Lời Ṭa Soạn: Chuyển Luân nhận được bài điểm sách sau đây của Trần đ́nh Hoàng về cuốn T́m Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học của Cung Đ́nh Thanh, một thân hữu chúng tôi. Cuốn sách này đă gây ra một vài tranh căi tương tự như những cơn băo trong tách trà. Những lần tổ chức ra mắt sách ở Melbourne cũng như ở Sydney đă vô t́nh làm cho việc tranh căi đi lạc vấn đề và trở nên trầm trọng, v́ những phê b́nh đó thường không nhắm vào nội dung của cuốn sách mà có xu hướng chính trị hóa vấn đề, và tệ hơn nữa là công kích cá nhân tác giả.
Nhận thấy bài điểm sách của Trần Đ́nh Hoàng là một công tŕnh phê b́nh nghiêm túc - dù có vài điểm chúng tôi không hoàn toàn đồng ư - nên chúng tôi quyết định thông báo cho thân hữu Cung Đ́nh Thanh và phổ biến như một đóng góp cho người đọc t́m hiểu thêm về cuốn sách.
Cố nhiên, chúng tôi rất hoan hỉ đón nhận và phổ biến phần phản hồi của tác giả Cung Đ́nh Thanh.
Chuyển Luân
Thông tin biên tập: Chúng tôi đăng lại bản mới hiệu đính theo ban biên tập được sự đồng ư của tác giả, 04/07/2004.
Đọc sách:
T́m Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học của Cung Đ́nh Thanh
Trần Đ́nh Hoàng
Có một câu nói gần như đă đi vào ḷng tất cả người Việt: Nước Việt Nam có 4000 năm văn hiến. Hàm chứa trong câu nói đó là một niềm tự hào về văn minh và văn hóa lâu đời của nước ta. Nhưng nếu được hỏi cái mốc thời gian đó được tính như thế nào, thế nào là văn minh, thế nào là văn hóa, và thế nào là văn hiến, hay nét đặc trưng văn hóa và văn minh Việt Nam là ǵ th́ phần lớn người Việt, ngay cả những người có thể gọi là “có ăn có học”, đều lâm vào t́nh trạng lúng túng, và câu trả lời thường không suông sẻ chút nào. Nói một cách khác, chúng ta tin vào những ǵ đă được truyền đi từ đời này sang đời khác, chứ ít khi nào chịu khó đào sâu suy nghĩ về sự chính xác của niềm tự hào của chúng ta.
Câu trả lời cho nguyên do của sự lúng túng đó có lẽ là t́nh trạng thiếu các tài liệu về văn minh và văn hóa Việt Nam để tham khảo. Sách về chủ đề này th́ có, nhưng nói chung số lượng vẫn c̣n ít và chất lượng th́ rất khiêm tốn. Một số sách được soạn thảo trong ṿng 100 năm nay hoặc có vấn đề về tính hệ thống, hoặc thiếu tính khoa học, hoặc chủ quan, hoặc quá khô khan nên không được công chúng tiếp đón nồng nhiệt cho lắm.
T́m Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam Dưới Ánh Sáng Mới Của Khoa Học của Cung Đ́nh Thanh (sẽ gọi tắt là NGVMVN) là một nỗ lực để lấp vào những khoảng trống nêu trên. Đây là một tập hợp những bài viết của tác giả Cung Đ́nh Thanh, với phần phụ lục có đính kèm thêm các bài viết của các tác giả khác là Nguyễn Đức Hiệp, Nguyễn Văn Tuấn, Vĩnh Như và Hoài Văn Tử đă in trên Tập san Tư Tưởng (xuất bản ở Sydney, Úc châu) các kỳ trong khoảng 10 năm qua.
Có thể nói đây là một tác phẩm khá đồ sộ và được soạn với một tham vọng lớn: muốn chứng minh rằng văn minh Việt Nam có trước văn minh Trung Hoa, và quá tŕnh di dân trong thời tiền sử là từ Nam lên Bắc, chứ không phải từ Bắc xuống Nam như nhiều người vẫn nghĩ. Nên hiểu “Từ Nam lên Bắc” ở đây là cuộc di dân hay di truyền văn hóa từ Đông Nam Á lên Trung Quốc, chứ không phải chỉ từ Việt Nam lên Trung Quốc ngày nay, bởi v́ tác giả nói rơ trong thời tiền sử th́ không có một nước Việt Nam mà chỉ có vùng Đông Nam Á.
