|
DỊCH CÚM CHIM Ở GIA CẦM:
“NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY…”
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Cách đây hơn hai tuần người viết bài này đă gửi bài viết
“Dịch cúm chim ở gia cầm: Vấn đề cần nh́n lại” đến các địa chỉ của các tổ
chức chuyên môn, các cơ quan chính quyền, đồng nghiệp và các báo. Sau đó báo
Nhân dân đă đăng bài viết vào ngày 19 tháng 7 năm 2004. Từ đó đến nay, đó cũng
là phản hồi đầu tiên và cũng là phản hồi cuối cùng về nội dung của bài viết.
Phải nói rằng người viết thành tâm cám ơn báo Nhân dân đă đăng tải một vấn đề mà
được đặt lại ngược với các ư kiến của các nhà chuyên môn hiện hành về một trong
những biện pháp kiểm soát dịch cúm gia cầm đang áp dụng : “Phải tiêu huỷ tất cả
các gia cầm trong khu vực có dịch (với bán kính 3km). Không những thế, mọi đàn
gà có xét nghiệm mẫu huyết thanh dương tính th́ cũng phải được tiêu huỷ”. Hay
nói cách khác, giới chuyên gia đă coi việc tiêu huỷ gia cầm là một biện pháp cứu
cánh để nhằm thanh toán vụ dịch. Bằng những lập luận dựa trên kiến thức hiện
hành mà WHO cung cấp, chúng tôi nghi ngại đến một khả năng không tưởng mà c̣n
gây tàn phá nền kinh tế đặc biệt với các nước nghèo, đang phát triển.
Vào ba ngày 27-28-29/07/04 vừa qua, tại Bangkok một cuộc hội thảo quốc tế trong
vùng Đông Nam Á được Tổ chức Lương Nông Quốc tế (FAO) chủ tŕ, bàn về dịch cúm
chim ở gia cầm đă và đang tái diễn tại các nước này với sự hiện diện của các nhà
khoa học về động vật, chuyên gia về y tế. Hội thảo tập hợp các chuyên gia đến từ
các nước Campuchia, Lào, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Papua New Guinea,
Phillippines, Thái lan, Đông Timor và Việt Nam. Hội thảo này nhằm bàn về một
phương hướng và hoạch định chiến lược trong việc kiểm soát dịch cúm mới A(H5N1)
này, góp phần với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) trong việc ngăn ngừa một nạn đại
dịch cúm đang có nguy cơ ŕnh rập đến con người.
Tại hội thảo này các chuyên gia đầu ngành về sức khoẻ động vật phải thừa nhận
rằng việc tiêu huỷ gia cầm mà các chuyên gia đă tin tưởng là có thể thanh toán
được sự lan tràn của vụ dịch đang đi đến một khúc rẽ dường như vô định. Vào mùa
đông năm 2003, các chuyên gia y tế đầu ngành của thế giới tin tưởng rằng họ có
thể thanh toán A(H5N1) bằng cách tiêu diệt gia cầm cho nên nghiên cứu chế tạo
vaccine là không cần thiết. Thế nhưng theo Tiến sĩ Joseph Domenech, chủ tịch
Hiệp hội Dịch vụ Sức khoẻ Động vật thuộc tổ chức Lương Nông thế giới phải tuyên
bố: “Chúng ta phải đánh giá lại những ǵ chúng ta đang làm” (nguyên văn: “We
must reassess what we are doing”). Theo ông, cho biết vào cuối tháng 8 này sẽ có
hướng dẫn mới về biện pháp ngăn ngừa dịch bệnh có tính chất dài hạn v́ các
nghiên cứu mới cho thấy rằng loại virus cúm chim này nó gần như lưu trú vĩnh
viễn ở một số quốc gia châu Á rồi. Và v́ thế mà việc tiêu huỷ gia cầm hoặc sử
dụng các biện pháp kiểm dịch tiêu chuẩn khác đơn thuần không thể nào mà có thể
loại trừ được virus này cả. Trong hướng dẫn mới sẽ thúc đẩy việc phát triển và
sử dụng vaccine để pḥng bệnh cho gia cầm.
