Lời ban biên tập: Sau khi đăng tải bài phản hồi của Nguyễn Đức Hiệp Nguyễn Văn Tuấn về bài điểm sách của Trần Đ́nh Hoàng, chúng tôi nhận được thư phúc đáp của Trần Đ́nh Hoàng. Chúng tôi đồng ư đăng tải bài này như là phần kết thúc cuộc tranh luận giữa hai tác giả. Nếu các tác giả có nhu cầu trao đổi thêm, chúng tôi sẵn sàng chuyển thư đến cá nhân. Riêng với tác giả của tác phẩm cuốn sách đă được bàn đến, chúng tôi vẫn sẵn sàng đăng tải phản hồi của ông nếu ông gửi đến.

Chuyển Luân

Công tâm, ác ư và cảm tính:

Trao đổi với Nguyễn Đức Hiệp và Nguyễn Văn Tuấn 

 

Xin cám ơn bài phản hồi của tác giả Nguyễn Đức Hiệp và Nguyễn Văn Tuấn về bài điểm sách của tôi.  Đọc xong hai bài đó, tôi thấy vẫn c̣n lấn cấn trong đầu một số vấn đề.  Bài phản hồi này có một mục đích duy nhất, đó là bày tỏ lần cuối vài ư kiến về bài phản hồi của hai tác giả trên và xung quanh bài điểm sách của tôi.  Tôi hy vọng Chuyển Luân cho đăng bài này để rộng đường dư luận.   

Xin bàn với ông Nguyễn Đức Hiệp trước.  Đọc qua bài phản hồi với những lời lẽ mang tính lên lớp, trịch thượng và làm phách nên tôi bắt buộc phải bàn tiếp với ông.  Xem qua văn phong của ông tôi thấy ông tỏ vẻ bực dọc v́ những phê b́nh của tôi.  Điều này tôi có thể hiểu được v́ tâm lư con người nói chung thích được khen, chứ có ai thích bị phê b́nh.  Ông c̣n cố ư làm dáng, khệnh khạng, kênh kiệu, không quan tâm đến bài điểm sách của tôi, v́ ông chỉ “đọc thử” (là đọc như thế nào?), và đọc khi “có th́ giờ rảnh” (câu này thừa, đọc th́ phải tốn th́ giờ!).  Đă đọc th́ phải đọc nghiêm chỉnh, chứ đừng “đọc thử”.  Chữ nghĩa chứ không phải tṛ đùa.  Nhưng kiểu làm dáng của những “nhà khoa học” loại Nguyễn Đức Hiệp th́ tôi cũng quá quen rồi. Mấy “nhà” này thường mang nhăn hiệu “khoa học” để phân biệt ḿnh là “nhà trí thức” với những tên vô danh tiểu tốt.  Có lẽ nếu tôi kư tên “Giáo sư tiến sĩ khảo cổ học Trần Đ́nh Hoàng” hay “Viện sĩ Trần Đ́nh Ḥang” th́ chắc ông không “đọc thử”, nhưng khổ nỗi tôi không phải là giáo sư dạy đại học, chẳng bao giờ là viện sĩ, mà cũng chẳng có bằng tiến sĩ.  Viết như thế tôi hoàn toàn không có ư trách móc hay mỉa mai ai hay mang phức cảm tự ti đâu nhé.  Tôi chỉ muốn nói lên một thái độ rất phổ biến đă thấm vào máu vào năo của các “nhà” mà thôi.  

            Tôi đề nghị ông Nguyễn Đức Hiệp nếu muốn đối thoại nghiêm chỉnh th́ phải viết cho rơ ràng, dùng chữ chính xác, và nhất là phải có cái điểm (points) cụ thể để người đọc biết mà bàn, không nên viết linh tinh, lan man những chuyện không liên quan.  Ông không nên phát biểu kiểu “nhưng nói chung nó cũng phản ảnh cái phong cách mà đa số người Việt phê b́nh sách thường mắc phải” v́ nói như thế là quy chụp vô cớ, và ăn nói vô trách nhiệm.  Phong cách đa số người Việt phê b́nh sách là phong cách ǵ?  Khen nhau nức nở?  Hay chê bai nhau thậm tệ mà không chỉ ra cụ thể điểm sai?  Hay phỉ báng cá nhân?  Tôi không nghĩ bài điểm sách của tôi có những đặc điểm đó.  Ông làm ơn suy nghĩ và ăn nói cẩn thận, không nên phát biểu bừa băi. 