Luận điểm chính của cuốn sách có thể tóm gọn như sau: thứ nhất, trong thời tiền sử, Đông Nam Á (kể cả Việt Nam) là một cái nôi văn minh sớm nhất trên thế giới; thứ hai, sau kỷ băng hà và khi nước biển dâng cao, dân cư vùng Đông Nam Á phải tản mát ra khắp nơi, một số lên phía Bắc (tức là Trung Quốc ngày nay), và chính những người này là tổ tiên của người Trung Hoa và tạo nên nền văn minh Trung Hoa; và thứ ba, dấu vết của nền văn minh Đông Nam Á bị ch́m đắm dưới ḷng biển và chưa ai t́m ra.
Đó không phải là một luận điểm mới. Trước đây cũng có một số nhà khảo cổ, nhân chủng học Mỹ và Âu châu từng đề nghị như thế. Gần đây nhất là cuốn Eden in the East của Stephen Oppenheimer mà Nguyễn Văn Tuấn đă có bài điểm sách, trong NGVMVN có đính kèm ở phần “Phụ lục”. Tư tưởng chính của tác phẩm này là tạo dựng một thuyết rằng Đông Nam Á là cái nôi của văn minh nhân loại, và người Đông Nam Á là tổ tiên của người Đông Á và Nam Đảo. Về nguồn gốc dân tộc, ở Việt Nam có B́nh Nguyên Lộc cũng từng khẳng định nguồn gốc dân tộc Việt Nam là xuất phát từ Mă Lai. Nhưng so với các nhà nghiên cứu Mỹ và Âu châu, th́ tác phẩm của B́nh Nguyên Lộc c̣n quá yếu ớt, nặng cảm tính, nếu không muốn nói là phi khoa học và chẳng thuyết phục được giới khoa bảng.
Gần đây, ở trong nước có Trần Ngọc Thêm với tác phẩm T́m Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam cũng gián tiếp lặp lại thuyết đó. Tác phẩm của Trần Ngọc Thêm có thể nói là rất ấn tượng, v́ tác giả vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học, và sử dụng nhiều tài liệu cũ lẫn mới để thuyết phục người đọc. Nhưng không phải ai cũng cảm thấy thuyết phục. Chẳng hạn như trong bài điểm sách gần đây trên tờ Diễn Đàn, Lê Thành Khôi đă chỉ ra một số nhầm lẫn và đưa ra một vài bằng chứng để phản biện luận án của Trần Ngọc Thêm (Xem Diễn Đàn số 125 và 126, tháng 1 và 2, 2003.) Nay cuốn NGVMVN lại ra đời để lặp lại thuyết “Nam lên Bắc”.
NGVMVN được quảng bá khá rộng răi. Qua Việt Báo điện tử người viết được biết tác giả đă tổ chức ra mắt sách hai lần, với sự yểm trợ của các tổ chức cộng đồng, các tổ chức chống cộng, các tổ chức tôn giáo, vân vân. Tiếp theo những “buổi ra mắt sách” là hàng loạt bài báo có xu hướng ca ngợi cuốn sách xuất hiện trên báo chí và hệ thống truyền thanh. Phần lớn những người này là bạn của tác giả hay những người từng viết bài cho tập san Tư Tưởng (do tác giả chủ trương) và những bài khen ngợi đó được đăng lại trong Tư Tưởng hai số ra gần đây nhất. Họ khen cuốn sách và tác giả hết lời, đến nỗi người đọc đôi khi phải hỏi chẳng biết tác giả của những bài ca ngợi đó đă đọc hết cuốn sách chưa hay chỉ v́ t́nh bạn và viết vài lời cho bạn vui ḷng.