Việc phải tái xét duyệt lại vấn đề của hội thảo này có lẽ (chỉ suy đoán v́ không
có thông tin cụ thể của hội nghị) là dựa trên các nghiên cứu của một nhóm khoa
học gia Trung quốc và Mỹ phối hợp, vừa mới công bố trên tập san PNAS (Proceeding
of the National Academy of Sciences) số ra ngày 13 tháng Bảy 2004, Bộ 101, số 28
trang 10452-10457 nhan đề : “Tiến hoá của virus cúm A(H5N1) trong vịt ở miền Nam
Trung quốc”, và một Lá thư gửi Biên tập (Letter to Editor) đăng ở tập san
Nature, số ra ngày 8 tháng Bảy 2004, Bộ 430 trang 209-213, nhan đề “Nguồn gốc
của cơ chế gây bệnh nặng và một đại dịch tiềm tàng của virus cúm A(H5N1) ở đông
Á” do tập hợp các tác giả Trung quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Việt Nam và Mỹ biên
soạn. Chúng tôi xin tóm tắt lại nội dung của nghiên cứu và thư báo cáo trên đây.
Nghiên cứu thứ nhất về quá tŕnh tiến hoá của virus cúm A(H5N1), các nhà nghiên
cứu đă sử dụng virus A(H5N1) phân lập được từ các giống vịt nuôi khoẻ mạnh sống
ờ các vùng duyên hải miền Nam Trung quốc (giữa Quảng Đông và Thượng Hải) trong
khoảng thời gian từ 1999 đến 2002. Các virus này được đem để gây bệnh cho ba
loại động vật thí nghiệm là gà, chuột và vịt; đồng thời cũng nghiên cứu về đặc
tính di truyền của các virus này. Về số lượng nghiên cứu có 10 con gà nuôi 6
tuần tuổi; 8 con chuột cái 6-8 tuần tuổi; 5 con vịt 3 tuần tuổi. Sau khi gây
bệnh cho nhóm động vật thực nghiệm này, kết quả thu nhận được như sau:
Ở gà, với một loại virus phân lập từ năm 99, chỉ giết chết một nửa số gà nghiên
cứu; số c̣n lại th́ làm gà chết toàn bộ sau 2, đến 3 ngày ủ bệnh. Ở chuột người
ta cũng tiến hành cho nhiễm virus. Kết quả đánh giá là mức độ sụt cân và tử vong
của chuột. Mức độ độc tính của virus được chia làm 4 nhóm dựa vào bệnh thể hiện
trên chuột nghiên cứu: virus không độc tính, tức là chuột không chết và không
sụt cân; các mức độ sụt cân và số chết, thời gian chết được phân làm ba mức, nhẹ,
trung b́nh và nặng. Và các tác giả nhận thấy rằng khả năng gây bệnh trên chuột
của virus A(H5N1) tăng dần theo thời gian. Nghĩa là các virus được phân lập vào
năm 1999-2000 mức độ gây bệnh trên chuột nhẹ hơn virus phân lập năm 2001-2002.
Tuy nhiên cũng có một sự bất cập là có một virus phân lập năm 2000 th́ mức độ
gây bệnh trung b́nh và một virus phân lập năm 2002 th́ lại có mức độ gây bệnh
nhẹ. Đối với 5 con vịt th́ sau khi cho lây nhiễm với 6 loại A(H5N1) trong đó có
sử dụng 3 loại đă gây bệnh nặng ở chuột th́ thấy rằng không có con vịt nghiên
cứu nào có biểu hiện bệnh lư, và nó cũng không lây cho các con chim khi cho tiếp
xúc.
Các tác giả đă bàn luận rằng các virus cúm A(H5N1) đă học được cách thích nghi
sống chung với loài vịt nuôi và độc tính lại có xu hướng tăng lên theo thời gian;
chúng có khả năng gây bệnh ở loài động vật có vú là chuột.
