|
BÀI
HỌC VỀ BA TỜ THẾ V̀ KHAI SINH
Hoàng Nguyên
Nhuận
Tháng qua, Việt Nam có hai ngày hội lớn kỷ niệm những thành
tích gặt hái được từ 30 năm trước, một từ chiến trường Điện Biên Phủ và một từ
ḥa hội Geneva.
Những Buồn Vui Nửa Vời
Hào quang Điện Biên Phủ có vẻ như làm nhạt nḥa chiến thắng
từ bàn hội nghị Geneva. Có lẽ v́ Việt Minh thời đó, cái đầu theo Nga, cái bụng
theo Trung quốc nên cả Nga Xô và Trung quốc mới đủ sức níu Việt Minh khựng lại
với một thành công dở dang. Tại sao? Ít ra cũng có thể v́ Nga Xô và Trung quốc
không muốn tiếp tục gồng ḿnh thi đua leo thang chiến tranh lạnh trong khi Trung
quốc chưa lại sức sau chiến tranh Cao Ly một năm trước, trong khi Nga Xô vẫn
chưa gượng dậy nổi v́ những tàn phá của Đức trong thế chiến thứ hai. Cho nên,
nếu Nga từng phải nhượng bộ Hoa Kỳ một bước khi Hoa Kỳ thất hứa không chịu thống
nhất nước Đức, mặc t́nh để cho Hoa Kỳ tiếp tục chia cắt nước Đức và tái vũ trang
Tây Đức, th́ bây giờ Nga Xô có ép Việt Nam nhịn thêm chút nữa cũng chẳng sao! Do
đó mà Việt Minh đă không thể thừa thắng xông lên dứt điểm chiến trường Đông
Dương sau khi lực lượng quân sự Pháp đă tan nát nơi ḷng chảo Điện Biên và phải
ấm ức bằng ḷng với một thành công dang dở để rồi về sau này phải bỏ ra thêm ít
ra cũng 15 năm nữa – 1960-1975, mới hoàn thành. Nói về kết quả của ḥa hội
Geneva, Douglas Pike lư thuyết gia chống Cộng hàng đầu của Hoa Kỳ đă thú nhận:
“Chỉ có Việt Minh, phe chiến thắng là thua. Hay bị bán đứng. Cách này hay cách
khác, Hồ chí Minh rơ ràng đă bị Nga và Trung quốc hè nhau ép phải chịu nhận nửa
nước thôi…” (D. Pike – Viet Cong, The M.I.T Press, Massachusetts 1966,
tr.52.)
Mê Tín Chính Trị
Pike và E. Landsdale – bà mụ đỡ đẻ ra chế độ Ngô đ́nh Diệm -
là hai người đă bày ra chữ Việt Cộng và tập cho các chính quyền Việt Nam
Cộng Ḥa thi nhau xài. Việt Cộng là tiếng để chỉ tất cả những
người không theo Ngô đ́nh Diệm và chống chính sách Hoa Kỳ ở Miền Nam, bất kể
cộng sản hay không. Do đó mà đến thời Đệ Nhất Cộng Ḥa mới có từ VC hay Vi-xi
này. Trước đó, từ thời Pháp đến Bảo Đại, Trần trọng Kim, và ngay cả Ngô đ́nh
Diệm lúc đầu cũng chỉ gọi đối phương là Cộng Sản, là Việt Minh, là Việt Minh
cộng sản thôi.
Những người chống cộng giờ thứ 25 thường nhắc đến quyển
From Colonialism to Communism của Hoàng văn Chí như một thứ thánh kinh. Sách
này chỉ được in ra bằng tiếng Anh năm 1964, nghĩa là sau khi chính quyền chống
cộng chính thống của Ngô đ́nh Diệm đă bị khai tử. Măi cho đến sau năm 1975, sách
mới được dịch ra tiếng Việt và đă được tác giả đồng ư và hiệu đính. Thế nhưng,
đọc đến câu: “Từ năm 1946 đến năm 1950, Việt Cộng thường tổ chức…” người ta hẳn
phải nghi ngờ tự hỏi thời gian 1946-1950 đó th́ đă làm ǵ có từ Việt Cộng?
(Hoàng văn Chí - Từ Thực Dân Đến Cộng Sản, Hạc Vinh dịch, Tổ Hợp Xuất Bản
Việt Nam, Tokyo, không ghi năm in.)
Một số người Việt vừa tự tín vừa mê tín. Nhất là mê tín
chuyện đâu đâu. Ông bố, ông nội, ông cố ḿnh nói không nghe, nhưng ông Pháp, ông
Mỹ, ông Tôn dật Tiên, ông Marx, ông Mao, ông Trotsky, ông Giáo Hoàng, “ông Thánh
Phê-rô, ông Thánh Phao-lồ cùng các thánh”, kể cả ông cha nhà thờ rặn ra tiếng
nào là đớp ngay rồi lặp lại thuần thành như những kẻ bị quỷ ám. Ông Khổng hiểu
rơ điều đó nên cảnh cáo: Mê tín sách quá th́ thà không có sách c̣n hơn. Phật
Thích Ca cũng chia xẻ quan điểm đó khi Phật bảo 49 năm hành đạo, Phật không nói
lời nào cả. Dĩ nhiên, kẻ bị quỷ ám có thể phản biện rằng như vậy là ông Phật
cũng có nói rồi, chứ đâu phải không nói lời nào!? Nhưng Phật có nói vậy th́ cũng
ít hại hơn là Phật cương quyết bảo ai không theo ta là kẻ thù của ta, rồi bật
đèn xanh cho thiên hạ nhân danh ḿnh mà đâm chém bắn giết nhau.
Số Phận Những Đứa Con Lai Vô Thừa Nhận
Về phương diện công pháp quốc tế, có thể nói Việt Nam hôm nay
được h́nh thành bởi ba văn kiện là Hiệp Định Sơ Bộ 6/3/46 (HALONG.46), Thỏa Ước
Geneva 20/7/54 (GENEVA.54) và Hiệp Định Paris 27/1/73 (PARIS.73). Cả ba văn kiện
đều có chung số phận của những đứa con lai vô thừa nhận được khai sinh trên Vịnh
Hạ Long, bên hồ Léman hay dưới chân tháp Eiffel, những thỏa thuận kư rồi để mà
vi phạm, kư rồi để đổ cho bên kia vi phạm, và hai bên cùng cam kết là sẽ giữ lời
hứa ngưng bắn bằng cách… tiếp tục đánh nhau.
Trớ trêu bi hài hơn nữa là Trung quốc và Nga Xô, hai nước
thường được ca tụng như hậu cứ tinh thần và vật chất của cách mạng Việt Nam th́
cả hai đều không hồ hởi thừa nhận ngoại giao VNDCCH, để mặc nhiên nhường bước
cho kẻ thù không đội trời chung của Việt Nam là Pháp tiên phong thừa nhận VNDCCH
một cách gián tiếp qua HALONG.46 đó.
HALONG.46 này thừa nhận VNDCCH như một quốc gia tự do có
chính quyền riêng, quốc hội, quân đội và tiền tệ riêng. Bù lại, VNDCCH phải ở
lại trong Liên Bang Đông Dương và khối Liên Hiệp Pháp, phải chấp nhận cho Pháp
đổ 15 ngàn quân vào Bắc Kỳ là phần đất quân Pháp đă bị Nhật quét sạch mấy năm
trước đây. Tại sao hai bên lại kư một thoả hiệp không đầu không đuôi như thế?
Pháp cho rằng phải kư để Việt Nam không lọt vào tay Trung quốc. Trong khi Hồ
chính Minh kư v́ muốn mượn tay Pháp để đuổi quân Tàu và tin rằng sau 5 năm Pháp
sẽ rút khỏi toàn cơi Việt Nam và trao trả độc lập hoàn toàn cho Việt Nam. Đúng
sai đến mức nào?