 Bây giờ tôi đi vào từng khía cạnh trong bài phản hồi của ông:   

1/  Trước hết xin khẳng định ngay với ông Nguyễn Đức Hiệp rằng tôi không đùa giỡn với chữ nghĩa.  Tôi không đùa với ông hay bất cứ ai mỗi khi đặt bút viết văn.  Tôi không bao giờ làm cái “tṛ” mà ông gọi là “chẻ chữ”.  Nếu tôi muốn làm tṛ chẻ chữ cũng chẳng khó ǵ, nhưng làm như thế e rằng không công bằng cho ông và cho tác giả Cung Đ́nh Thanh.  Tôi cũng không vạch ra từng điểm nhỏ trong sách, tôi chỉ phê b́nh những điểm chính mà thôi.  Nếu tôi phê b́nh từng điểm nhỏ, th́ xin lỗi, mỗi trang sách đều có vấn đề.  Nếu tôi vạch ra từng chữ một trong bài viết của Nguyễn Đức Hiệp theo kiểu duyệt bài (peer-review) trong khoa học th́ chắc phải thêm 20 trang giấy khác.  Ngay cả trong bài phản hồi của ông, tôi cũng có thể vạch ra vài chục lỗi lầm chữ nghĩa, nhưng tôi không bao giờ muốn làm như thế.  Chúng ta là những người đă trưởng thành.  

Tất cả những chữ tôi dùng đều được đo lường cẩn thận.  Tất cả những nhược điểm của cuốn sách tôi chỉ ra đều rất cụ thể, như trang số mấy, h́nh số mấy, chứ không nói chung chung như ông nghĩ.  Ấy vậy mà Nguyễn Đức Hiệp lên lớp với tôi rằng “nhưng khi phê b́nh sách cần phải công tâm tránh cảm tính và quan trọng nhất là cẩn thận xem xét kỹ lưỡng trước khi đưa ra những nhận định chỉ trích rất trầm trọng thiếu căn cứ”.   Thế nào là công tâm?  Thế nào là cảm tính?  Tôi không thấy ông chỉ cho đoạn nào trong bài viết của tôi là cảm tính, là vô căn cứ, hay không “công tâm”.  Như thế là ông phát biểu vô căn cớ.  Nhà khoa học mà phát biểu vô căn cớ là loại khoa học ǵ?  

            Vấn đề ở đây không phải là cảm tính hay “công tâm”; vấn đề là đúng hay sai.  Tôi đă chỉ ra hàng loạt sai lầm về vấn đề về suy lưận, về sự kiện (facts) và về cách xử lư bằng chứng khoa học.  Nếu những ǵ tôi chỉ ra là quả sai th́ cần phải sửa lại cho chính xác, chứ đừng căi chầy căi cối, đừng mang chuyện “cảm tính” vào đây, đừng biện minh là sách viết cho một thành phần nào đó nên có quyền sai.  Những chỗ tôi chỉ ra ông dịch không đúng hay thêm chữ vào câu văn của người khác là sự thật.  Ông phải nhận lỗi lầm, không nên ngụy biện bằng “công tâm” hay “cảm tính” v́ vấn đề, tôi nhắc lại một lần nữa, là đúng hay sai.  Sai có nghĩa là sai có nghĩa là sai có nghĩa là sai …  

Vấn đề sai sót ở đây rất quan trọng bởi v́ mục đích của cuốn sách muốn sửa lại sách sử.  Để biết sách viết cho ai, xin mời ông đọc đoạn Cung Đ́nh Thanh bày tỏ ư định thành lập “Tủ sách Việt Học Ṭan Thư” và “Lịch sử Tư Tưởng Việt Nam”, mà cuốn “T́m Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học” nằm trong dự án này.  Mục đích viết sách của Cung Đ́nh Thanh là cung cấp sách giáo khoa, sách sử cho thế hệ mai sau: “Đă đến lúc phải có văn bản giáo khoa mới cho con em chúng ta học tập, những sách sử mới cho thanh niên chúng ta trau giồi, những tài liệu mới cho những nghệ sĩ chúng ta tham khảo hầu cung ứng những món ăn tinh thần đủ nuôi dưỡng cái tâm Việt, cái hồn Việt để trái tim chúng ta, dù sống ở gốc bể chân trời nào, cũng đập cùng một nhịp với con tim của triệu triệu người Việt tự ngh́n năm trước cho đến ngh́n vạn năm sau”, và “Phải có những tài liệu mới, những sách sử mới thay thế cho sách sử sai lầm cũ …” (Tư Tưởng số 22, tháng 3/2003, ai cũng có thể t́m thấy tạp chí này trong thư viện Cabramatta).  Đó chính là mục đích của cuốn sách này và hàng loạt tập sách sắp in ấn: muốn sửa lại sử sách xưa và làm sách giảng dạy.   