Ví dụ như khi đọc qua bài điểm sách của Nguyễn Xuân Vinh, một nhân vật có người mô tả là “thiên tài”, người đọc chẳng biết cuốn sách nói cái ǵ, và có điểm ǵ để người đọc “đem về nhà để nhớ”, mà chỉ toàn là những lời khen chung chung chủ yếu nhắm vào tác giả, chẳng có ǵ cụ thể để người ta học hỏi thêm (1). Bài điểm sách của Trần Ngọc Ninh, được giới thiệu là viện trưởng Viện Việt học (ở California), cũng khen tác giả hết lời, nhưng có điều những sự kiện và lời khen có không đúng với sự thực tế. Ở một đoạn khác, Trần Ngọc Ninh c̣n dùng cơ hội gọi là “điểm sách” để nói chuyện chính trị không dính dáng ǵ đến bài điểm sách (2). Chợt nghĩ, kiểu điểm sách như thế th́ chẳng những không đem lại được lợi lộc ǵ cho tác giả và độc giả mà c̣n có khi đưa đến một phản tác dụng -mỉa mai tác giả hay đánh giá sai giá trị thực của cuốn sách.
Lại có người có lẽ v́ hằn học với tác giả Cung Đ́nh Thanh nên t́m cách mạ lỵ cá nhân tác giả và xuyên tạc những luận điểm trong cuốn sách. Họ chẳng cần đọc sách, mà chỉ khăng khăng cho rằng tác giả lừa gạt họ v́ các tài liệu trong sách cũ rích, chứ không phải là những phát minh mới của khoa học, và c̣n cho rằng sách ông “loan truyền những tin tức phản văn hóa đầu độc mọi người”! Họ cũng cố gắng chính trị hóa vấn đề bằng cách vu khống cho tác giả là thành phần “thân cộng”. H́nh như đối với những người cuồng tín v́ hận thù chủ nghĩa này thấy cái ǵ từ “cộng sản” là sai, và bất cứ ai dính dáng (chưa biết dính dáng ǵ) với “cộng sản” là “bad guys”, là xấu, và từ đó không tin những ǵ họ nói. Thói suy nghĩ này, hay nói đúng hơn là thói ngụy biện (dựa vào phỉ báng cá nhân, thay v́ đề cập đến luận điểm của họ) đă trở thành một “văn hóa” tranh luận trong giới chống cộng ở hải ngoại.
Trước những ồn ào tiêu cực đó, thay v́ im lặng không thèm đối đáp với những lời tố cáo thấp kém đó, tác giả Cung Đ́nh Thanh đưa ra một danh sách gồm những tên tuổi quen thuộc trong giới chống cộng hung hăn nhất ở hải ngoại (như Lâm Lễ Trinh, Ngô Trọng Anh, Cao Thế Dung, vân vân) mà không nói rơ ḿnh giống và khác những người này ở những điểm nào. Không những thế, thay v́ đối đáp với những phê b́nh chính đáng, ông lại lâm vào chính con đường ṃn vu khống của những người thù nghịch ông. Hai chữ “cộng sản” đă trở thành cái biển hiệu để người ta chụp lên nhau và buôn bán danh nghĩa, ngay cả trong việc làm mang tính văn hóa.
Sở dĩ lời mở đầu dông dài như thế để bạn đọc thấy bối cảnh của bài điểm sách này. Người viết cũng chưa hề biết và diện kiến với tác giả Cung Đ́nh Thanh bao giờ, cho nên tôi cũng không có vấn đề cá nhân nào với tác giả cả. Những ư kiến này của tôi có thể xem là một góp ư của một bạn đọc có lương năng trung b́nh về văn hoá Việt Nam, nhưng thích t́m ṭi về văn hoá Việt Nam như trăm bạn đọc khác. Người viết không có “conflict of interest” v́ chẳng phải là môn đồ của thuyết “Bắc xuống Nam” hay “Nam lên Bắc”. Người viết cũng không phải là một tác gia, hay nói trắng ra người viết là một người “ngoại đạo” và “vô danh tiểu tốt”. Cái ngoại đạo và vô danh tiểu tốt đó có một cái bất lợi là ư kiến của hắn sẽ bị bạn đọc bác bỏ dễ dàng (v́ là dân ngoại đạo), nhưng có một cái lợi đáng kể: đó là hắn không phụ thuộc vào một trường phái hay phe phái nào, thấy sao nói vậy, và nghĩ cho cùng đó là một thái độ khách quan vậy.