Đánh Cạn Lán
Phóng tay kư HALONG.46 cho Pháp trở lại Bắc Việt, Hồ chí Minh
quả đă đánh ván bài liều, tự ḿnh lùi sát chân tường. Tương truyền rằng ngày
Pháp đổ bộ vào Hải Pḥng rồi lên Hà Nội, Pháp đă đ̣i VNDCCH phải treo cờ đón
chào họ. Hồ chí Minh cũng ch́u ư họ, ra lệnh cho treo cờ và bảo cán bộ giải
thích với dân chúng rằng đó là “để mừng ngày sinh nhật Bác Hồ.” Cũng tương
truyền rằng khi các đồ đệ của ông cằn nhằn ông chuyện mượn tay Pháp đuổi quân
Tưởng giới Thạch, Hồ chí Minh đă trả lời rằng: Nếu cần nếm phân Pháp mà đuổi
được Tàu th́ tôi cũng làm, không đuổi họ về th́ họ sẽ ở đây một ngàn năm nữa.
Thực hư những lời ấy thế nào, không thấy những văn kiện cung đ́nh xác nhận hay
phủ nhận. Cũng như không có tài liệu chính thức nào nói rằng một lư do khác
khiến Hồ chí Minh phải bằng mọi giá tống quân Lư Hán khỏi Việt Nam, v́ đạo quân
này ngoài việc giải giới Nhật c̣n bảo bọc những chính khách lưu vong quanh
Nguyễn hải Thần, Cường Đễ, Vũ hồng Khanh đang chờ được đưa lên làm vua như Lê
chiêu Thống ngày xưa vậy. Cho nên những nhẫn nhục của Hồ chí Minh quả thực đă
đưa đến hai kết quả lớn lao là mượn tay Pháp kư tờ thế v́ khai sinh cho VNDCCH
và xua quân Tàu trở về bên kia Ải Nam Quan. Nếu Hồ chí Minh có những ư đồ đó th́
cũng chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên, bởi Hồ chí Minh chỉ lặp lại cái quyết tâm “Nam
quốc sơn hà Nam đế cư” của tổ tiên, cũng như chỉ hành xử cái thực tế ưu tiên về
quyền lực cờ đến tay ai th́ người nấy phất. Ngô đ́nh Diệm, Nguyễn văn Thiệu có
dịp phất cờ th́ họ đă chia quyền cho ai? Bảo Đại, nhóm Caravelle và Tướng Nguyễn
cao Kỳ có lẽ là những kẻ có câu trả lời thiết thực nhất. Đáng tiếc cho Hồ chí
Minh là đuổi được quân Tưởng giới Thạch ngay, nhưng quân Pháp th́ phải mất thêm
8 năm, và chỉ đuổi khỏi Miền Bắc thôi. Bằng GENEVA.54.
Về câu hỏi chuyện ǵ sẽ xảy ra nếu HALONG.46 được hai bên
thừa nhận, Theodore Draper đă trả lời thẳn thắn: “Nếu HALONG.46 được tôn trọng
th́ Việt Nam và thế giới hẳn đă thoát được cảnh máu đổ thịt rơi xót xa đ̣i đoạn
suốt một phần tư thế kỷ sau đó.” (Th. Draper - Abuse of Power, The Viking
Press, NY 1967). Draper thật sự cũng chỉ lặp lại nhận định của sử gia Ellen J.
Hammer mười năm trước đó: “Phía Việt Nam nổ súng trước, nhưng chính sách do các
viên chức Pháp ở Sài G̣n theo đuổi đă làm cho chiến tranh trở thành bất khả
kháng. Những viên chức này ngán trở từ đầu đến cuối việc thi hành HALONG.46. Họ
dựng lên một chế độ bù nh́n ở Nam Kỳ, đă phá hỏng hội nghị Fontainbleau, đă ra
lệnh “b́nh định” Hải Pḥng, và người Việt không c̣n mấy chút hi vọng là chính
sách của Pháp sẽ thay đổi.” (Ellen J. Hammer – The Struggle for Indochina
1940-1955, Stanford University Press, California 1956, tr. 188-189.)
Nỗi Oan Lịch Sử
Khoan kể đến những người thân Pháp, thân Tàu, thân Nhật thời
đó, những anh em song sinh với Hồ chí Minh là nhóm Trotskyst Đệ Tứ Quốc Tế cũng
lên án Hồ chí Minh thời khởi nghiệp chỉ nhắm mắt theo Stalin và Đệ Tam Quốc Tế,
hay theo Chủ Nghĩa Quốc Tế Vô Sản, mà không nghe ai
lên án Hồ chí Minh là “theo” Hoa Kỳ cả. Trong khi thực tế h́nh như là như thế.
Về điểm này, có thể nói một lần nữa, Hồ chí Minh lại đánh ván bài liều với người
mà sau này đă thế chân Pháp để trở thành kẻ thù của ông. Đó là chính quyền Hoa
Kỳ!
Những quan hệ của Hồ chí Minh với Hoa Kỳ thời khởi nghĩa,
việc ông nhắc đến tuyên ngôn độc lập của Hoa Kỳ trong tuyên ngôn độc lập của
VNDCCH, việc ông yêu cầu Hoa Kỳ can thiệp để bảo vệ nền độc lập của Việt Nam sau
khi VNDCCH khai sinh vân vân là những sự kiện lịch sử minh bạch. Và một lần nữa,
phải nhận là Hồ chí Minh đi đúng nước cờ, đă liều đúng chỗ, bất kể là Hồ chí
Minh thật ḷng hay không. Người mà Hồ chí Minh trông cậy lúc đó, không phải
Stalin, không phải Tưởng giới Thạch và dĩ nhiên lại càng không phải là Mao trạch
Đông, hoặc Đảng Cộng Sản hay Đảng Xă Hội Pháp. Người mà Hồ chí Minh trông cậy
lúc đó chính là Tổng Thống Hoa Kỳ Franklin Delano
Roosevelt, người từng xác quyết trong hội nghị Yalta là ông muốn dẹp các đế quốc
Âu châu, nhất là đế quốc Pháp, rằng Đông Dương là con ḅ sữa mà Pháp đă “vắt sữa
cả trăm năm nay rồi” và Pháp nên trao trả độc lập cho Đông Dương và giao cho
Liên Hiệp Quốc đang thành h́nh trông coi theo chế độ bảo hộ - trusteeship. (Gore
Vidal - Dreaming War, Thunder’s Mouth Press, NY 2002, tr. 132.)
Đó là điều mà F. D. Roosevelt muốn thực hiện cho Đông
Dương, nhất là Việt Nam, khi chưa có cảnh cơm không lành canh không ngọt giữa
Hoa Kỳ với Stalin và khi chiến tranh lạnh giữa một bên là Hoa Kỳ-Anh, một bên là
Nga-Hoa chưa định h́nh.
Việt Nam sẽ ra thế nào nếu HALONG.46 được tôn trọng thực hiện
theo đúng tinh thần đó? Sẽ như thế nào nếu văn kiện đó được thi hành th́ không
ai biết, nhưng đă như thế nào khi văn kiện đó không được thi hành th́ ai cũng đă
rơ.
Cha Đẻ Của Chiến Tranh Lạnh
Một lần nữa oan khiên lại xảy đến cho
Việt Nam. Trước tiên cho dân Việt. Thật vậy, TT Roosevelt
đẩy trục Đức-Ư-Nhật đến chỗ thảm bại, nhưng ông không đánh
bại được con ma bệnh và thần chết. Năm 1944, ông vừa bỏ ngoại lệ TT chỉ tại chức
hai nhiệm kỳ thôi và tái ứng cử rồi đắc cử thêm nhiệm kỳ thứ ba. Vừa tại chức
được một năm th́ Roosevelt đột ngột từ trần, Phó TT Harry Truman lên kế vị. Giấc
mộng của Hồ chí Minh dựa vào Hoa Kỳ để củng cố độc lập dân tộc tan theo mây bay.