Vài nhận xét: Đây chỉ là một nghiên cứu thực nghiệm ở động vật, trên một nhóm số
nhỏ các con vật thí nghiệm. Kết quả này chỉ có thể đủ để đặt ra một xu hướng,
một manh mối của một cơ chế tiến hoá, phát triển và gây bệnh của loại virus cúm
A(H5N1). Kết quả nghiên cứu này góp phần củng cố vai tṛ trung gian truyền bệnh
từ loài chim hoang dại, chim sống lưỡng cư, trong đó có vịt nuôi. Thế nhưng cơ
chế nào, và tại sao lại xảy ra hiện tượng đó, th́ vẫn chưa có câu trả lời.
Trong báo cáo ngắn “Nguồn gốc của cơ chế gây bệnh nặng và một đại dịch tiềm
tàng của virus cúm A(H5N1) ở đông Á”, các tác giả công bố rằng từ 2001, virus
cúm A(H5N1) vẫn tiếp tục lưu hành ở Trung hoa lục địa theo chu kỳ, cao điểm là
từ tháng 10 cho đến tháng 3, khi nhiệt độ môi trường trung b́nh dưới 20 độ C.
Năm 2000, virus này chỉ phân lập được ở loại gia cầm sống lưỡng cư, nhưng từ
2001 th́ chúng đă được t́m thấy ở cả gia cầm nuôi bộ và gia cầm lưỡng cư, mặc dù
tỷ lệ phân lập được cao nhất vẫn là ở loài vịt.
Tính chất xảy ra đồng thời tại cùng một thời điểm trên các vùng địa dư khác nhau
chưa được hiểu ngọn ngành, thế nhưng người ta t́m thấy được virus A(H5N1) trong
các con chim di cư bị chết. Điêu này ám chỉ là quần thể chim hoang dại có thể
đóng vai tṛ phát tán mầm bệnh. Vào thời điểm giữa cuối năm 2002 đến nay, tại
Hồng Kông, chủng loại H5N1 cùng kiểu gen được t́m thấy ở một con chim diệc bạch
bị chết, ở hai con chim diệc xám, một con ṃng biển đầu đen, một con bồ câu dại,
một con chim sẻ và trong một con chim cắt. Trong nghiên cứu phát sinh chủng loại
gen, người ta t́m thấy H5N1 ở loài chim hoang dại có một phần giống với cấu trúc
của loại H5N1 gây dịch gia cầm ở Thái lan và Việt Nam vừa qua. Một điểm khác
người ta cũng t́m thấy rằng thời điểm mắc bệnh của gia cầm ở Trung quốc từ năm
2001 trở đi, thường trùng với thời điểm chim di cư tránh đông xuống miền Nam
Trung quốc, tuy nhiên người ta chưa biết đưọc H5N1 có hiện diện trong quần thể
chim hoang dại này hay không. Từ các kết quả nghiên cứu t́m được các tác giả cho
thấy vịt nuôi ở miền Nam Trung quốc đóng vai tṛ chính trong việc phát sinh và
duy tŕ mầm virus này, và chim hoang dại có thể góp phần vào việc phát tán, mầm
bệnh rộng răi. Các tác giả đi đến kết luận là dịch bệnh không dễ ǵ thanh toán
được, cần phải có một biện pháp kiểm soát dịch bệnh lâu dài.
Một số nhận xét:
Trải qua kinh nghiệm của đợt “đại dịch” SARS trên thế giới và đợt đại dịch cúm
chim ở gia cầm xảy ra ở một số nước Đông Nam Á và châu Á vừa qua, một điểm nổi
bật nhất dễ nhận thấy là vai tṛ của tiến bộ thông tin đóng một vai tṛ hết sức
quan trọng trong công tác Y tế, đặc biệt pḥng chống và ngăn ngừa bệnh dịch. Ở
vụ dịch SARS, một kỷ lục chưa từng có trong lịch sử là với một loại bệnh mới
phát sinh mà chỉ trong ṿng có một tháng, tác nhân gây bệnh đă được định danh,
và sau đó c̣n t́m được cả cấu trúc di truyền. Tại một thời điểm, người ta có thể
tổ chức một cuộc hội thảo xuyên lục địa bằng phương tiện cầu truyền h́nh. Chỉ
trong ṿng một phút, thông tin trao đổi trên giấy tờ có thể lưu chuyển trên toàn
thế giới qua hệ thống email. Chính v́ thế mà việc trao đổi, bàn thảo về vấn đề
có thể diễn ra chóng vánh, hành động có thể được áp dụng tức thời.