T́m Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam gồm 3 phần với 14 chương sách và phẩn phụ lục gồm 3 bài viết của các tác giả khác. Mười bốn chương sách đưa người đọc làm quen với một số khái niệm về khảo cổ học, về quá tŕnh h́nh thành đất nước, về nguồn gốc dân tộc theo ngôn ngữ và chữ viết, về trống đồng, và về tư tưởng Việt Nam, kể cả “vấn đề tam giáo Phật – Nho – Lăo”. Trong từng chương sách, tác giả đă cố gắng tŕnh bày luận điểm của ḿnh một cách rơ ràng và thuyết phục bằng cách sử dụng khá nhiều tài liệu nghiên cứu từ nước ngoài và trong nước. Tài liệu trong nước nổi bật nhất là các bài báo trên tờ Khảo Cổ Học của Việt Nam. Tài liệu nước ngoài gồm những cuốn sách của các tác giả nổi tiếng như C. Sauer, M. Durant, P. Bellwood, v.v… Có thể nói quan điểm của tác giả chịu ảnh hưởng lớn những công tŕnh nghiên cứu này.
Một điểm mạnh của NGVMVN có lẽ là việc tác giả chịu khó sưu tầm, sử dụng và đối chiếu tài liệu nghiên cứu một cách tương đối nghiêm túc hơn so với các tác phẩm có chủ đề tương tự (như của B́nh Nguyên Lộc chẳng hạn). Tác giả cũng tỏ ra có nỗ lực trong việc đúc kết các chứng liệu khảo cổ một cách logic để biện minh cho luận điểm của ḿnh.
Một điểm son khác của cuốn sách là phần từ mục – index. Có thể nói trong hầu hết các sách bằng tiếng Việt dù viết về đề tài mang tính khoa học thường không chú ư đến phần từ mục, làm cho việc tra cứu rất khó khăn. Nhưng NGVMVN th́ có hẳn một phần từ mục khá phong phú và chính xác, giúp cho người đọc rất nhiều trong việc truy tầm từng chủ đề riêng.
Người ta thường nói văn là người, nên đọc văn có thể biết chút ít về tính cách của người viết. Qua cách hành văn trong NGVMVN, người đọc dễ dàng nhận thấy tác giả nặng ḷng và trân quư cái nôi văn hóa và dân tộc Việt Nam. Người đọc cũng có thể đoán được tác giả là một người cao tuổi, v́ lối sử dụng nhiều từ Hán Việt như “Tác giả cẩn chí” (tr. 20), “giai đoạn người Viễn cổ” (tr. 26), và khá nhiều từ được dùng một cách phóng khoáng như “học giả”, “bác học” tái hiện nhiều lần trong sách. Phải nói ngay rằng đó không phải là một điểm tiêu cực của cuốn sách, mà chỉ là cách nh́n của một người thuộc thế hệ sau, cảm thấy như đang đọc một cuốn sách được viết vào thời điểm ba hay bốn thập niên trước.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm mạnh như nêu trên, cuốn sách c̣n tồn tại rất nhiều vấn đề khác. Tôi có thể nói rằng bất cứ người đọc sách nghiêm túc nào cũng có thể đánh dấu hỏi trong mỗi trang sách, đặt vấn đề trong hầu hết các phát biểu quan trọng trong sách. Hầu như bất cứ chương nào trong sách cũng có vấn đề về cách dùng, xử lư tài liệu, hay diễn dịch dữ kiện. Phần lớn những phê b́nh của Lê Thành Khôi cho cuốn sách của Trần Ngọc Thêm cũng có thể dùng để phê b́nh cuốn sách này của Cung Đ́nh Thanh trong từng trang một. Tuy nhiên, người viết sẽ không làm như Lê Thành Khôi (tức là khui ra từng điểm nhỏ trong từng trang để phê b́nh), mà chỉ xin nêu lên vài vấn đề chung nổi cộm trong cuốn sách. Xin tác giả xem những phê b́nh này như là những góp ư và mong lần tái bản sau sẽ hoàn hảo hơn.