Có lẽ v́ bao nhiêu năm trong cương vị làm phó, Harry Truman
thật chẳng khác ǵ một anh tà lọt ngớ ngẩn ngột ngạt trong hào quang của
Roosevelt, nên khi quyền hành lọt vào tay, phản ứng của Truman là quyết “thầy
làm thầy, tṛ đốt sách”, đảo ngược tất cả đường lối chính sách đối ngoại của
Roosevelt. Roosevelt xem Nga như đồng minh th́ Truman xem Nga như một bá quyền
thù nghịch. Roosevelt chống đế quốc th́ Truman ủng hộ thực dân. Roosevelt ủng hộ
cuộc chiến dân chủ tự do chống độc tài phát-xít th́ Truman phát động thánh chiến
với chiêu bài ngăn chận chủ nghĩa bành trướng của Nga.
Truman là cha đẻ của Chiến Tranh Lạnh, nhưng trước khi khởi
sự chiến tranh này, Truman đă cho thế giới biết ông sẵn sàng mạnh tay đẩy mạnh
chiến tranh nóng tới cùng. Thế nên, tám tháng sau khi ngồi vào ghế TT, Truman đă
cho một dân tộc Á châu nếm thử vũ khí tối hậu, bằng cách ra lệnh ném bom nguyên
tử xuống Nhật, không chỉ một quả mà là liên tiếp hai quả, quả đầu vào ngày
6/8/45 xuống Hiroshima, quả thứ hai xuống Nagazaki ba ngày sau. Đó là một hành
động thị uy quá trớn v́ quả thực vào thời điểm đó, Nhật đă kiệt quệ chỉ cần lảnh
một quả cũng phải đầu hàng thôi. Lại nữa, có ư kiến cho rằng Hoa Kỳ chỉ nếu
khủngbbố tinh thần Nhật, Hoa Kỳ chỉ cần ném một quả xuống miệng núi lửa Phú Sĩ
đă tắt th́ cũng đủ khiến Nhật phải buông súng rồi. Nhưng Truman không quan tâm
mất thời giờ chờ Nhật thấm đ̣n. (Gore Vidal – sdt. tr. 126). Tổng số dân
của hai thành phố bị ăn bom thời đó là 555 ngàn. Số chết và bị thương là 287
ngàn, chưa kể số chết lần chết ṃn về sau v́ nhiễm phóng xạ. Cũng xấp xỉ 10 phần
chết 7 c̣n 3 như sấm Trạng Tŕnh. Xót xa bi hài hơn nữa là Nagazaki. Đây là hải
cảng được mở cửa đầu tiên để Nhật đón nhận những tưởng Tây phương trong đó có
Ki-Tô giáo. Nagazaki là nơi Ki-Tô giáo bắt rể vào Nhật, là thánh địa, là Rome
của Ki-Tô giáo Nhật.
V́ chủ trương chống đế quốc của Roosevelt bị Truman dẹp xó
nên vấn đề độc lập cũng không đáng kể nữa, nhường chỗ cho chủ trương chống Nga
Xô với khẩu hiệu chống chủ nghĩa bành trướng của cộng sản. Hậu quả là ngày trước
Roosevelt không đồng ư cho Pháp trở lại Đông Dương th́ Truman tiếp tay cho Pháp
tái chiếm Việt Nam với lập luận Trung quốc là chư hầu của Nga, Việt Nam là chư
hầu của Trung quốc. HALONG.46 mặc nhiên bị Truman khai tử để bật đèn xanh cho
quân Pháp xâm chiếm Hải Pḥng Hà Nội, bật đèn xanh cho Đô Đốc d’Argenlieu tự
tung tự tác ở Sài G̣n, dồn Vơ nguyên Giáp ở Hà Nội và Trần văn Giàu ở Sài G̣n
vào thế không thể không nổ súng.
Từ Hiệp Định Sơ Bộ Đến Thỏa Ước
Geneva
Thế là cuộc kháng chiến thứ nhất bùng nổ. Năm 1949, Pháp biến
Bảo Đại thành lá bài “quốc gia” để chống “cộng sản”. Bảo Đại đă thoái vị bốn năm
trước nên không thể gọi là vua hay hoàng đế nữa mà phải có một tên khác. Chef
d’état, quốc trưởng. “Quốc gia” ở đây chỉ là đất cắm dùi của quốc trưởng chứ
không liên hệ ǵ đến tổ quốc, dân tộc, nước nhà, sông núi, non sông…Điều này
giải thích tại sao một số người “quốc gia” lại rất kỵ chữ dân tộc, tổ quốc. Điều
này cũng giải thích tại sao số người quốc gia cực đoan lại có thể quả quyết
chống cộng sản v́ cộng sản vô thần, vô tôn giáo chứ không phải v́ tổ quốc, dân
tộc v́ với họ th́ “Thà mất nước không thà mất Chúa”. Luận điệu chống cộng sản vô
thần này được một số người tự động vô thức nhai lại như bị quỷ ám, không hề tự
hỏi tại sao Marx, Lenin, Stalin và lănh tụ các chư hầu của Nga Xô “ác ôn côn đồ
vô thần vô đạo đàn áp tôn giáo” như thế nào mà nước Nga sau 72 năm dưới chế độ
cộng sản, và các chư hầu như Bulgaria, Poland, Romania… sau 44 năm cam phận chư
hầu của Nga Xô, nước nào cũng c̣n trên 70, 80 phần trăm Ki-Tô giáo hay Chính
Thống giáo?
Pháp dùng chiêu bài chống cộng sản để chọi Hồ chí Minh th́ Hồ
chí Minh dùng ước vọng độc lập dân tộc để chống lại Pháp. Hoa Kỳ tiếp tay cho
Pháp, v́ dưới mắt Truman và tiếp đó là Eisenhower, thực dân dù sao cũng hay hơn
cộng sản. Hay nói như Phó TT Henry Wallace ngày 3/3/47: Với chúng ta, không có
chính thể nào là quá phản động nếu chính thể đó chống lại sự bành trướng của Nga.
Cái giá của chính quyền Hoa Kỳ đă bỏ ra để bao dàn cho Pháp chống cộng ở Việt
Nam là 2.6 tỉ MK vừa viện trợ kinh tế vừa quân sự, nghĩa là hơn 80% chiến phí
cho Pháp ở Đông Dương.
Dĩ nhiên, khi nhận viện trợ, Pháp đă cam đoan với Hoa Kỳ là
sẽ giữ vững con domino Việt Nam trước làn sóng đỏ, cũng như khi moi tiền thuế
của dân Hoa Kỳ bỏ ra cho Pháp đánh nhau, chính quyền Truman cũng tin, và đem
ḷng tin đó ra trấn an dân Hoa Kỳ rằng Pháp sẽ chiến thắng. Bằng chứng là khoảng
tháng 6/52, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Dean Acheson quả quyết: T́nh h́nh quân sự diễn
tiến có vẻ thuận lợi…Đà xâm lược đă bị chặn đứng và những tín hiệu mới đây cho
thấy chiều hướng đang đổi thay thuận lợi cho ta. Tháng 12/53, Thứ Trưởng Ngoại
Giao đặc trách Viễn Đông Vụ W.S. Robertson cam đoan cơn triều ở Đông Dương đă
đổi hướng. Tháng 2/54, Bộ Trưởng Quốc Pḥng Charles E. Wilson bảo rằng Pháp
thắng trận là điều khả thi và khả hữu. Cũng trong tháng đó, Thứ Trưởng Ngoại
Giao W. B. Smith thông báo rằng t́nh h́nh quân sự ở Đông Dương rất thuận lợi. Về
phương diện chiến thuật, vị trí của Pháp vững chắc và các sĩ quan ngoài chiến
trường có vẻ tin tưởng ḿnh đủ sức đối phó với t́nh h́nh. Tháng 3/54, Tham Mưu
Trưởng Liên Quân Đô Đốc A.W. Radford tuyên bố thẳng thừng: Pháp đang thắng trận.