Tuy nhiên cũng trong vấn đề thông tin, việc thông tin đến nhanh, nhiều là một
khía cạnh, khía cạnh khác quan trọng hơn là vấn đề tiếp cận và xử lư thông tin,
diễn dịch và hiểu thông tin đó, áp dụng nó như thế nào mới là vấn đề quan trọng
hơn. V́ trong một loại bệnh dịch mới như cúm chim A(H5N1) việc học hỏi và t́m
hiểu trong quá tŕnh áp dụng là đương nhiên, và v́ chúng ta chưa hiểu biết được
hết bản chất của chúng cho nên việc tái đánh giá, kiểm định lại vấn đề, cập nhật
thông tin là quan trọng.
Những thông tin, khuyến cáo, hướng dẫn từ các chuyên gia Y tế, hoặc tổ chức
chuyên môn cao cấp thông thường được dựa vào các bằng chứng. Bằng chứng đó thu
được từ các nghiên cứu. Thế nhưng không phải mọi quyết định đều dựa trên bằng
chứng, mà đôi khi lại dựa vào niềm tin hoặc một mối lo ngại. Điều này chúng tôi
đă có đề cập đó là trường phái “Nguyên lư pḥng ngừa” (Precautionary Principle,
PP). Và chúng tôi nhận thấy ngay cả những ư kiến được cho là khuyến cáo từ các
chuyên gia đầu ngành vẫn có một sự lẫn lộn, bất cập giữa niềm tin và bằng chứng
khoa học!
Tại sao giả thuyết được đặt ra là chim trời, chim hoang dại là nguồn mang mầm
bệnh chính và phát tán bệnh th́ trong khâu ngăn chận dịch lây lan th́ chỉ đề cập
đến việc tiêu diệt gia cầm nuôi?
Có bằng chứng không? Không. Mà quyết định đó có lẽ chỉ dựa trên niềm tin. Niềm
tin đó xuất phát từ đợt dịch “cúm gà Hồng Kông 1997”, lúc đó có 6/18 người mắc
bệnh bị tử vong; 1,4 triệu con gà bị tiêu huỷ . Sau đó chính quyền Hồng Kông đă
lệnh tiêu huỷ tiếp 4,5 triệu con gà nữa và vụ dịch dừng lại ở đó. Măi cho đến
đầu năm 2003 có thêm hai người nữa mắc bệnh cúm A(H5N1) nữa và tử vong, rồi lại
thôi. Khi vụ dịch cúm gia cầm xảy ra ở Việt Nam và các nước Đông Nam Á th́
phương sách tiêu huỷ gà được lập tức triệt để áp dụng. Nhưng nh́n nhận lại vấn
đề, mối tương quan giữa giết gà và vụ dịch dừng lại ở Hồng Kông chỉ là có tương
quan, và tương quan tại một thời điểm. Điều đó không hoàn toàn là mối liên hệ
nhân-quả. Muốn chứng minh được giết gia cầm th́ có thể ngăn cản được lây lan
dịch th́ phải cần tiến hành các nghiên cứu quan sát cũng như can thiệp để so
sánh hiệu quả giữa việc giết gà và không giết gà th́ mới gọi là nhân-quả, và khi
đó mới coi là bằng chứng.
