiếp. Trường hợp chú chuột ob đề cập phần trên là trường hợp thiếu
leptin.
Khi những chú chuột béo ph́ được tiêm leptin chúng trở nên mảnh dẻ và b́nh
thường. Ngay cả chuột có trọng lượng b́nh thường khi được tiêm leptin, chúng
cũng mất cân. V́ thế, leptin được xem là một kích thích tố chống béo ph́.
Kể từ đó người ta đặt niềm hi vọng vào leptin như là một “thần dược” có thể cứu
lấy nhân loại thoát khỏi cơn đại nạn béo ph́. Nắm lấy thời cơ, các nhà nghiên
cứu Đại học Rockefeller bèn đăng kí bản quyền (patent). Công ti công nghệ sinh
học Amgen thấy có thể làm ra tiền với leptin, họ bỏ ra 20 triệu Mĩ kim để
mua bản quyền sản xuất leptin. Có lẽ đây là giá bản quyền cao nhất trong lịch
sử nghiên cứu khoa học [4].
Hai
trường hợp chị em họ cá biệt
Nhưng những phát hiện và hiệu quả của leptin vừa tŕnh bày chỉ trên chuột mà
thôi, và chuột th́ không thể có thị trường cho leptin; cho nên bước kế tiếp là
nghiên cứu trên con người. Câu chuyện leptin và béo ph́ trong con người bắt đầu
từ hai trường hợp rất đặc biệt xảy ra tại Anh vào năm 1998. Các nhà nghiên cứu
béo ph́ thuộc Đại học Cambridge (Anh) được mời khám bệnh cho hai chị em họ (một
gái, một trai) người gốc Pakistan nhưng sinh sống tại Anh. Hai chị em này lớn
lên trong một đại gia tộc, mà trong đó bà con lấy nhau rất nhiều. Nói cách khác,
gen của đại gia tộc này được bảo tồn rất cao.
Người chị lúc đó 8 tuổi, cân nặng 86 kg; và người em trai tuy mới 2 tuổi nhưng
cân nặng gần 30 kg. Cả hai chị em đi đứng rất khó. Cả hai chị em có triệu
chứng háu ăn (hyperphagia), tức họ rất ham ăn uống bất cứ lúc nào và bất
cứ ở đâu. Nếu không cho họ ăn uống, họ sẽ rất giận dữ và gây náo loạn cả nhà.
Cha mẹ hai em cho rằng v́ ăn nhiều quá nên hai em trở nên béo ph́; họ không nghĩ
đó là một “bệnh”. Họ cũng không nghĩ thói háu ăn là do gen mà ra.
Khi đo huyết áp th́ kết quả b́nh thường. Các chỉ số sinh hóa khác cũng b́nh
thường. Chiều cao của hai em cũng b́nh thường. Bởi v́ leptin được sản xuất
trong các tế bào béo, cho nên các nhà nghiên cứu suy luận rằng v́ hai em có
trọng lượng quá cao (chất béo nhiều) nên lượng leptin trong máu chắc cũng sẽ rất
cao.
Nhưng khi thử máu hai em th́ các nhà nghiên cứu mới phát hiện một kết quả hết
sức bất ngờ: Cả hai em đều không có leptin trong máu!
Qua kết quả bất ngờ trên, các nhà nghiên cứu suy luận rằng gen sản xuất leptin
trong cơ thể hai em có “vấn đề”, hay có đột biến (mutation). Khi so sánh chuỗi
DNA trong gen ob của hai em và chuỗi DNA trong gen ob b́nh thường,
các nhà nghiên cứu phát hiện rằng một mảng DNA khá lớn trong gen ob của
hai em bị mất, hay nói theo ngôn ngữ di truyền học là bị đột biến [5].
Giải pháp điều trị, do đó, là làm cho gen của hai em b́nh thường lại, tức là
di truyền trị liệu (genetic therapy). Nhưng đây là một việc làm rất khó,
cho nên các nhà nghiên cứu quyết định một phương án dễ hơn: tiêm leptin.