Trong khi Ngoại Trưởng Dulles ca tụng chiến binh Pháp ở Điện Biên Phủ đang viết
một trang quân sử đáng kể, và ông không tin cộng sản sẽ thắng ở Đông Dương.
Tháng 3/54, chiến trận Điện Biên chính thức bùng nổ lớn. Hoa
Kỳ muốn can thiệp để giải vây cho Pháp, ngay cả bằng bom nguyên tử, nhưng Anh
không chịu với lư do dễ hiểu Anh đă nhả Ấn Độ th́ tại sao phải tiếp sức cho Pháp
ngậm cứng Đông Dương. Hai tháng sau - ngày 7/5/54 th́ Điện Biên Phủ thất thủ,
kéo toàn bộ hệ thống quân sự của Pháp sụp đổ theo. Pháp bắt đầu co cụm, rút khỏi
các tỉnh phía Nam Bắc Việt, quan trọng nhất là Phát Diệm, Bùi Chu, Ninh B́nh,
Thái B́nh, những đặc khu chống Việt Minh của Pháp ở Bắc Việt.
Ngày 8/5, hội nghị Berlin bàn về ḥa b́nh ở Cao Ly vừa kết
thúc, th́ Mỹ, Anh, Pháp và Nga lại quyết định chuyển qua họp tiếp ở Geneva để
bàn về ngưng chiến ở Đông Dương trong một hội ghị mở rộng có Trung Hoa, Ấn, các
phe Đông Dương tham dự. Hội nghị này chia thành hai phe rơ rệt Nga Xô và Trung
quốc một bên để kềm Việt Minh. Bên kia là Hoa Kỳ, Anh vừa để kềm Pháp, vừa để
chính quyền của Quốc Trưởng Bảo Đại và Thủ Tướng Ngô đ́nh Diệm vừa mới nhậm chức
ngày 7/7/54. Ngày 20/7 ḥa hội Geneva kết thúc bằng một thỏa hiệp ngưng chiến và
những tuyên bố hứa hẹn mơ hồ về việc “tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất
và toàn vẹn lănh thổ của nhân dân Việt Nam, Campuchia và Lào, quy định quân đội
Pháp rút khỏi các nước Đông Dương và ở mỗi nước Đông Dương sẽ tổ chức tổng tuyển
cử tự do để thống nhất đất nước.” (Viện Sử Học - Việt Nam Những Sự Kiện
1945-1986, NXB KHXH, Hà Nội 1990, tr.93). Dù chỉ là những hứa hẹn mơ hồ, Hoa
Kỳ và chính quyền Ngô đ́nh Diệm vẫn không chịu chính thức hứa hẹn. Bởi Hoa Kỳ và
Ngô đ́nh Diệm đă tính sẽ vĩnh viễn cắt đôi Việt Nam và biến Miền Nam thành một
nước “quốc gia” đối đầu với nước “cộng sản” ở Miền Bắc.
Từ Geneva Đến Paris
Hoa Kỳ hướng về Vatican và tay chân của Vatican tại Việt Nam
là Công giáo hay Gia-Tô giáo hay Ki-Tô giáo để thành lập nước “quốc gia chống
cộng” ở Miền Nam. Kẻ xác nhận chuyện đó là Ngô đ́nh Nhu khi ông quả quyết “trong
số một triệu dân di cư từ Bắc vào Nam có đến 700.000 là tín đồ Gia-Tô” (Ngô đ́nh
Nhu - Vi Phạm Nhân Quyền tại Miền Nam Việt Nam - Báo Cáo của Phái Đoàn Điều
Tra Liên Hiệp Quốc về Vụ Đàn Áp Phật Giáo 1963 - Vơ đ́nh Cường dịch, Hùng
Khanh xuất bản, Sài G̣n 1966, tr.54.). V́ có sẵn lực lượng ṇng cốt đó, nên Đệ
Nhất Cộng Ḥa không những không cần các tôn giáo khác để chống cộng. Trái lại,
nếu các tôn giáo đó không chịu thần phục sẽ bị trừng trị ngay. Đầu tiên là Ḥa
Hảo, rồi Cao Đài và tiếp đến là Phật giáo. Phải chăng v́ Hoa Kỳ và Vatican chủ
trương hốt hết công giáo Miền Bắc vào Nam nên sau 1954, công giáo Miền Bắc coi
như bị triệt tiêu, “cộng sản vô thần khát máu” chẳng cần phải mất công chiếu cố
trong khi ở Miền Nam công giáo ngày một lớn mạnh từ trên 3% năm 1954 đă lên đến
gần 7% năm 1963?
Năm 1973, Hoa Kỳ phải chịu bỏ cuộc tại Miền Nam nên lập
trường ‘chống quỷ đỏ vô thần’ của Vatican cũng thay đổi theo. Sự đổi thay này
xảy ra ít ra cũng từ tháng 4/73 như Nguyễn bá Cẩn, vị Thủ Tướng cuối cùng của
Đệ Nhị Cộng Hoà tiết lộ: Ngày 2/4/73, TT Thiệu đến San Clemente gặp TT Nixon và
được Nixon long trọng hứa hẹn Hoa Kỳ tiếp tục viện trợ TT Thiệu rất phấn khởi
nhưng trên đường về ghé La Mă triều kiến Đức Giáo Hoàng Paul VI th́ TT Thiệu
được biết thánh ư của Giáo Hoàng là con chiên
Việt Nam phải ‘accomodation’, nghĩa là đừng chống cộng nữa, hăy “thích nghi” với
chế độ mới mà giữ lấy đạo. Cũng v́ Vatican đă muốn như thế nên ‘Công giáo xưa
nay là một đoàn thể cực hữu đóng vai tṛ cột trụ trong hàng ngũ chống Cộng của
miền Nam, nay đang chuyển động 180 độ.’ (Nguyễn bá Cẩn - Đất Nước Tôi,
Hoa Hao Press, Maryland 2003, tr. 285 và 382.) Đáng ngạc nhiên cho ông Thủ Tướng
này là biết rơ Công giáo đă trở cờ như thế nhưng trong nội các ông thành lập lại
có không ít tín đồ thuần thành cốt cán kể cả Linh Mục Hoàng Quỳnh và Linh Mục
Cao văn Luận (Nguyễn bá Cẩn - sdt, tr. 392-394.)
Trong cuộc di tản hộc tốc năm 1975, v́ Hoa Kỳ và Vatican
không cần người công giáo để chống cộng nữa cho nên danh sách ưu tiên đưọc Mỹ
định bốc là những người làm cho Mỹ bất kể tôn giáo nào chứ không phải công giáo.
Lại nữa, nếu có ưu tiên th́ Hoa Kỳ đă dành ưu tiên đó cho một số đồng bào sắc
tộc thiểu số như Hmong, Rhadé từng cộng tác chặt chẽ với Hoa Kỳ trong việc đánh
phá đường ṃn HCM ngày xưa, và trong tương lai có thể c̣n hữu dụng khi lá bài
Fulro được xử dụng để gây bất ổn ở Cao Nguyên. Hậu quả là số người công giáo lọt
ra được ngoại quốc chỉ khoảng 24% chứ không phải 75% như năm 1954 nữa trong đó,
một số rất ít do Mỹ bốc, hai là những người liều tự động ra đi may rủi, thứ ba
là những kẻ ra đi được nhờ canh me canh băi.