Đă thế các khoa học gia vẫn tiếp tục tin. Theo lời Tiến sĩ Joseph Domenech,
nhiều chuyên gia và một số quốc gia tin rằng họ có thể tảo thanh được
A(H5N1) bằng cách tiêu huỷ, nên việc chủng ngừa là không cần thiết (nguyên văn “…because
last winter many experts and some countries believed they could eradicate
A(H5N1) by culling, making vaccination unneccessary, Dr. Donomech said”. Thế
nhưng nghịch lư là đă tin nhưng lại vẫn trông chờ và đ̣i hỏi bằng chứng. Cho đến
khi có kết quả nghiên cứu được công bố là virus A(H5N1) có thể vĩnh viễn lưu trú
ở một số quốc gia th́ lúc đó mới bắt đầu chuyển hướng sang một kế sách mới. Ngay
cả chính phủ Thái lan đă có kế hoạch hướng đến kế sách nghiên cứu phát triển và
dùng phương thức chủng ngừa cho gia cầm đă gặp phải sự đối kháng của Tổ chức Sức
khoẻ Động Vật thế giới đóng tại Paris (OIE) vẫn tin tưởng rằng tiêu huỷ là biện
pháp kiểm soát hữu hiệu nhất (bản tin của IPSNEWS,
http://ipsnews.net/interna.asp?idnews=24701).
Và dĩ nhiên cho đến nay vẫn chưa có bằng chứng nào về một sự phát tán, hay lây
lan mầm bệnh A(H5N1) từ vật sang người dễ dàng, và chưa có bằng chứng nào cho
thấy virus này có khả năng lây lan từ người sang người nhưng giới chuyên gia vẫn
vẫn luôn canh cánh và cảnh báo toàn cầu về nguy cơ của một vụ đại dịch toàn cầu.
Tại sao lại như thế? Trong thế kỷ XX, có xảy ra ba vụ đại dịch cúm toàn cầu. Vụ
dịch Tây-ban-nha 1918-1919, có khoảng 20 đến 50 triệu người trên toàn thế giới
chết, riêng Mỹ chiếm nửa triệu. Vụ dịch cúm châu Á 1957-58 có 70 ngh́n người Mỹ
tử vong. Vụ dịch cúm Hồng Kông 1968-69, Mỹ có 34 ngh́n người tử vong. Như vậy là
người ta lo ngại đến việc tử vong hàng loạt v́ bệnh tật mà lo sợ và luôn đặt mọi
người trong t́nh trạnh cảnh báo. Giới chuyên môn đă thổi một nỗi sợ hăi vào dân
chúng thế giới.
Thế nhưng, với con người trong cuộc sống thời hiện đại phải đối mặt với rất
nhiều yếu tố nguy cơ tử vong: chiến tranh, tai nạn, bệnh tật đến từ nhiều nguồn
nhiều tác nhân, thiên tai... Chúng ta thử duyệt lại một số tỷ lệ tử vong hàng
năm sau đây:
·
Mỗi năm trên thế giới có 5 triệu trẻ em chết v́ mỗi một bệnh tiêu
chảy; mỗi một năm cũng con số xấp xỉ trẻ em chết v́ bệnh đường hô hấp;
·
Các loại tổn thương đă lấy đi mỗi năm 5 triệu sinh mạng trên toàn
thế giới, chiếm tỷ lệ gần khoảng 1 trong 10 trường hợp tử vong chung trên toàn
cầu;
-
Mỗi năm
có khoảng 250.000 đến 500.000 người chết v́ bệnh cúm trên thế giới, trong số
này có 36.000 nạn nhân ở Mỹ;
-
Mỗi năm,
có khoảng 1 đến 2,7 triệu người, phần lớn ở Phi châu, chết v́ bệnh sốt rét;
con số mới đây nhất của Tổ chức y tế thế giới cho thấy mỗi ngày bệnh sốt rét
lấy đi 3000 sinh mạng trẻ em Phi châu (xin ghi nhớ mỗi ngày và 3000 sinh mạng
trẻ em);
-
Ngay cả
bệnh lao (vâng, bệnh lao) vẫn giết chết gần 2 triệu người hàng năm, và 98%
những người chết v́ lao sống trong các nước đang phát triển;
-
Trên b́nh
diện toàn cầu, bệnh AIDS/HIV làm chết 3 triệu người hàng năm, kể cả 61,000 trẻ
em;
-
Cuộc xâm
chiếm Iraq do Mĩ và Anh cầm đầu giết chết ít nhất là 10.000 người, kể cả 2.300
thường dân.