Thật ra ư định đó hoàn toàn tốt, nhưng vấn đề tôi nêu lên là trước khi sửa sử sách, th́ tác giả phải làm việc nghiêm túc, có hệ thống chứ không nên cẩu thả.  Hiện nay cuốn sách c̣n quá nhiều sai sót và sai lầm, tôi e rằng nó sẽ không thích hợp cho một tham vọng cao cả như thế.  Người ta cũng phải hỏi với một nhóm người không chuyên như nhóm các ông th́ liệu tủ sách “Việt Học” hay “Tư Tưởng Việt Nam” có ǵ hay hơn và đầy đủ hơn các bộ sách trong nước của Viện Sử Học hay của các tác giả như Nguyễn Đăng Thục và Trần Văn Giàu?   

2/   Không nên vơ đoán hàm hồ, nên chú tâm vào luận điểm.  Bài phản hồi của Nguyễn Đức Hiệp có một đọan tôi phải cực lực phản đối, đó là đoạn: Thế th́ mục đích của ông khi viết bài điểm sách này là ǵ?. Theo tôi bài điểm sách toát ra một ấn tượng mà người đọc nhận thấy là người điểm sách đă có ư định trước là t́m những khe hở nhỏ để phê b́nh hạ thấp vị trí của sách. Có thể v́ tác giả thấy sách được quảng cáo quá nhiều và có ác cảm với những ǵ có vẽ phô trương qua những ǵ tác giả đă viết trong bài điểm sách.”  Câu này quá sai.  Như đă nói trên, tôi không chú tâm vào những lỗi lầm nhỏ, tôi quan tâm đến các vấn đề có tính hệ thống.  Tôi hy vọng ông hiểu thế nào là “tính hệ thống”.  Quyển sách của Cung Đ́nh Thanh cũng chưa hề được “quảng cáo quá nhiều”, nó chỉ gây ra nhiều chú ư và tranh căi của giới chống cộng và trong những người bạn của tác giả mà thôi.  Chẳng những nhận xét sai, câu văn trên c̣n phản ảnh một tư duy chệnh choạng, với những vơ đoán hàm hồ và vô căn cớ.  Tính hàm hồ của nó không xứng đáng trong một trao đổi nghiêm túc của một người gọi là “nhà khoa học” và muốn giảng dạy triết lư khoa học.   

Tôi đă nói trong bài điểm sách rất rơ ràng tôi chẳng có thành kiến ǵ với tác giả Cung Đ́nh Thanh.  Thật ra, tôi rất có cảm t́nh v́ tấm ḷng của ông dành cho văn hóa Việt Nam.  Tôi đă nói rơ rồi: tôi không có “mâu thuẫn quyền lợi” (conflict of interest) trong việc điểm sách, và hoàn toàn không có “ác ư” với ba tác giả Cung Đ́nh Thanh, Nguyễn Đức Hiệp và Nguyễn Văn Tuấn.  Có cần tôi nhắc lại điều đó không?  Tôi chưa có lần gặp các tác giả ngoài đời.  Tôi cũng chẳng quen biết ǵ các vị trong Chuyển Luân.  Tôi không phải là tác giả viết sách hay viết báo.  Làm sao tôi lại có “ác cảm” với tác giả Cung Đ́nh Thanh?  Vô lư đến thế là cùng!  Chẳng lẽ Lê Thành Khôi phê b́nh cuốn sách của Trần Ngọc Thêm v́ ông Khôi có ư hạ thấp vị trí cuốn sách của ông Thêm?  Trên trang nhà Chuyển Luân tháng nào cũng có bài điểm sách, chẳng lẽ những người điểm sách có thành kiến và “ác cảm” với tác giả những cuốn sách đó?!  Ông Nguyễn Đức Hiệp làm nghiên cứu khoa học ắt phải có đọc những bài điểm sách trong các tạp chí khoa học chứ, trong đó họ cũng phê b́nh thẳng thắn với nhau.  Chả lẽ phê b́nh như thế là có “ác ư” hay sao?  Thật là một tư duy quái gở!  