Năm 1954, cứ bốn người di cư vào Nam th́ có ba người công
giáo, năm 1974 cứ bốn người chạy ra ngoại quốc th́ chỉ có chưa đầy một người
công giáo. Tuy ít oi như vậy, nhưng ở nước ngoài, số này đă chủ động tất cả sinh
hoạt chính trị nổi nhân danh quốc gia chống cộng. Họ là những chuyên viên hóa
trang thượng thặng, đóng đủ vai tṛ, nhưng tất cả đều nhắm vào ít ra bốn mục
đích sau đây. Một, chạy tội đă tiếp tay đắc lực cho Pháp và Hoa Kỳ. Hai, chạy
tội đă làm mất Miền Nam v́ đă đấu thầu độc quyền chống cộng nhưng lại cũng độc
quyền “tránh gian nguy tranh công đầu”. Ba, bán buôn thù hận để tiếp tục một chế
độ Diệm-không-Diệm, Thiệu-không-Thiệu để huyễn hoặc người nhẹ dạ ở ngoài nước
cũng như trong nước. Bốn, để làm áp lực yễm trợ cho Vatican mặc cả quyền lợi với
chính quyền Việt Nam hầu tái lập những đặc quyền đặc lợi ngày xưa.
Domino và Cờ Tướng
Nếu HALONG.46 mở đường cho Pháp trở lại Việt Nam th́ thỏa ước
Geneva cũng đă mở đường cho Hoa Kỳ vào Việt Nam thay thế Pháp dựng lên VNCH làm
đối lực với VNDCCH.
Để xây dựng VNCH thành một con domino giữ nhiệm vụ một tiền
đồn của ‘thế giới tự do’, Hoa Kỳ đă bắt đầu từ chỗ Pháp thất bại đó là xây dựng
một tầng lớp thư lại làm ṇng cốt cho chính sách lấy người Việt trị người Việt.
Tầng lớp thư lại của Pháp là phú hào và thành phần có học, đáng kể nhất là bác
sĩ và luật sư. Thời Pháp, học luật xong không phải để ra làm luật sư thực thi
công lư, nhưng là để đi làm Tri Phủ, Tri Huyện, Đốc Phủ Sứ tay sai cho các quan
thực dân ở cấp quận. Bản chất của tầng lớp thư lại mà Hoa Kỳ chú trọng đến là
tôn giáo, đúng ra là công giáo, v́ Hoa Kỳ chưa có điều kiện để đào tạo thành
phần tôn giáo gần gũi với ḿnh là Tin Lành thời đó c̣n thưa thớt. Chính Ngô đ́nh
Nhu xác nhận Tin Lành phát triển được ở Miền Nam là ‘nhờ thế lực Mỹ’ (Ngô đ́nh
Nhu - sdt, tr.59.) Tín đồ công giáo đă được Giáo Hoàng Pius XII và guồng
máy cai trị của Vatican động viên toàn diện vào Chiến Tranh Lạnh. Chẳng phải v́
Vatican chống độc tài, bằng chứng là Pius XII thân Hitler đến độ đă được các sử
gia gọi là Giáo Hoàng của Hitler (John Cornwell – Hitler’s Pope, The Secret
History of Pius XII, Viking, London 1999). Thực chất cuộc chiến giữa Vatican
và Nga Xô cũng chẳng phải là giữa hữu thần và vô thần, mà là cuộc chiến truyền
kiếp giữa Công giáo Vatican với Chính Thống giáo của Nga.
Năm 1954, Hoa Kỳ nhảy vào mặc nhiên thừa nhận một nước
VNDCCH ở Miền Bắc, để đổi lấy Việt Minh phải chấp nhận ngưng bắn và gom quân vào
nửa phần lảnh thổ phía Bắc, chứ không thừa thắng xông lên chiếm trọn Việt Nam.
Hoa Kỳ, Nga và Trung Hoa đều gặp nhau ở điểm nay. Thời gian sẽ trả lời xem có
một ưuớc thành văn nào về điểm này không. Đây là một giải pháp tương tự như giải
pháp đă áp dụng để ngưng bắn và chia cắt Cao Ly năm trước và hội nghị Geneva là
để chính thức hóa giải pháp đó. Điều này đă được Việt Nam và Pháp giải quyết chi
tiết qua Hội Nghị Trung Giá gần Thái Nguyên từ ngày 4 đến 27/7/54. Nói thế khác,
có thỏa ước ngưng bắn Geneva hay không th́ Pháp và VNDCCH cũng đă quyết định
ngưng bắn và khu quân.
Cho nên, Hoa Kỳ thay Pháp không phải để thu hồi lại Miền Bắc
đă mất, hay tính chuyện tương lai lật đổ chế độ ở Miền Bắc ‘đem dân chủ tự do
đến’ cho dân Miền Bắc như Hoa Kỳ đang làm ở Iraq. Hoa Kỳ thay Pháp chỉ để có
điều kiện biến Miền Nam thành một con domino mới chống Nga với chư hầu lớn Trung
quốc và chư hầu nhỏ là VNDCCH. V́ vừa tự ti, vừa mê tín vào đường lối ‘chống
cộng sản độc tài’ của Hoa Kỳ và ‘chống quỷ đỏ vô thần’ của Vatican nên một số
người Việt đă quên chủ trương căn bản của Hoa Kỳ là đánh đổi việc ngưng bắn với
việc mặc nhiên thừa nhận VNDCCH ở Miền Bắc, tương tự như Hoa Kỳ đă đánh đổi việc
Nga rút những hỏa tiễn khỏi Cuba với việc mặc nhiên thừa nhận chế độ của Fiel
Castro. Hoa Kỳ có hoạt động biệt kích phá hoại ở Miền Bắc th́ cũng chỉ là để
‘trả đũa’ những phá hoại của Miền Bắc ở Miền Nam. Đến khi Ngô đ́nh Diệm không
làm trọn chức năng đối trọng ấy nữa th́ Hoa Kỳ bỏ Diệm để tự ḿnh làm việc đó
bằng oanh tạc và phong tỏa sau năm 1964. Và ngay cả khi Hoa Kỳ ồ ạt leo thang
đánh Miền Bắc như thế, Hoa Kỳ cũng không hề nghĩ đến chuyện vượt vĩ tuyến 17 đổ
bộ ra Bắc để lật đổ chế độ VNDCCH hay nhắm mắt cho các tướng lănh Miền Nam thử
làm chuyện ấy.
Năm 1945, Pháp trở lại tự tung tự tác thành lập Việt Nam
“quốc gia” dùng tiền bạc súng đạn của Hoa Kỳ để chống Việt Minh “cộng sản”. Chín
năm sau th́ Pháp bỏ của chạy lấy người, giao nửa Việt Nam cho VNDCCH đánh đổi tù
binh và an toàn rút lui. Năm 1954, Hoa Kỳ
nhảy vào thế chân Pháp, biến Miền Nam thành Việt Nam Cộng Ḥa đích thân bỏ tiền
bạc súng đạn ra cho Ngô đ́nh Diệm chống cộng. Sau chín năm - năm 1963 - mới thấy
Ngô đ́nh Diệm không làm được việc nên dứt Diệm luôn để tự ḿnh lo liệu lấy. Lại
phải thêm chín năm nữa, Hoa Kỳ mới thú nhận chính ḿnh cũng không hơn ǵ cho nên
lại tính chuyện bỏ của chạy lấy người bằng hội đàm Paris. Hiệp Định Paris, xét
cho cùng cũng là một thỏa ước ngưng bắn - ngưng bắn da beo - để Hoa Kỳ nhận tù
binh rồi rút như thỏa ước Geneva năm 1954. Hoa Kỳ đơn phương hành động ở Việt
Nam, nhưng đối đầu với Hoa Kỳ là một nhóm đa tạp từ Trung Hoa, Nga, đến Pháp, Ấn
Độ, Nhật…Nói thế khác, bàn cờ Đông Dương – cũng như riêng Việt Nam – là một bàn
cờ tướng chứ không phải là một ván domino, nên thắng một con chưa chắc đă thắng,
thua một con chưa chắc đă thua. Đến đầu những năm 1970, h́nh như Nixon và
Kissinger mới nhận ra điều đó. Nhưng đă muộn.