Cần phải nói trước rằng những phê b́nh sau đây không phải phản bác tất cả những luận điểm trong cuốn sách. Thực ra, người viết cũng thấy và từng được thuyết phục rằng Việt Nam ta từng có một nền văn hóa lâu đời, một nền văn minh khá rực rỡ trong vùng Á châu; rằng Đông Nam Á là cái nôi nông nghiệp trên thế giới; rằng có khả năng cao để tin rằng trống đồng là sản phẩm của văn minh Đông Nam Á, nhất là Việt Nam; rằng quá tŕnh di dân vào thời tiền sử là từ Phi châu sang Đông Nam Á, vân vân. Nhưng phê b́nh sau đây một phần lớn tập trung vào phương pháp làm việc, cách đặt vấn đề và giải quyết vấn đề của tác giả.
Nhược điểm lớn nhất của cuốn sách là sự thiếu tính hệ thống. Cấu trúc của cuốn sách chịu ảnh hưởng lớn từ cuốn The Origins of Chinese Civilization của N. Keightley (và ngay cả tên sách cũng chịu ảnh hưởng cuốn sách T́m Về Bản Sắc Văn Hóa Việt Nam của Trần Ngọc Thêm). Khi thấy tựa đề “văn minh Việt Nam”, người đọc có thể nghĩ ngay đến khái niệm civilization của Tây phương, đến các chủ đề liên quan đến giá trị vật chất, hay tiện nghi vật chất, nhưng trong thực tế các chương sách th́ bàn nhiều về nguồn gốc dân tộc và sự h́nh thành quốc gia, tức là những giá trị thuộc về phạm trù văn hóa hơn là văn minh! Ngay cả trong các chủ đề này, vấn đề chính là các chương sách không liên tục và gắn bó với nhau, và kết quả là một sự chấp nối thiếu mạch lạc, thiếu chặt chẽ trong quá tŕnh lập luận. Chẳng hạn như phần III của sách dưới nhan đề “H́nh thành đất nước” th́ tác giả lại bàn về thời các Vua Hùng, trống đồng, cốt lơi tư tưởng Việt Nam!
Bàn về nguồn gốc văn minh, thiết tưởng tác giả phải định cái khung thời gian, không gian cho rơ ràng trước khi bắt tay vào nghiên cứu. Nhưng rất tiếc tác giả đă không làm được cái điều căn bản và có tính cách nguyên tắc này, mà lại lan man những lĩnh vực tác giả không nắm vững và đầy đủ để bàn sâu và bàn cho kỹ. Xin nhắc lại một số niên đại để bạn đọc có thể thấy được vấn đề như sau: Ngày nay, giới nghiên cứu khảo cổ học ở nước ta đồng ư rằng Thời Nguyên thủy là thời kỳ có niên đại từ thế kỷ 7 trước Công nguyên (trCN), trong đó có thể chia ra thành 3 thời kỳ: Thời đại Đồ Đá Cũ: 14.000 năm trở về trước; Thời đại Đồ Đá Giữa: 14.000 đến 8.000 năm trở về trước và Thời đại Đồ Đá Mới: 8.000 – 3.000 năm trở về trước. Thời các Vua Hùng chỉ có thể tính từ thế kỷ 7 trCN đến 258 trCN mà thôi.
Trong khi đó cuốn sách này đề cập đến một phần là những sự kiện (như di dân từ Phi châu đến Đông Nam Á) xảy ra khoảng 100.000 năm trước đây, rồi nhảy một bước dài sang bàn về thời đại các Vua Hùng! Tức là hai khoảng thời gian cách nhau quá lớn, làm cho cuốn sách thiếu tính liên tục và những suy luận thiếu tính logic (sẽ nói sau đây). Đó là một nhược điểm lớn mà h́nh như tác giả không nhận ra xuyên suốt trong cuốn sách. Cứ mỗi khi đối đầu với những vấn đề lịch sử chưa rơ ràng (như nguồn gốc chữ viết của người Việt, như chủ nhân của Trống Đồng …) tác giả quay sang một công tŕnh nghiên cứu di truyền học để làm điểm tựa, nhưng giá trị thời gian của công tŕnh này thuộc về một thời kỳ 100.000 năm về trước!
Cũng cần phải nói rơ rằng đây không phải là một nguyên tác (original contribution) hay những phát hiện mới của tác giả, mà đúng hơn là một tổng quan tư liệu. Trong đó tác giả có công gom góp, sưu tầm những phát hiện của các nhà khoa học trên thế giới, kể cả một phần lớn từ trong nước, và đúc kết lại để biện minh cho thuyết Đông Nam Á là cái nôi văn minh của nhân loại, văn minh Việt Nam có trước văn minh Trung Quốc, và tổ tiên người Trung Hoa xuất phát từ Đông Nam Á.