3/  Đề nghị nên biết ḿnh biết ta, tránh lên lớp người đối thoại.  Tôi đă nói rơ trong bài điểm sách rằng tôi không phải là người làm nghiên cứu khoa học, chuyên môn của tôi là máy tính.  Nhưng cũng xin nói thêm rằng dù tôi không làm trong nghiên cứu di truyền học như ông Nguyễn Đức Hiệp, tôi không cần phải được lên lớp bằng bài “Triết lư khoa học” nào đó của ông để biết thế nào là chân lư, thế nào là sự thật trong “Khoa học thiên nhiên” (chữ của ông Nguyễn Đức Hiệp, có lẽ ông muốn nói đến “Khoa học tự nhiên” hay Natural Sciences).  Tôi có thể t́m thấy những tri thức sơ đẳng như thế trong hàng trăm cuốn sách khoa học thường thức trên thị trường rồi.  Ở độ tuổi trung niên như tôi thiết tưởng tôi không cần đến một ông giáo khăng khăng đ̣i bổ sung những kiến thức sơ đẳng như thế.   

Tuy nhiên, nếu Nguyễn Đức Hiệp có những ư ǵ hay hơn và cao siêu hơn David Hume, Thomas Kuhn, Imre Lakatos, hay Karl Popper th́ tôi xin cúi đầu lĩnh hội, nhưng nếu ông chỉ tập tành dịch ư của những người này sang tiếng Việt (như ông dịch bài của ông Chu) th́ tôi nghĩ đọc bản gốc từ họ chính xác hơn.  Nếu bài của ông được đăng trên một tạp chí khoa học chuyên môn nào về triết lư khoa học, ông làm ơn cho tôi biết để t́m hiểu thêm và quảng bá, c̣n nếu ông đăng trong các tờ báo tiếng Việt ở Sydney hay California th́ xin ông đừng đem ra mà hù dọa tôi.  Hay là ông muốn tranh luận với tôi về triết lư khoa học?  Nếu thế, tôi rất ái ngại cho ông.  Ngay câu viết Trong khoa học thiên nhiên không có ǵ là chắc chắn 100% là sư thật (“truth”)cũng sai rồi!  Xin hỏi ông: Định lư Pythagoras có phải là “truth” không?  Thế 10 x 10 = 100 có phải là “truth” không?  Tôi nghĩ ông lầm, đáng lẽ ông phải nói “Trong khoa học thực nghiệm không có giả thuyết nào tồn tại vĩnh cửu cả” th́ đúng hơn.   

4/  Đừng dựa vào những tên tuổi người khác để biện minh v́ đó là một h́nh thức ngụy biện.  Tôi cảm thấy buồn cười khi một mặt ông muốn lên lớp tôi về khoa học, mặt khác ông trích dẫn bài b́nh luận của Alberto Pizza để biện minh cho kết quả của ông J Y Chu.  Xin đừng trích dẫn những tên tuổi lớn để hù dọa người đọc!  Xin nói thẳng bài của Pizza không phải là một nguyên tác (original contribution) mà chỉ là suy luận mà thôi.  Đối với người đọc, chỉ có dữ kiện thật mới có giá trị cao, c̣n các ư kiến dù là ư kiến của chuyên gia số một vẫn chỉ là … ư kiến.  Tôi chắc ông Nguyễn Đức Hiệp đồng ư rằng giá trị khoa học của những ư kiến như thế rất thấp, thấp nhất trong bậc thang giá trị khoa học.  Vậy th́ xin đừng đem những người đó ra để làm chứng cớ.  