Nhưng v́ chữa trị béo ph́ bằng cách tiêm leptin chưa bao giờ được tiến hành trên
con người, cho nên Ủy ban y đức Đại học Cambridge chỉ cho phép điều trị thử
(trial treatment) trên một em mà thôi. Các nhà nghiên cứu chọn người chị để
điều trị trước. Chỉ trong ṿng 2 tuần tiêm leptin, em
bắt đầu xuống cân, và quan trọng hơn là không thèm ăn như trước đây nữa. Sau 12
tháng tiêm leptin, kết quả thật bất ngờ, ngoài sự ḱ vọng của những người lạc
quan nhất (xem bảng tóm tắt dưới đây).
Tóm lược
những thay đổi quan trọng của một trường hợp béo ph́ được điều trị bằng leptin
trên một em bé gái béo ph́ gốc người Pakistan tại Anh
|
|
Lúc bắt đầu điều trị (cuối năm 1998) |
Sau 12 tháng điều trị bằng
leptin |
|
Tuổi
|
9 tuổi |
10 tuổi |
|
Chiều
cao |
140 cm |
143 cm |
|
Trọng
lượng |
94,4 kg |
78 kg |
|
(Lượng
chất béo) |
(56 kg) |
(40 kg) |
Lúc khởi đầu điều trị (lúc đó em đă 9 tuổi) trọng lượng của em là 94,4 kg; sau
12 tháng trọng lượng giảm xuống c̣n 78 kg. Tính trung b́nh em giảm 1,3 kg mỗi
tháng. Lúc mới điều trị trong cơ thể em có đến 56 kg chất béo (tức 59% trọng
lượng), sau 12 tháng điều trị em mất gần 16 kg chất béo [6]. Nói cách khác,
leptin làm giảm lượng chất béo trong cơ thể, nhưng không thay đổi xương và phần
nạc trong cơ thể (xem bảng tóm tắt sau đây).
Nhưng con
người phức tạp hơn nhiều!
Sau khi thành công với trường hợp thứ nhất, các nhà nghiên cứu xin phép Ủy ban Y
đức và được chấp nhận cho điều trị người em họ 2 tuổi và kết quả cũng rất khả
quan. Tin tức điều trị béo ph́ thành công này làm chấn động dư luận y học thế
giới. Ai cũng nghĩ là các nhà nghiên cứu Anh đă khám phá một ch́a khóa trị liệu
cho t́nh trạng béo ph́. Có người lạc quan tin rằng béo ph́ sẽ bị y học hiện đại
chinh phục như bệnh lao từng bị khống chế trước đây.
Nhưng thực tế không đơn giản như thế. Thật vậy, hai trường hợp cá biệt trên (mà
sau này y khoa gọi là thiếu leptin bẩm sinh, congenital leptin
deficiency) rất hiếm trong dân chúng. Chưa ai biết có tỉ lệ thiếu leptin
bẩm sinh trong dân số là bao nhiêu, nhưng các chuyên gia ước đoán dưới 0.1 phần
trăm.
Trong đại đa số những người béo ph́, nguyên nhân chính không phải do thiếu
leptin. Rất nhiều nghiên cứu trên con người cho thấy người có tỉ lệ chất béo
trong cơ thể càng cao th́ leptin trong máu càng cao. Hệ số tương quan giữa
lượng leptin trong máu và lượng chất béo (fat mass) thường dao động giữa 0.6 đến
0.8 [7].
Đến đây th́ vấn đề trở nên phức tạp. Các trường hợp cá biệt vừa tŕnh bày trên
cho thấy thiếu leptin dẫn đến béo ph́; nhưng trong phần đông dân số, càng béo
ph́ càng có nhiều leptin! Tại sao lại có t́nh trạng mâu thuẫn này?