Nhược điểm thứ hai là tính chủ quan của tác giả và một tham vọng quá lớn trong quá tŕnh chứng minh “thuyết Bắc tiến”. Ngay từ những ḍng chữ đầu và xuyên suốt cuốn sách, người đọc có thể thấy tác giả đề ra cho ḿnh một sứ mệnh, một niềm tin (từ Nam lên Bắc) và bằng mọi giá phải chứng minh cho được niềm tin đó. V́ quá chú tâm vào niềm tin của ḿnh, cho nên tác giả có xu hướng bỏ qua những bằng chứng và dữ kiện đi ngược lại với quan điểm của ḿnh. Lấy ví dụ như khi bàn về kết quả nghiên cứu di truyền học của J. Y. Chu và đồng nghiệp, tác giả không hề đề cập đến một số nghiên cứu khác không có cùng kết quả. Ấy thế mà tác giả lại can đảm hạ bút viết: “Và ư kiến quan trọng nhất là của GS J. Y. Chu và đồng nghiệp cho rằng cư dân ở miền Đông Trung Hoa ngày nay là hậu duệ của cư dân từ Đông Nam Á là nguồn gốc của nhân loại Đông Phương coi như đă được giải quyết dứt khoát.” (tr 325). Cho rằng ông Chu và đồng nghiệp đă giải quyết dứt khoát giả thuyết th́ quả là một phát biểu can đảm, và thiếu kiến thức căn bản về khoa học. Theo chỗ chúng tôi được giải thích, nghiên cứu của ông Chu và đồng nghiệp không phải là hoàn hảo v́ số lượng đối tượng ít, v́ dùng những mảng DNA vi vệ tinh có khả năng đột biến nhiều, cho nên kết quả đó chưa thể coi là dứt khoát được.
Một giả thuyết khoa học cần phải có nhiều bằng chứng làm cơ sở, và những bằng chứng này phải được lặp lại nhiều lần bằng một phương pháp chung và đối tượng chung th́ mới có độ tin cậy cao. Làm sao một kết quả của một nghiên cứu khoa học lại có thể giải quyết dứt khoát vấn đề? Thật ra nghiên cứu của ông Chu và đồng nghiệp chỉ là một trong nhiều nghiên cứu có nhiều kết quả trái ngược nhau. Có thể xem đó là một giả thuyết, chứ dứt khoát không thể xem là vấn đề đă giải quyết dứt khoát, bởi v́ không một giả thuyết khoa học nào tồn tại vĩnh viễn cả.
Hiện nay có nhiều giả thuyết đă được đề ra để giải thích về quá tŕnh h́nh thành của dân tộc và văn minh Đông Á và Đông Nam Á. Những giả thuyết này có thể chia thành hai mô h́nh chính: mô h́nh thứ nhất cho rằng chỉ có một đợt di dân duy nhất đến Trung Quốc; mô h́nh thứ hai cho rằng có nhiều đợt di dân. Dựa vào các dữ kiện nghiên cứu trên răng từ người cổ, mô h́nh trước cho rằng Đông Nam Á là cái quê hương của tất cả các dân tộc châu Á ngày nay. Khi nước biển dâng cao, họ phải tản cư ra khắp nơi, kể cả lên phía Bắc và ra ngoài Nam Đảo. Kết quả nghiên cứu của ông Chu và đồng nghiệp và nghiên cứu của Su và đồng nghiệp (American Journal of Human Genetics năm 2000, số 65, trang 1718-1724) phù hợp với mô h́nh này. Ngược lại, mô h́nh sau cũng có nhiều bằng chứng nghiên cứu làm cơ sở (xem nghiên cứu của Underhill và đồng nghiệp trên tập san Nature Genetics năm 2000, số 26, trang 358-361; Tokunaga và đồng nghiệp, tập san Tissue Antigens năm 1995, số 45, trang 98-102; Omoto và đồng nghiệp, tập san American Journal of Physical Anthropology năm 1997, số 102, trang 437-446). Do đó, trong quá tŕnh truy cứu tư liệu tổng quan mà đề cập đến những nghiên cứu phù hợp với giả thuyết mà tác giả tin vào, và bỏ qua những bằng chứng đối nghịch khác mà tác giả không muốn tin. Đó là một thiếu sót mang tính chủ quan.