            Ngay cả khi đọc một bài báo khoa học, cũng không nên cả tin vào những ǵ tác giả kết luận, vấn đề quan trọng hơn là phương pháp và dữ kiện.  Xin đưa ra một ví dụ về vấn đề này.  Trong bài “Đài Loan và Cội Nguồn Bách Việt” (Tư Tưởng số 22, tháng 3/2002), Nguyễn Đức Hiệp dựa vào bài báo của Lin và đồng nghiệp (Tissue Antigens. 2001; 57(3):192-9) và viết: “Giáo sư Lâm Mă Lư đă công bố kết quả (3) về sự liên hệ và khoảng cách của các nhóm dân trên sơ đồ cây di truyền.  Kết quả cho thấy người Mân Nam và Hakka rất gần với người Việt, Thái và các dân thuộc chủng Mongoloid Nam Á, khác xa với người Hán thuộc chủng Mongoloid Bắc Á”.  Phải nói ngay rằng công tŕnh nghiên cứu của nhiều người và bà Marie Lin chỉ là một tác giả.  Nhưng quan trọng hơn, câu hỏi đặt ra là có thể tin vào một nghiên cứu như thế hay không?  Nghiên cứu này khi đọc kỹ rất mơ hồ: các nhà nghiên cứu chỉ phân tích một mảng DNA duy nhất, đó là HLA, trên 136 người Minnan (mà ông dịch là “Mân Nam”) và 99 người Hakka, c̣n bao nhiêu người Việt, Thái, vân vân trong nghiên cứu th́ không biết.  Ai là “người Việt” và ai là “người Thái”?  Chỉ một mảng DNA th́ làm sao suy luận đâu là nguồn gốc và đâu là chi nhánh?  Nên nhớ rằng các nhà nghiên cứu tại Đại học Yale phân tích hơn 300 gen và hơn 10.000 người để có thể phát biểu về nguồn gốc và quá tŕnh di cư.  Thật là ngây thơ nếu chỉ dựa vào một nghiên cứu để đưa ra những phát biểu quan trọng.   

Cũng phải chỉ ra đây một sai lầm khác của ông trong câu “Giáo sư Lâm Mă Lư, nhà di truyền học”, v́ trong thực tế bà Marie Lin (không hiểu ông dựa vào đâu để đặt tên cho bà là “Lâm Mă Lư”?) là một bác sĩ huyết học và bệnh lư học (haematologist và pathologist), chứ không phải “giáo sư” hay “nhà di truyền học”.  Những thông tin đơn giản như thế mà ông cũng không chịu kiểm tra, vậy mà ông lớn tiếng khuyên người khác nên “đọc kỹ lưỡng”!   

5/  Nguyễn Đức Hiệp viết rằng ông có nghiên cứu về di truyền học.  Tôi không biết ông ngoài đời, nên chỉ xin ghi nhận lời ông viết.  Nhưng tôi cũng ghi nhận rằng trên hệ thống PubMed (http://www.ncbi.nlm.nih.gov/entrez/query.fcgi), tôi không t́m được một bài nghiên cứu về di truyền học nào của tác giả Nguyễn Đức Hiệp.  Có lẽ ông xuất bản các bài nghiên cứu của ông trong các tạp chí quá đặc biệt hay xuất bản vào thập niên 1950 nên tôi không t́m ra chăng?   

            Nhưng có nhiều loại di truyền học, như di truyền học trong con người (human genetics), di truyền y khoa học (medical genetics), di truyền thực vật học (plant genetics) và ngay cả trong các lĩnh vực này người ta c̣n phân biệt di truyền dân số học (population genetics), di truyền phân tử học (molecular genetics), vân vân.  Qua những bài viết của ông bạn tôi có thể quả quyết ông chưa từng làm phân tích DNA và di truyền phân tử học, ông cũng chưa tỏ ra thạo các phương pháp phân tích di truyền học, v́ một người có kinh nghiệm trong lĩnh vực này không thể có kiến thức chệnh chọang, chao đảo như thể hiện trong các bài viết của ông.   

6/  Tôi chưa bao giờ nói ông bịa văn hay gian lận trong khoa học, tôi chỉ nói có thể ông dịch không chính xác.  Ai cũng biết một câu văn trong ngoặc kép phải phản ảnh nguyên tác của tác giả ḿnh trích dẫn.  Tôi phê b́nh câu văn mà Nguyễn Đức Hiệp để trong ngoặc kép (“v́ thế có nhiều cơ sở cho thấy rằng tổ tiên của những dân cư nói tiếng Altaic bắt nguồn từ nhóm dân cư Đông Á đă đến trước đây từ Đông Nam Á, mặc dù không thể chối căi là các dân tộc nói tiếng Altaic hiện nay đă hợp chủng với những dân cư tới muộn hơn từ Trung Á đến Tây Bá Lợi Á (Siberia) và Đông Á th́ rất hoài nghi v́ thời kỳ hậu băng hà bắt đầu lùi đi cách đây chỉ 15000 năm …”) v́ nó không đúng với nguyên bản tiếng Anh.  Chẳng hạn như cụm từ “có nhiều cơ sở” không có trong bản tiếng Anh của ông Chu và đồng nghiệp.  Đó là một sai sót.   