Qua hàng trăm nghiên cứu tiếp theo về vai tṛ của leptin, chúng ta có nhiều
thông tin hữu ích về vai tṛ của kích thích tố ḱ diệu này. Xin nhắc lại: lep
tin mang tín hiệu đến năo để nói cho năo biết “đă no rồi”, và năo ra lệnh cho cơ
thể không ăn uống thêm nữa. Nhưng nếu mọi việc xảy ra như trên th́ không có vấn
đề ǵ đáng nói. Vấn đề ở đây mà ngày nay qua nghiên cứu chúng ta biết rằng các
tín hiệu của leptin có khi bị nhiễu, thậm chí mất tín hiệu. Khi năo không nhận
được tín hiệu từ leptin, năo ra lệnh cho cơ thể ăn tiếp và gây nên t́nh trạng
béo ph́. Cái khó khăn là không ai biết tín hiệu leptin lúc nào bị nhiễu và lúc
nào là không bị nhiễu.
Ngoài ra, rất có thể cơ thể chúng ta cần một liều lượng leptin nào đó để duy tŕ
một lượng béo cần thiết (cơ thể cần chất béo để vận hành); khi leptin quá thấp
hơn hay quá cao so với liều lượng lí tưởng này đều có thể gây ra béo ph́. Nhưng
không ai biết được cái liều lượng lí tưởng này, nếu thực sự nó hiện hữu.
Thành ra, thành công của các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Rockefeller và
Cambridge tuy rất ngoạn mục nhưng chẳng giải quyết được vấn đề béo ph́ cho một
quần thể lớn. Những bản tin giật gân, những tuyên bố hồ hởi, những tiên đoán
lạc quan ban đầu đều bị thời gian chứng minh là sai, quá hấp tấp, và chỉ là
hoang tưởng. Cho đến nay, chúng ta vẫn chưa hiểu nhiều về nguyên nhân béo ph́
trong phần đông con người. Cái “nguyên nhân” mà chúng ta chỉ có thể nói [chung
chung] là “béo ph́ là hệ quả của nhiều yếu tố di truyền, môi trường, và tâm lí”,
nhưng không ai biết cái nào là quan trọng và quan trọng cỡ nào.
Bài học
leptin
Qua thành công ngoạn mục này, nghiên cứu béo ph́ trở thành một đề tài khoa học
nóng, một cục nam châm thu hút nhiều nhà khoa học trẻ tuổi tài ba nhất và tham
vọng nhất dấn thân vào nghiên cứu. Lí do đơn giản là v́ béo ph́ là một thị
trường thuốc khổng lồ, chỉ một khám phá nhỏ cũng có thể đưa nhà khoa học lên đài
danh vọng và giàu có trong chốc lát. Nghiên cứu béo ph́ là một mỏ vàng để các
nhà khoa học khai thác. Dù công cuộc chinh phục béo ph́ vẫn chưa đến đâu, nhưng
các nhà khoa học trên thế giới vẫn chưa đầu hàng.
Chúng ta có thể rút ra một số bài học quan trọng chung quanh việc phát hiện và
phát triển leptin. Thứ nhất, muốn nhanh chóng thành công trong khám phá khoa
học, nhất là y học, đối tượng nghiên cứu cần phải là những trường hợp đặc biệt,
như trường hợp hai chị em họ đề cập trên, hay những trường hợp sinh đôi mà một
người b́nh thường và một người đặc biệt. Những trường hợp như thế rất có khả
năng cung cấp cho chúng ta những manh mối quan trọng và thích hợp.
Khoa học đương nhiên là dựa vào sự thật (facts), nhưng sự thật phải được quan
sát hay thu thập bằng những phương pháp khách quan. Điều quan trọng và cần
thiết trong khoa học là không chỉ sự thật, mà là sự thật có liên quan đến vấn đề
đang được điều tra. Trong câu chuyện về leptin và béo ph́, sự thật là những
trường hợp (chuột và người) béo ph́ và đó chính là những trường hợp không chỉ
cần thiết nhưng c̣n có liên quan đến việc nghiên cứu béo ph́, bởi v́ nếu là
những người – chẳng hạn như – có nhiều tóc th́ chắc chẳng dẫn đến khám phá ǵ
mới cho béo ph́.