Cũng nên mạn bàn ra ngoài một chút, trong phần phụ lục của NGVMVN có đính kèm bài điểm sách Eden in the East của Nguyễn Văn Tuấn cũng chứa nhiều nhận xét chủ quan và tŕnh bày tài liệu khoa học một chiều. Tuy tác giả này tỏ ra am hiểu về di truyền học và có nhiều dữ kiện khoa học, nhưng những nghiên cứu mà tác giả này trích dẫn chỉ nhằm cho người đọc thấy thuyết “Nam lên Bắc”, chứ ông không cung cấp cho người đọc các nghiên cứu ngược với thuyết đó! Và như thế, qua bài điểm sách này, người đọc có thể nhận thấy được t́nh cảm của người điểm sách gửi gắm vào tác giả của Eden in the East (có thể đồng quan điểm?) hơn là một bài viết khoa học nghiêm túc. Thiết nghĩ, tác giả Cung Đ́nh Thanh đưa vào phụ lục của ḿnh là một sự thiếu cẩn trọng. Nếu tác giả đọc chính cuốn Eden in the East để trích dẫn nếu cần th́ có lẽ hay hơn.
Nhược điểm lớn thứ ba của cuốn sách là vấn đề hiểu lầm kết quả nghiên cứu và do đó diễn dịch sai. Có thể nói một luận điểm lớn trong sách mà tác giả muốn tuyên bố là người Đông Nam Á, kể cả người Việt ngày nay, là tổ tiên của người Trung Hoa. Bằng chứng mà tác giả dùng để làm cơ sở cho luận điểm này kết quả nghiên cứu của J. Y. Chu và đồng nghiệp tại đại học Texas đăng trên tập chí Proceedings of the National Academy of Sciences USA (Viện hàn lâm khoa học Hoa Kỳ). Tác giả viết: “Nhà bác học J. Y. Chu, bằng di truyền học DNA, đă chứng minh được con người hiện đại phát sinh ở Đông Phi Châu đă theo đường Trung Đông đến Đông Nam Á qua ngả Nam Á. Rồi từ Đông Nam Á, họ tiến lên Trung Hoa theo đường ven biển qua Nhật Bản (lúc đó giữa đại lục và Nhật là giải đất liền) qua eo biển Bering (lúc đó cũng là giải đất liền) để vào Mỹ châu” (tr 271-272). Nhưng đó là một hiểu lầm, v́ trong thực tế Chu và đồng nghiệp không bao giờ “chứng minh” hay “cho rằng” những lời mà tác giả gán cho ông.
Ông Chu và đồng nghiệp viết như sau: “Genetic profiles of 28 populations sampled in China supported the distinction between southern and northern populations” (Tạm dịch: Phân tích di truyền trong 28 nhóm dân được lấy mẫu ở Trung Quốc phù hợp với sự khác biệt giữa người Nam và Bắc Trung Quốc) và “The phylogeny also suggested that it is more likely that ancestors of the populations currently residing in East Asia entered from Southeast Asia.” (tạm dịch: Phân tích phát sinh c̣n ám chỉ rằng các nhóm dân hiện đang ở cư trú tại vùng Đông Á châu có tổ tiên di dân từ Đông Nam Á). Cần nhấn mạnh ở đây là “ám chỉ” hay là một gợi ư, chứ không khẳng định. Sự dè dặt của ông Chu và đồng nghiệp cũng có lư do, v́ một số nghiên cứu khác không cho ra kết quả như kết quả trên của ông Chu. Người viết cũng được lĩnh hội lời giảng giải từ một số thân hữu trong chuyên ngành, có nhận xét rằng phương pháp phân tích DNA của nhóm ông Chu không phải là tối ưu, v́ như nói trên, họ dùng những mảng DNA vi vệ tinh (microsatellite markers) có tỷ lệ đột biến cao, và do đó kết quả không có độ tin cậy cao như kết quả nghiên cứu dùng nhiễm sắc thể Y (nghiên cứu của Bing Su và đồng nghiệp, American Journal of Human Genetics năm 1999 trang 1718-1724). Nói tóm lại, kết quả nghiên cứu của ông Chu và các nghiên cứu khác không thể cho phép tác giả Cung Đ́nh Thanh tuyên bố như những ǵ ông viết trong sách.