Nếu không để trong ngoặc kép th́ người đọc có thể hiểu được ông dịch ư của tác giả.  Nếu tạm dịch th́ viết “tạm dịch” hay “lược dịch” để người đọc biết.  C̣n đằng này ông cho vào ngoặc kép th́ phải dịch cho sát nghĩa và chữ.  Đó là một quy luật sơ đẳng trong viết lách, ông phải biết chứ!  Sai th́ nói là sai, xin đừng chối căi quanh co cho mất th́ giờ!  

7/  Vấn đề dịch thuật danh từ riêng và danh từ chung.  Nguyễn Đức Hiệp cho rằng chính tôi cũng phạm phải lỗi lầm là bê nguyên xi danh từ Anh ngữ như Yunnan, Guangxi, Hainan, Hmong … mà không dịch sang tiếng Việt.  Đây là một sai lầm nữa của ông v́ có lẽ ông chưa đọc kỹ hay không hiểu tiếng Việt và không phân biệt được danh từ chung và danh từ riêng.   Đáng lẽ tôi không phí th́ giờ ở đây cho sự nhỏ nhặt này, nhưng phải nói để tác giả nhận ra một điều cơ bản: Tôi phê b́nh Cung Đ́nh Thanh bê nguyên xi các danh từ chung (như chopper, cleaver) vào sách mà không dịch, chứ không phải những danh từ riêng chỉ địa danh như trên.  Ông có thấy tôi phê b́nh Cung Đ́nh Thanh hay ông bê nguyên xi những Xiaorong Han, Choy Chiang Sactern, Austronesian, Mongoloid không?  Tôi hy vọng đọc đến đây ông đă sáng ra chút ít. 

Điều làm tôi mỉm cười là trong khi Nguyễn Đức Hiệp hăng hái chỉ dạy tôi những Yunnan = Vân Nam, Guangxi = Quảng Tây, Hainan = Hải Nam, hay Hmong = Mèo, nhưng ông có vẻ bí tịt trước những danh từ Altaic, Mongoloid, Autronesian, Austro-Asiatics … và cũng bê nguyên xi chứ không dịch sang tiếng Việt!  Ông muốn dịch Hmong là Mèo cũng được, nhưng cũng có người là dịch là “người Miêu, thậm chí “người Miao”, và ở trong nước chúng tôi vẫn viết “Hmông”.  Tuy nhiên, tôi thông cảm cho cái khó của tác giả, và không hề tỏ ư trách cứ ǵ trong các trường hợp này.  Cá nhân tôi không rành tiếng Hán, do đó rất e ngại dịch những chữ ḿnh không biết rơ.  Dịch những từ Anh ngữ (vốn đă chuyển ngữ từ tiếng Hán) sang tiếng Việt là một việc làm nguy hiểm.  Nếu tiếng Anh viết “Nguyen Duc Hiep” làm sao người đọc biết là “Nguyễn Đức Hiệp” hay “Nguyền Dục Hiếp”?  Cái khó trong việc dịch từ tiếng Hán viết qua tiếng Anh sang tiếng Việt là thế.   

8/  Mục đích của cuốn sách?  Ông Nguyễn Đức Hiệp cho biết bài ông viết chỉ dành cho người b́nh thường (“cũng nói thêm là bài viết của tôi không phải cho giới chuyên gia mà là cho người b́nh thường”.)  Tôi là người b́nh thường đây, thế mà tôi không thể hiểu nổi những chữ như “Di truyền và kỹ thuật sinh học”,  “mẫu di truyền”,  “Nhóm bộ mẫu di truyền”,  “Hệ thống di truyền người (genome)”, “Các láng giềng di truyền gần nhất”, “Cây hệ di truyền (philogenetic)”, “Khả năng sự di dân” của ông.  Một xă hội mà trong đó những người b́nh thường hiểu được “các láng giềng di truyền gần nhất” th́ xă hội đó quả siêu đẳng.  Nếu ông là một nhà di truyền học thật sự th́ sao ông không viết một bài b́nh luận gửi đăng trên một tạo chí khoa học di truyền, hay một tạp chí chuyên môn ở trong nước?  