Tham Vọng Viết Lại Lịch Sử
Như vậy, HALONG.46 công nhận sự hiện hữu của VNDCCH, thỏa ước
Geneva giao cho VNDCCH nửa nước, hiệp định Paris giao cho VNDCCH nửa nước c̣n
lại. Suốt ba mươi năm, VNDCCH đi từ thành công không trọn vẹn này đến thành công
dở dang khác. Năm 1946, Hồ chí Minh bị tố cáo vi phạm HĐSB, năm 1954 bị lên án
phản bội thỏa ước ngưng bắn Geneva, năm 1973 các người thừa kế ông bị tố cáo là
vi phạm hiệp đ́nh ḥa b́nh Paris. Ồn ào nhất là những người quốc gia chống cộng
mà tiêu biểu cập nhật hóa nhất có lẽ là của Luật Sư Nguyễn hữu Thống cho rằng Hồ
chí Minh ba lần kư, ba lần phản bội v́ Hồ chí Minh:
‘1. Kư
Hiệp Ước Sơ Bộ Sainteny tháng 3-1946 nhờ Pháp tống xuất quân đội Trung Hoa để
thanh toán các đảng phái quốc gia như Quốc Dân Đảng và Đồng Minh Hội. Sau đó lại
phát động Chiến Tranh Đông Dương Thứ I (1946-1954).
2. Kư
Hiệp Định Đ́nh Chiến Geneva tháng 7-1954 để tống xuất Pháp và cướp chính quyền
tại Miền Bắc. Sau đó lại phát động Chiến Tranh Đông Dương Thứ II để thôn tính
Miền Nam.
3. Kư
Hiệp Định Ḥa B́nh Paris tháng 1-1973 để tống xuất Mỹ. Hai năm sau, khi Hiệp
Định c̣n chưa ráo mực, lại trắng trợn vi phạm hiệp định bằng tổng tấn công vơ
trang để thôn tính Miền Nam, đồng thời hạ nhục 13 quốc gia kết ước và đứng ra
bảo đảm Hiệp Định, đặc biệt là Hoa Kỳ.
Bằng
những hành động trí trá, coi thường chữ kư và danh dự quốc gia, Đảng Cộng Sản
Việt Nam đă đưa đất nước ra khỏi cộng đồng nhân loại văn minh. Đồng thời dạy cho
các thế hệ thanh niên nam nữ những thủ đoạn gian manh, quỷ quyệt làm suy đồi văn
hóa đạo lư và sa đọa con người đến cả trăm năm về sau.
50 năm
nh́n lại chúng ta không khỏi ngậm ngùi: Đại hạnh của Ấn Độ là có một Gandhi theo
Chủ Nghĩa Dân Tộc. Đại bất hạnh của Việt Nam là có một Nguyễn Ái Quốc theo Chủ
Nghĩa Quốc Tế Vô Sản.’
Tôi phải
trích dẫn nguyên văn dài ḍng như thế v́ có thể nói ư nghĩ và lời lẽ của LS
Nguyễn hữu Thống tiêu biểu cho một nhóm tạp nhạp với những đại diện chính thức
của thế hệ thứ nhất như Lâm lễ Trinh, Tôn thất Thiện, Trần văn Lắm, Nguyễn cao
Hách, Trương tiến Đạt, Sơn Điền Nguyễn viết Khánh hay thế hệ thứ hai như Bùi
Diễm, Nguyễn bá Cẩn, Nguyễn văn Chức, Nguyễn xuân Vinh, Cao thế Dung, Nguyễn gia
Kiểng, Trần dạ Từ, Đoàn viết Hoạt. Cộng thêm những người bất măn như Bùi Tín,
Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, hay một số người c̣n thống hận chuyện Cải
Cách Ruộng Đất, Nhân Văn Giai Phẩm, Mặt Trận DTGPMN….Đặc trưng của thế hệ chống
cộng thứ nhất và thứ hai này là thỉnh thoảng đ̣i chính quyền Việt Nam phải xóa
hết rồi rút về bên kia vỉ tuyến 17, hay khu quân theo bản đồ ngưng bắn Da Beo
rồi tái lập hội đàm Geneva, hội đàm Paris để tổ chức tổng tuyển cử dưới sự giám
sát quốc tế. Nhưng giả dụ, nếu chính quyền Việt Nam hôm nay chịu làm chuyện đó
th́ họ sẽ ngồi vào bàn hội nghị với ai đây? Dĩ nhiên là với LS Nguyễn hữu Thống,
nhưng LS Nguyễn hữu Thống đại diện cho ai ngoài chính ông?
Lâu nay đang
có phong trào chuẩn bị kỷ niệm 30 năm -1975-2005- Việt Nam ḥa b́nh, thống nhất,
độc lập, phe nhóm trên đang mở chiến dịch phục hồi “tinh thần quốc gia” mà tiêu
biểu là Ngô đ́nh Diệm và phủ nhận thành tích thực hiện ḥa b́nh độc lập thống
nhất mà Hồ chí Minh là kẻ có công đầu. LS Nguyễn hữu Thống đă phủ nhận công lao
của Hồ chí Minh chỉ v́ ông đă theo chủ nghĩa Quốc Tế Vô Sản chứ không theo chủ
nghĩa Dân Tộc’ như Gandhi. Nhưng LS Nguyễn hữu Thống lại không chịu nói rơ nếu
Hồ chí Minh theo chủ nghĩa Dân Tộc như Gandhi th́ Hồ chí Minh phải làm ǵ sau
khi kư các hiệp định năm 1946, 1954, 1972 mà không bị LS Nguyễn hữu Thống lên án
là đă có ‘những hành động trí trá, coi thường chữ kư và danh dự quốc gia’?
Những Chữ Nếu Oan Nghiệt
Tôi chưa quên được nét mặt u sầu đôi mắt xao xuyến hốt hoảng
cùng tột của Chris sáng ngày 30/4/75 khi nghe TT Dương văn Minh tuyên bố đầu
hàng. Hai chị em Chris theo mẹ chạy vào Nam năm 1954 lúc Chris 15 tuổi. Trong
thời gian Hà Nội c̣n mở cửa cho chạy, bà cụ đă bán hết đồ đạc quyết định bồng bế
hai con ra đi thay v́ chờ ông cụ đang ở bên phe chiến thắng trở về. Đến phút
chót nghe tin tức sao đó, bà cụ lại đổi ư không đi nữa, lại mua sắm đồ đạc để
dùng…Sau ba lần bán rồi lại mua, mua rồi lại bán như thế, cuối cùng bà cụ quyết
chạy vào Sàig̣n. Những hộc tốc, hoảng hốt, căng thẳng của 20 năm trước giờ đang
sống dậy. Chris rưng rưng ấm ức: “Bố khỉ! năm 1954 sao không tiến lên lấy luôn
Sài g̣n cho người ta khỏi chạy.” Thời ấy, Chris c̣n nhỏ, gia đ́nh sợ th́ sợ theo,
thân nhân lo th́ lo theo, hoảng loạn th́ hoảng loạn theo, chạy th́ chạy theo.
Năm 1954, Chris c̣n ở với mẹ nên mẹ bảo sao nghe vậy, năm 1975 đă xuất giá ṭng
phu nên Chris để tôi quyết định. Và tôi quyết định không chạy, với lư do đơn
giản là đă ngồi xem vở tuồng dài gần 20 năm, màn chót đang diễn ra, đứng lên bỏ
đi th́ uổng quá. V́ tôi ham vui như vậy nên hơn hai mươi năm trước, gia đ́nh đă
lôi Chris chạy vào Nam, bây giờ lại sắp đụng mặt với những kẻ gia đ́nh ḿnh
không muốn gặp. Bảy năm sau, ba mẹ con Chris mới thoát lần nữa đến Thái Lan rồi
sang Hoa Kỳ. Tội nghiệp hơn nữa là chắc chắn không phải chỉ ḿnh Chris nghĩ như
thế.