Thứ hai, việc ứng dụng những khám phá từ những trường hợp đặc biệt thường rất
hạn chế. Những bệnh khá phổ biến như béo ph́, loăng xương, viêm khớp xương,
bệnh tim mạch, v.v… thường là hệ quả của một loạt bất b́nh thường từ gen và môi
trường. Nhưng gen và môi trường thường tương tác với nhau; v́ thế một khám phá
gen hay một khám phá kích thích tố riêng biệt không bao giờ là câu giải đáp cho
một số đông mà chỉ giới hạn trong một số nhỏ bệnh nhân mà thôi.
Gần đây, có một trường phái mới mà những người theo thuyết này tự gọi là Y
học tiến hóa (Evolutionary Medicine) cho rằng t́nh trạng béo ph́ ngày
nay là hệ quả của sự mất tương đồng giữa tiến hóa gen trong con người và môi
trường sống. Thuyết y học tiến hóa giải thích rằng chúng ta vẫn c̣n mang trong
người những gen từ cấu trúc cho môi trường săn bắt và hái lượm (môi trường mà tổ
tiên chúng ta phải lao động rất cực nhọc để có miếng ăn), nhưng nay lại sống
trong môi trường thụ động (như ít đi bộ, không phải săn bắt thú vật như ngày xưa),
và cơ thể chưa tiến hóa kịp để thích nghi với môi trường mới; do đó, chúng ta
trở nên béo ph́. Đây là một thuyết rất thú vị và đáng chú ư, nhưng người viết
sẽ trở lại trong một bài viết khác.
Thứ ba, cần phải kiên nhẫn theo đuổi một ư tưởng nghiên cứu tới cùng. Trong
trường hợp câu chuyện leptin, các nhà nghiên cứu bỏ ra 6 năm trời lần ḍ, truy
t́m những gen liên hệ đến béo ph́. Một khi t́m ra gen, họ bỏ thêm hàng chục năm
nữa để t́m hiểu sản phẩm của các gen (gene products) và phát triển thành thuốc
để chữa bệnh béo ph́. Thành công trong nghiên cứu khoa học ít khi nào đến với
chúng ta một sớm một chiều.
Nói tóm lại, khám phá leptin dù không đem đến cho con người một viên thuốc thần
diệu nào, nhưng nó làm cho chúng ta phải suy nghĩ lại vai tṛ của gen và tâm lí
trong vấn đề thèm ăn, nó giải thích tại sao một số người dù với bất cứ biện pháp
giảm cân nào cũng chỉ đem đến thất bại. Đối với khoa học, khám phá leptin mở ra
một kỉ nguyên mới cho nghiên cứu về béo ph́ và đem đến cho y học một luồng sinh
khí mới.
Tài liệu
tham khảo và đọc thêm:
[1] Xin xem
bài b́nh luận “Tiêu chuẩn chẩn đoán béo ph́ cho người Việt” của Nguyễn
Văn Tuấn, đăng trên
www.ykhoa.net.
[2] Về
nghiên cứu những cặp sinh đôi và béo ph́, xin xem bài báo của tôi trong:
Nguyen TV, et al. Bone mass, lean mass and
fat mass: same genes or same environments. American Journal of Epidemiology
1998; 147:3-16.
[3] Zhang
Y, et al. Positional cloning of the mouse obese gene and its human homologue.
Nature 1994; 372:425-32; và bài đính chính đăng trên Nature 1995; 374:479.
[4] Về câu
chuyện mua bán bản quyền gen lepto, có thể đọc Chương 3 trong cuốn “The Hungry
Gene: The Science of Fat and the Future of Thin”, của tác giả Ellen Ruppel
Shell. Nhà xuất bản Atlantic (Mĩ).
[5]
Montague CT, et al. Congenital leptin deficiency is associated with severe early
onset obesity in humans. Nature 1997; 387:903-908.
[6] Farooqi
S, et al. Effects of recombinant leptin therapy in a child with congenital
leptin deficiency. New England Journal of Medicine 1999; 341:879-884.
[7] Về vai
tṛ của leptin và mối liên hệ giữa leptin với lượng béo trong cơ thể, xin xem
loạt bài đặc biệt về leptin trong Tập san Nutrition Review, số tháng 10 năm
2002.
|