Chẳng biết ông có hiểu những ǵ ông viết hay không?  Tôi đặt câu hỏi đó v́ ở một đọan khác ông viết về đối tượng độc giả của cuốn sách của Cung Đ́nh Thanh như sau: “Theo tôi, sách viết không phải hoàn toàn dưới dạng hàn lâm (academic) cho chuyên gia mà cũng không phải ở dạng phổ thông cho tất cả mọi người”.  Sai.  Như đă nói trên, ông Cung Đ́nh Thanh có mục đích viết sách cho mọi thành phần, từ trẻ em, thanh niên, nghệ sĩ, đến giới chuyên môn, v́ không ám chỉ các sách sử cũ viết sai nên cần phải sửa đồi.  Một đoạn kế ông viết “Sách có mục đích thông tin”.  Tôi có vài thắc mắc: Thế nào là sách “hàn lâm”?  Có phải có phần “tài liệu tham khảo” với hàng chục lỗi lầm và bảng từ mục (index) là đặc điểm của tính hàn lâm?  Xin ông làm ơn cho tôi biết sách nào không có mục đích thông tin?  Không phải là thông tin cho chuyên gia, mà cũng không phải thông tin phổ thông, thế là một quái thai thông tin chăng?  Nhưng ư ông muốn nói ǵ ở đây?  Viết cho người “b́nh thường” nên sách có quyền phạm sai sót?  

9/  Sau cùng trong thư phản hồi, ông Nguyễn Văn Tuấn biện bạch rằng ông không chủ quan.  Nhưng mỗi một bài báo về thuyết “Nam lên Bắc” th́ có ít nhất là hai bài báo về thuyết “Bắc xuống Nam” mà ông không trích dẫn.  Ông chỉ đưa thông tin một chiều.  Nếu đó không là chủ quan th́ tôi chẳng biết phải nói sao!  Tôi biết ông có làm nghiên cứu khoa học lâu năm v́ tôi t́m thấy tên ông xuất hiện nhiều lần trong PubMed, nhưng dường như ông có một cái chuẩn khi viết bài báo khoa học cho tạp chí Tây phương và một cái chuẩn cho độc giả người Việt.  Hy vọng rằng ông không có ư khinh độc giả Việt.  

10/  Một cuốn sách hay bài viết một khi đă được công bố trước quần chúng nó trở thành đối tượng của quần chúng và ḥa nhập vào đời sống tri thức của quần chúng.  Có khi ư tưởng của nó thoát khỏi tầm tay của tác giả.  Khi Truyện Kiều ra đời và ḥa nhập vào đời sống tri thức quần chúng, những câu thơ của cụ Nguyễn Du có thể vượt ra ngoài giới hạn của lịch sử, tâm lư, xă hội, và ư nghĩa của nó có thể không c̣n nằm trong ư của tác giả nữa.  Điển h́nh cho thực tế này là cách diễn dịch thơ Kiều của tác giả Cung Đ́nh Thanh trong sách của ông vậy, v́ cách diễn dịch đó có thể ra ngoài ư tưởng của Nguyễn Du.  Tương tự một khi tác giả Cung Đ́nh Thanh hay Nguyễn Đức Hiệp chấp nhận đi vào con đường chữ nghĩa, tác giả phải chấp nhận một khả năng là chữ nghĩa của ḿnh có thể vượt khỏi tầm nghĩ của ḿnh.  