Bao giờ nghĩ lại phút giây đó, tôi cũng cảm thấy hiểu và
thương Chris hơn cuộc đời mấy lần tất tả. Bi hài hơn nữa là mẹ con Chris chẳng
có nợ máu với ai mà cũng chẳng mắc nợ máu của ai. Chưa kể là chế độ nào h́nh như
cũng “mắc nợ” chúng tôi v́ đă để cho Chris ba lần thân c̣ lặn lội bờ sông đi
thăm nuôi tôi ở tù, thời đệ nhất cộng ḥa, thời đệ nhị cộng ḥa và thời cộng ḥa
xă hội chủ nghĩa. Tôi chỉ phân vân không biết có nên v́ đó mà theo Chris để hờn
trách Việt Minh năm 1954, sao lại dừng ở vỉ tuyến 17 khiến cho Chris phải chờ
đến 20 năm để thấy rằng chung cuộc chạy trời cũng không khỏi nắng? Phải rồi, nếu
năm 1954, bà cụ không dắt d́u chị em Chris vào Nam? nếu năm 1954, Chris để cho
mẹ và chị đi thôi c̣n ḿnh ở lại đợi bố th́ chuyện ǵ xảy ra cho gia đ́nh này
đây?
Nếu…? Nếu…? Thế hệ chúng tôi thăng trầm theo những đột biến
của t́nh h́nh thế giới, với bao nhiêu chữ “Nếu”. Và thường là những chữ “nếu”
trớ trêu oan nghiệt, buồn vui hoạ phúc may rũi tṛng tréo oan khiên. Thật vậy,
Nếu đệ nhị thế chiến không bùng nổ?
Nếu Nhật không chiếm Đông Dương?
Nếu Mặt Trận Phản Đế Đông Dương không đổi thành Mặt Trận Việt
Nam Độc Lập Đồng Minh - gọi tắt là Việt Minh, là Vẹm - để nhân danh toàn quốc
chống Pháp dành độc lập?
Nếu không có các hội nghị Casablanca 1943, Potsdam 1945,
Yalta 1945 giữa các đồng minh Hoa Kỳ, Nga, Anh đang trên đà chiến thắng để chia
quyền lợi và trách nhiệm trên thế giới một khi Đức, Nhật, Ư bị đánh bại?
Nếu Nhật không triệt hạ chính quyền bảo hộ Pháp rồi phải đầu
hàng 5 tháng sau đó, tạo nên một khoảng trống chính trị cho Việt Minh lấp đầy
bằng chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa sau một loạt khởi nghĩa?
Nếu quân của Tưởng giới Thạch không tràn xuống tận Trung Việt,
quân Anh Ấn của Tướng Gracey không đổ bộ vào Sài G̣n để giải giới quân Nhật,
tháo cũi sổ lồng cho 5.000 tù binh Pháp đang bị Nhật giam giữ rồi tái vơ trang
cho đám này chiếm lại Sài G̣n… th́ hẳn cũng không có HALONG.46 giữa Hồ chí Minh
đại diện VNDCCH và Jean Sainteny đại diện Đệ Tứ Cộng Ḥa Pháp.
Nói thế khác, phải chăng nếu Nhật không cướp chính quyền Pháp
ở Việt Nam, nếu Nhật không đầu hàng và hơn nữa, Nhật không nhắm mắt cho Việt
Minh hành động th́ chưa chắc VNDCCH đă được khai sinh và do đó cũng chưa chắc đă
có cuộc chiến Pháp-Việt, và rồi cuộc chiến Mỹ-Việt với bao nhiệu cập lụy như gia
đ́nh và cá nhân chúng tôi đă trải qua?
Mù Ḷa Lịch Sử
Khởi đầu ghi lại những ư nghĩ này, Hoàng tôi không hề có ư
định viết về một giai đoạn ‘lịch sử’. Tuy tôi đă trích một vài cuốn sách, tuy
tôi đă dẫn một vài tài liệu. Nhưng đó thật ra chỉ là một thứ aide-mémoire, làm
bàn đạp cho những hoài niệm của tôi. Cũng như đa số thế nhân, Hoàng tôi đă vui
buồn sướng khổ v́ những sự kiện hôm nay được gọi là lịch sử. Nhưng lúc đầm ḿnh
trong những vui buồn sướng khổ v́ những sự kiện đó th́ tôi đâu có biết đó là
lịch sử? Và có thể có người đă chết đi rồi mà lịch sử vẫn chưa hiện h́nh.
Hoàng tôi vẫn nghĩ, sử học nói cho cùng chỉ là một thứ khảo
cổ, cung cấp những bài học từ chương cho những người thích chơi đồ cổ. Những bài
học vô bổ, bởi v́ không biết có phải Will Durant đă nói bài học lịch sử lớn nhất
là chẳng ai chịu học lịch sử cả? “Ai” đây có phải Durant muốn nói những nhà lănh
đạo?
Thật vậy, đất nước tôi đă trần thân v́ Chiến Tranh Lạnh, một
phần đồng bào tôi - trong đó có tôi - đă bị Hoa Kỳ lôi vào Chiến Tranh Lạnh như
tham dự vào một cuộc thánh chiến chống cộng- chữ của Chánh Đạo Vũ ngự Chiêu.
Nhưng mấy ai biết rơ bản chất của cuộc thánh chiến đó là ǵ? Và cho đến lúc nào
họ mới được biết? Gore Vidal kể rằng cương lĩnh của cuộc thánh chiến chống cộng
đó đă được đúc kết trong một văn kiện gọi là Tài Liệu số 68 của Hội Đồng
An Ninh Quốc Gia Mỹ năm 1950. Trong quyển hồi kư Present at the Creation
viết năm 1969, Dean Acheson, Ngoại Trưởng thời TT Truman đă xác quyết về văn
kiện đó nhưng không thể tiết lộ nội dung v́ văn kiện đó c̣n được luật pháp bảo
mật. Đến 1975 - nghĩa là khi con domino Miền Nam đă đổ, Chiến Tranh Lạnh ở phần
đất này coi như không c̣n, tài liệu đó mới được giải mật cho thấy cuộc thánh
chiến chống Nga do Hoa Kỳ phát động theo bảy điểm sau đây. Một, không bao giờ
thương thuyết với Nga Xô. Hai, phát triển bom khinh khí đề pḥng khi Nga có bom
nguyên tử th́ ḿnh vẫn hơn. Ba, nhanh chóng xây dựng lực lương quân sự cổ điển.
Bốn, để có tiền cho việc này th́ tăng thuế lợi tức cá nhân thật nặng, có thể đến
90%. Năm, vận dụng mọi người vào chiến tranh chống Cộng Sản quốc tế bằng tuyên
truyền, tuyên thệ trung thành và mạng lưới gián điệp. Sáu, thiết lập một hệ
thống liên minh mạnh dưới quyền chỉ huy của Hoa Kỳ - Liên Minh Bắc Đại Tây Dương.
Bảy, dùng tuyên truyền và hoạt động t́nh báo của CIA để biến công dân Nga thành
đồng minh để chống lại chính quyền của họ hầu biện minh cho những hoạt động t́nh
báo mật của ta.(Gore Vidal - sdt, tr. 123-124.) Tài Liệu số 68 là
một sử liệu hiển nhiên, nhưng trong số những người đă hy sinh, đă đau khổ, đă
chết, đă thân tàn mà dại hay vinh hoa phú quư nhờ Chiến Tranh Lạnh mấy ai biết
rơ thực hư? Và đến bây giờ biết thực hư th́ có học được bài học nào không? Xin
cứ hỏi TT Bush hôm nay th́ rơ.