Và c̣n nhiều con số tử
vong khác nữa. Do đó chẳng cần một đại dịch A(H5N1) hàng năm cũng đă có đến nửa
triệu người chết v́ cúm thông thường rồi. Vấn đề không phải là đánh giá thấp sự
nghiêm trọng của bệnh cúm A(H5N1). Không, chúng ta phải nh́n nhận bệnh tật là
nặng nề, đại dịch là mối hiểm nguy. Tính mạng của con người là quan trọng. Mỗi
một sinh mạng là một tài sản quư giá của hành tinh. Thế nhưng chúng ta cần tránh
một tâm lư sợ hăi quá đáng và thiếu thực tế. Một sự sợ hăi, một mối lo về một vụ
đại dịch toàn cầu vẫn chưa xảy ra nhưng trong khi đó người dân ở các nước nghèo
đă và đang ở trong một nguy cơ phá sản v́ phải theo một lệnh không có cơ sở,
không có căn cứ để phải tiêu huỷ cả đàn gia cầm của ḿnh. Đổi một nguy cơ chưa
xảy ra để lấy một nguy cơ khác là thiếu thực phẩm, suy sụp tài chính, nghèo đói,
rối loạn tâm lư, tâm thần, một điều không tránh khỏi,
là một nỗi ám ảnh, một hoang tưởng (paranoid) xa xỉ! Người ta quan tâm đến sức
khoẻ của một quần thể lớn ở tầm vóc quốc tế, thế nhưng những cá nhân ở trong
quần thể đó lại được cho là không quan trọng. Trong một bài luận về nạn AIDS vào thập
niên 1980s, một cây bỉnh bút nổi tiếng người Mỹ, Susan Sontag, đề cập đến một
văn hóa sợ hăi- “distress culture” trong các xă hội Tây phương, và văn hóa này
sản sinh ra những khải huyền tưởng tượng, những cái bóng tận thế. Có thể nói
mối đe dọa lớn nhất đến công chúng ngày nay là sự mất niềm tin và thiếu khả năng
đối phó với vấn đề bằng lí trí.
Càng ngày chúng ta càng phải nhận thấy rằng con người cũng như mọi thực thể hữu
hay vô cơ đều là một phần tử của một môi trường, một quần thể nào đó; và tồn tại
trong một mối ràng buộc hữu cơ chứ không phải là một thực thể biệt lập. Bệnh tật
cũng nằm trong chiều hướng đó. Cần phải nh́n nhận có một cân bằng sinh thái
trong mô h́nh bệnh tật. Bệnh tật biến đối theo mô h́nh khác nhau trong từng sắc
dân, từng vùng địa dư, từng tập tục sinh sống, từng h́nh thái kinh tế, có vẻ như
không thể biến mất đi được trừ một số ít bệnh được coi là thanh toán như đậu mùa
(nhưng không có nghĩa tuyệt đối). Chính v́ thế mà cho đến thế kỷ XXI mà có nhiều
bệnh dù khoa học đă hiểu rơ bản chất từ lâu nhưng không thể nào đặt chúng nằm
trong tầm kiểm soát được chẳng hạn như bệnh Lao, bệnh Sốt rét, Sốt xuất huyết
v..v…Trong chiều hướng cân bằng sinh thái đó, chúng ta khó có thể mà thanh toán
hay loại trừ bệnh tật đi được. Cúm chim A(H5N1) cũng không là một ngoại lệ. Đă
vậy chúng ta nên t́m cách để sống chung và dung hoà với chúng mà thôi.
Nguyễn Đ́nh Nguyên
|
|