Do đó, thật là cực kỳ ấu trĩ khi cho rằng tôi phê b́nh cuốn sách v́ tôi có “ác ư” với nó hay với tác giả nó, hay quy chụp tôi có động cơ này, lư do nọ, hay t́m cách “hạ uy tín” tác giả.  Không biết tác giả có uy tín ǵ trong khoa học quốc tế.  Tại sao không đối diện với những phê b́nh của tôi, mà lại lên lớp và suy đoán linh tinh như người mù sờ voi?  Trước khi lên lớp khuyên người khác nên “công tâm” và “đọc kỹ”, xin ông Nguyễn Đức Hiệp hăy tự đánh giá tính công tâm, tính cẩn thận và những hạn chế của ông trước.  Vấn đề ở đây không phải cái gọi là “công tâm”; vấn đề là đúng hay sai.  Sai phải nói là sai.  Đúng phải nói là đúng.  Chấm hết.  Sai th́ phải sửa cho thành đúng.  Chẳng có ai toàn vẹn cả, tất cả chỉ v́ mục đích học hỏi lẫn nhau.  Nếu một tác giả không có khả năng tiếp thu phê b́nh của người khác mà chỉ loanh quanh căi cọ gượng ép hay t́m cách nói xách mé th́ người đọc chỉ có thể kết luận rằng tác giả đó c̣n quá non nớt (immature).  

Không thể nói rằng sách chỉ viết cho một thành phần có học nào đó để biện minh cho những nhầm lẫn của tác giả, huống chi đây là sách nhắm đến mục đích sử liệu.  Cũng không thể nói v́ quá rành tiếng Anh (chưa được kiểm chứng) và không rành tiếng Việt nên có quyền phạm phải sai sót trong tiếng Việt.  Có trong đầu một ư tưởng như thế là có ư xem thường độc giả Việt.  Nếu chưa rành tiếng Việt th́ hăy học cái đă rồi viết, chứ đừng làm dơ bẩn tiếng Việt.  Dành một cái chuẩn cho báo chí Tây phương và một cái chuẩn thấp hơn cho báo chí Việt ngữ cũng là h́nh thức xem thường người đọc tiếng Việt.   

            Ấy thế mà ông Nguyễn Đức Hiệp hạ bút viết rằng cuốn sách của Cung Đ́nh Thanh đă hoàn thành nhiệm vụ của nó v́ khuấy động được sự chú ư của quần chúng.  Lư luận loại này nghe y như một tṛ đùa dai kiểu “Tôi đấm vào mặt anh một nhát để anh phải nhớ đến tôi, và thế là tôi đă hoàn thành mục tiêu”!  Nhưng cái gọi là “hoàn thành” đó để lại một vết thương cho người khác.  Nếu dùng cái lô-gích kiểu đó người ta cũng có thể nói một cuốn sách có nội dung dâm dục đă thành công v́ nó gây được sự ṭ ṃ của quần chúng (và đầu độc được quần chúng)!  Nếu hiểu những căi cọ, tố cáo qua, chụp mũ lại là tiêu chí thành công của cuốn sách th́ tôi phải nói cái tiêu chí của ông quả là què quặt và bệnh hoạn.  

Một khi tác giả quyết định bỏ công sức thực hiện một công tŕnh khảo cứu và đặt bút viết, tác giả đă chấp nhận một quy luật văn chương, đó là văn bản trở thành một sản phẩm tồn tại độc lập.  Những điều mà tác phẩm thể hiện không hoàn toàn nhất quán với với những dự kiến và ư đồ sáng tạo của tác giả.  Khi tác giả Cung Đ́nh Thanh cho xuất bản sách hay Nguyễn Đức Hiệp viết bài, tác giả chắc hẳn đă chuẩn bị tinh thần tiếp nhận những nhận định khác với ư tưởng của ḿnh – bất kể đúng hay sai – từ dư luận quần chúng.  Tôi bỏ tiền mua sách, và bỏ thời gian ra đọc sách?  Để làm ǵ?  Giải trí?  Không.  Tôi không có thời gian đọc sách để giải trí vô tích sự.  Tôi quan niệm đọc sách cũng là một lao động khoa học.  Đă quyết định đọc sách, tôi đă quyết định tiếp thu thông tin.  Đă có tiếp thu th́ phải xử lư thông tin, phải suy ngẫm, phải đặt câu hỏi, phải tranh luận tính hợp lư và sức phản quang của cuốn sách vào thế sự.  Bài điểm sách của tôi là sản phẩm của một lao động như thế.  C̣n những cái gọi là “công tâm”, “ác cảm” hay “cảm tính” chỉ là sản phẩm cảm tính của những tác giả có lẽ chưa trưởng thành trong môi trường chữ nghĩa, và tôi xin trả lời cho tác giả của chúng.

 

Trần Đ́nh Hoàng

16/7/2004