|
Giáo dục đại học: khơi dậy và
nuôi dưỡng tính ham học
TTO - Gần đây, nhân dịp được tham dự vài buổi giảng tại một
trường đại học trong nước (theo lời mời của vài đồng nghiệp), tôi chợt nhớ đến
kinh nghiệm của chính ḿnh trong thời c̣n theo học đại học hơn 30 năm trước đây.
Thời đó, mối quan hệ giữa người giáo sư và sinh viên chủ yếu
là “thầy giảng tṛ chép”. Ở các trường đại học Tây phương từ hơn 50 năm trước
giới nghiên cứu giáo dục đă chứng minh rằng một phương pháp giảng dạy như thế
không đem lại hiệu quả cao cho người học, v́ nó mang tính thụ động quá. Ngày
nay, qua trao đổi với một số đồng nghiệp trong nước và trực tiếp tham dự nghe
giảng, tôi cảm thấy mối quan hệ thụ động như thế vẫn c̣n tồn tại. Có lẽ đă đến
lúc chúng ta nên thay đổi cách giảng dạy để đem lại hiệu quả tốt cho sinh viên
và cả người dạy.
Ở đây, tôi chỉ muốn trao đổi về kinh nghiệm của chính tôi
trong thời c̣n là học sinh và cả thời làm người giảng dạy. Cũng như phần lớn
những người dạy đại học, và như là một nghịch lí, tôi không hề được huấn luyện
để dạy. Trường đại học mời tôi không phải v́ tôi dạy giỏi mà dựa vào kiến thức
và kinh nghiệm chuyên môn của tôi trong lĩnh vực dịch tễ học và nội tiết học.
Họ hi vọng tôi sẽ sử dụng kiến thức và kinh nghiệm này để nghiên cứu hay hợp tác
nghiên cứu với các đồng nghiệp trên thế giới.
Giảng dạy không phải là một ưu tiên hàng đầu, mà là một nhiệm
vụ được xem là thứ yếu, hạng hai. (Ngay cả khi xét phong học hàm, người ta chỉ
quan tâm đến các bài báo và công tŕnh nghiên cứu, chứ ít khi nào xét đến khả
năng dạy học của tôi.). Tất cả kinh nghiệm giảng dạy mà tôi có ngày nay không
phải được thu thập qua một khóa đào tạo nào, mà do tôi tự học cách giảng dạy.
Giáo dục đại học, theo cách nh́n của tôi, gồm hai phần: dạy
và học. Một số phương pháp cổ điển trong giáo dục đại học thường đặt trọng tâm
vào một trong hai phần đó. Chẳng hạn như giảng bài (lectures, hay lên lớp) là
một phương pháp truyền đạt kiến thức. Có người cho rằng giảng bài là một phương
pháp chuyển giao thông tin từ cuốn sổ ghi chép của người dạy đến cuốn sổ ghi
chép của người học mà không phải qua cái đầu của cả hai.
Kinh nghiệm thực tế của chính tôi khoảng 30 năm về trước phù
hợp với nhận xét này: trong những lớp giảng, tôi hí hoáy ghi chép những thông
tin từ người giáo sư đang giảng, chứ không hề nhập tâm thông tin trước khi ghi
chép xuống tập giấy. So với giảng bài, những lớp seminar (hội họp chuyên đề),
dạy phụ (tutorial), và thực hành thường chú trọng vào việc học hơn.
Tôi đi đến kết luận rằng tôi học nhiều nhất từ những ǵ tôi
thực hành, kế đến là từ những ǵ tôi thấy, và sau cùng là từ những ǵ tôi nghe.
Trong truyền thống giáo dục đại học quá tŕnh học quan trọng hơn là môn học.
Trong giáo dục y khoa, chúng ta muốn sinh viên phải học một
lượng thông tin lớn, nhưng tôi vẫn nghĩ khả năng tổ chức và xử lí những thông
tin như thế để đi đến một chẩn đoán c̣n quan trọng hơn là tiếp nhận thông tin.
Thực ra, phong trào y học thực chứng (Evidence-based medicine) ngày nay xuất
phát từ suy nghĩ đó.
Khi thảo luận về phương pháp giảng dạy, tôi thường bắt gặp
hai ngụy biện. Ngụy biện thứ nhất cho rằng sinh viên học những ǵ giáo sư dạy
họ; do đó, nếu chúng ta thêm vào một thông tin mới nào đó vào chương tŕnh dạy,
sinh viên sẽ tiếp thu thông tin đó. Nhưng trong thực tế, phần lớn sinh viên chỉ
nhớ một số nhỏ thông tin mà họ được dạy. Có ai từng trải qua thi cử mà nhớ hết
những câu trả lời của chính ḿnh?!
Ngụy biện thứ hai cho rằng nếu chúng ta không dạy sinh viên,
họ chẳng bao giờ học; do đó, cần phải đưa vào chương tŕnh giảng dạy tất cả
những ǵ mà họ cần biết. Trong thực tế, quan điểm này cũng … sai nốt. Những
phương pháp dịch tễ học, thống kê học mà tôi thường dùng ngày nay tôi không hề
được dạy lúc c̣n đi học.
Sự tự học và tự dạy của tôi không mấy khó khăn, bởi v́ trước
hết đó là một thói quen, và sau nữa là tôi đă được truyền đạt một số kiến thức
căn bản. Chúng ta liên tục học những ǵ liên quan đến chuyên môn của chúng ta.
Chúng ta ít khi nào nhớ những ǵ không liên quan, và ít khi nào quan tâm đến
những ǵ không cần thiết.
V́ thế, thói quen học tập (chứ không phải giảng dạy, hay
lượng thông tin được nhồi nhét) mới là quan trọng trong giáo dục đại học. Do đó,
một xu hướng giáo dục thịnh hành ngày nay là khơi dậy và nuôi dưỡng tính ham
muốn học hỏi của sinh viên, hơn là nhồi nhét cho họ một lượng kiến thức lớn.
Nói cách khác, giảng dạy là phải nhắm đến mục tiêu khai thác
và tận dụng nội lực của sinh viên để họ tự học thêm. Tính ham học này phải được
duy tŕ suốt đời. Lượng kiến thức cần thiết để hành nghề (bất cứ ngành nghề nào)
rất lớn, và những kiến thức này liên tiếp thay đổi nhanh chóng theo thời gian.
Người học và người thực hành cần phải có thái độ “ học, học nữa và học măi” để
trở thành một người trí thức thực sự.
NGUYỄN VĂN TUẤN (Viện NC Y khoa Garvan Sydney)
Nguồn:
http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=42453&ChannelID=118
|