V́ chẳng biết ǵ mà vẫn phải sống phải chết, phải buồn phải
vui nên một số đồng bào của Hoàng tôi đă cay đắng xót xa tự nhận ḿnh là nạn
nhân của Năm Không. Một, không biết tại sao phải đánh nhau (Pháp bảo đánh th́
đánh, Mỹ ưng đánh th́ đánh, vậy thôi.) Hai, không biết tại sao thua (trên một
triệu tay súng Việt Nam và hơn nửa triệu quân Mỹ cộng thêm quân đồng minh, cộng
thêm Đệ Thất Hạm Đội ngoài khơi, Việt Nam có dầu khí, Miền Nam là con domino cốt
tử, làm sao Mỹ bỏ được, mà Mỹ không bỏ th́ làm sao thua!) Ba, không biết tại sao
ở tù (đâu có ở tù năm mười năm, chỉ đi học tập cải tạo 15 ngày rồi về thôi!) Bốn,
không biết tại sao được thả (mắc nợ máu nhân dân sẽ rục xương trong tù , nhưng
học tập tốt th́ được khoan hồng. Thế nào là học tập tốt? Làm antenne hay đi
ngang ảnh Hồ chí Minh th́ cúi đầu chào?) Năm, không biết tại sao vượt biên di
tản (thiên hạ chạy, ḿnh cũng chạy, ra đến ngoại quốc rồi sẽ được lảnh rappel,
thăng cấp!)
Nỗi Chung và Niềm Riêng
Hoàng tôi ra đời vào năm cuối cùng của ḥa b́nh nhân loại hậu
bán thế kỷ 20. Năm 1938. Một năm sau th́ thế chiến bùng nổ. Ḥa b́nh trở lại với
Á châu th́ chiến tranh Việt-Pháp khởi sự. Ba nươi năm sau th́ ḥa b́nh mới thực
sự trở lại với đất nước. Và tôi lại đi tù. Miền Nam có ba chế độ, tôi ba lần ở
tù. Ông Diệm không kịp trả lời tôi tại sao? Ông Thiệu nhanh chân di tản trước
không thèm trả lời. Ông Duẫn chưa trả lời th́ tôi đă vượt biên khi được nhắc
khéo “đă yêu nước th́ nơi nào cũng là quê hương.”
Nghĩ lại đời ḿnh, Hoàng tôi đâu ngờ rằng thời sung sướng
nhất hạnh phúc nhất của tôi cũng chính là thời thiên hạ chết như rạ - 1938-1945,
hay thời quê hương tôi đang lần ṃ vào cơn băo lữa - 1954-1960.
Thật vậy, thời gian 1938-1945, trừ trận đói năm Ất Dậu và
những trận oanh tạc của đồng minh chống Nhật, Việt Nam trong suốt sáu năm đại
chiến 1939-1945, tương đối dễ chịu v́ chưa có ai thực sự làm chủ đất nước này
nên cũng chưa có ai độc quyền làm cha thiên hạ. Pháp đang xấc bấc xang bang ở
chính quốc, chính quyền thuộc địa lưng chừng chờ xem, Nhật đảo chánh Pháp cũng
chưa có thực quyền. Quân của Lư Hán đến th́ v́ đói dài ngày nên chỉ lo ăn bù và
vơ vét. Quân Anh-Ấn ở Sài G̣n ám trợ Pháp nhưng tránh xa mọi rắc rối. Việt Minh
th́ mới chuẩn bị cướp chính quyền nên không hề có chuyện cải cách ruộng đất hay
thanh lọc giai cấp bằng chính huấn. Như vậy, thời gian ấu thơ của tôi h́nh như
dân Việt thật sự dễ thở trong khi thiên hạ chết ḅ lê ḅ la khắp thế giới. Thời
gian 1954-1960 cũng là thời sung sướng và tôi đâu biết trong lúc tôi tà tà ăn
học, long nhong phá làng phá xóm th́ hai miền Nam Bắc đang chuẩn bị những trận
thư hùng.
Năm 1945, khi Hoàng tôi lên bảy th́ chiến tranh tái phát.
Những ngày thơ ấu thần tiên tàn theo. Một vài kinh nghiệm tản cư khi Pháp trở
lại khiến tôi bắt đầu băn khoăn về người Pháp trên quê hương tôi. Cũng như cuộc
chính biến của Tướng Nguyễn chánh Thi năm 1960, khiến cho tôi bắt đầu chú ư và
nghi ngờ chính quyền Ngô đ́nh Diệm. Màu hồng màu xanh của những ngày thơ mộng
thời niên thiếu nhạt dần khi tôi dần dần cảm thấy không thích thỏa hiệp với
nguyên trạng. Không phải để theo bên nào cả.
Thật vậy, tôi vô duyên với Pháp với Hoa Kỳ, nhưng cũng không
có duyên với ‘cách mạng’. Đời tôi chỉ có hai lần tôi muốn làm Việt Minh hay Việt
Cộng. Lần muốn theo Việt Minh là năm 1945, khi tôi nằn nặc xin đi Thanh Niên
Tiền Phong không được rồi nhảy qua xin vào Thiếu Niên Tiền Phong cũng không xong.
V́ c̣n quá nhỏ. Lần muốn theo Việt Cộng là lúc làm tân binh quân dịch trong
Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, khi ra băi thực tập tác chiến. Những lần đó
bao giờ tôi cũng dành làm Việt Cộng, v́ hể súng nổ là VC chết ngay, sau đó lủi
vào chỗ im mát tha hồ ăn vặt hay ngủ. Xong xuôi nghe c̣i tập họp mới trở lại với
Đại Đội. Làm VC sướng thế tội ǵ không làm?
Hụt theo VM, không theo VC như thế, nhưng Hoàng tôi không thể
không nhận là Hồ chí Minh đă làm được những điều mà thâm tâm tôi ao ước mà chẳng
làm ǵ được. Một, ngăn được Tàu, đuổi được lực lượng Pháp rồi Hoa Kỳ khỏi lảnh
thổ. Hai, loại bỏ tôn giáo khỏi sinh hoạt chính trị, cụ thể là triệt được gông
cùm tinh thần độc tôn và vọng ngoại của một vài tôn giáo trên xă hội Việt Nam.
Ba, triệt được kư sinh trùng kinh tế của người Việt gốc Hoa độc chiếm 70% kinh
tế quốc gia mà chỉ đóng thuế 5%, cộng thêm 10% tiền làm ung thối chính quyền từ
cấp Quốc Trưởng đến cấp Xă Trưởng. Bốn, đặc nền móng cho một màng lưới an sinh
và cơ hội thăng tiến đồng đều về giáo dục, y tế và lao động. Năm, đem lại được
ḥa b́nh thống nhất và độc lập cho quê hương.
Việt Minh, rồi Việt Cộng, rồi Cộng Sản trước và sau
HALONG.46, GENEVA.54 và PARIS.73 đă làm những điều không cần làm, đă có những
điều đáng làm nhưng không làm, c̣n có những điều nên làm nhưng chưa làm. Dĩ
nhiên. Những điều không cần làm mà làm và đáng làm nhưng không làm là chuyện quá
khứ. Những điều nên làm nhưng chưa làm là chuyện tương lai. Không nhận sai th́
cũng không thể nói đúng, không thấy sai th́ cũng không thể làm đúng.
Suốt thời trai trẻ và trung niên tôi đă buồn ḷng với Pháp,
với Hoa Kỳ, với đa số giáo quyền Ki-Tô giáo, với người Việt gốc Hoa cho nên
với năm điều trên, tôi nghĩ cũng đủ cho tôi phải ghi
nhớ rồi. Đó là bài học lịch sử cho riêng Hoàng tôi khi nghĩ đến Hiệp Định Sơ Bộ
6/3/46, Thỏa Ước Geneva 20/7/54 và Hiệp Định Paris 27/1/73 là ba tờ thế v́ khi
sinh của Việt Nam hôm nay.
Bất hạnh nhất cho đời mỗi người là thất vọng về quê hương
ḿnh, về đồng bào ḿnh. Hoàng tôi may mắn không có thất vọng đó.Và đó là hạnh
phúc lịch sử của tôi, cho nên tôi không muốn viết lịch sử, và lại càng không
muốn viết lại lịch sử, v́ những thất vọng và hận thù riêng tư, v́ sân si hay vô
minh chính trị.
Hoàng Nguyên Nhuận.
|
|