Tương tự như trên, trong phần phụ lục, tác giả có đính kèm bài viết của Nguyễn Đức Hiệp đề cập đến nghiên cứu của Chu và cộng sự cũng có một số hiểu lầm như thế và đọc rất khó hiểu. Cũng có nhiều chi tiết sai sót khác trong bài của NĐH, tuy nhiên đây không phải là chủ điểm của bài viết, nên chỉ đơn cử một trường hợp. Và cũng như thế, tác giả Cung Đ́nh Thanh nên cẩn trọng khi trích dẫn một bài viết không phải nguyên tác và điều tốt nhất là tránh trích dẫn ở mức độ thứ cấp (secondary citation) cho một công tŕnh đồ sộ như cuốn sách của ḿnh.
Tác giả c̣n trích dịch một phát biểu mà không thấy trong bản gốc của bài báo: “Ông Chu và đồng nghiệp kết luận: ‘v́ thế có nhiều cơ sở cho thấy rằng tổ tiên của những dân cư nói tiếng Altaic bắt nguồn từ nhóm dân cư Đông Á đă đến trước đây từ Đông Nam Á, mặc dù không thể chối căi là các dân tộc nói tiếng Altaic hiện nay đă hợp chủng với những dân cư tới muộn hơn từ Trung Á đến Tây Bá Lợi Á (Siberia) và Đông Á th́ rất hoài nghi v́ thời kỳ hậu băng hà bắt đầu lùi đi cách đây chỉ 15000 năm (xem h́nh 1, mũi tên gạch chấm)’.” (tr 465). Người viết bài này đọc bài báo của ông Chu và đồng nghiệp khá nhiều lần mà không t́m thấy đoạn văn nào trong bài báo như trích dẫn trên đây!
Nhân đây, v́ thấy cuốn sách đặt khá nặng vào một công tŕnh nghiên cứu của ông Chu và đồng nghiệp, người viết xin tóm lược nghiên cứu đó trong phần chú thích để bạn đọc có thể theo dơi và đối chiếu với những phát biểu trong bài điểm sách này (3).
Nhược điểm lớn thứ tư của cuốn sách là tính gượng ép trong việc diễn dịch dữ kiện. Về điểm này th́ người đọc có thể t́m thấy trong rất nhiều chương sách, nhưng trong phạm vi bài này, người viết chỉ xin nêu một ví dụ tiêu biểu. Trang 53, khi bàn về hiện tượng “biển tiến” (tức nước biển dâng cao và làm cho cư dân tản mát khắp nơi) tác giả viết: “Không phải vô cớ mà khởi đầu tác phẩm bất hủ Truyện Kiều, thi hào Nguyễn Du đă viết:
Trăm năm trong cơi người ta
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau
Trải qua một cuộc biển dâu
Những điều mắt thấy mà đau đớn ḷng
Biển dâu, băi biển biến thành nương dâu không phải là chuyện tưởng tượng mà là thực tế hiện ra trước mắt những người Việt cổ”. Có thể cách hiểu hay diễn giải của tác giả Cung Đ́nh Thanh là mới, nhưng theo cách hiểu phổ thông th́ ở đây, trong văn cảnh của Truyện Kiều, Nguyễn Du muốn nói đến sự đổi thay liên tục của cuộc đời (như “tam thập niên vi nhứt biển, thương hải biên vi tang điền, tang điền biên vi thương hải”). Người viết không tin rằng Nguyễn Du có ư đề cập đến một hiện tượng hải dương học gọi là “biển tiến”. Cần nói thêm rằng ngay cả cách trích dẫn h́nh như cũng có vấn đề, v́ nguyên bản Truyện Kiều là “Trải qua một cuộc bể dâu” (không phải “biển dâu”) và “Những điều trông thấy đă đau đớn ḷng” (không phải “mà đau đớn ḷng”), tuy nhiên những khác biệt này không làm khác đi ư chính câu thơ (xin xem Kim Vân Kiều Truyện, P J B Trương Vĩnh Kư, Sài G̣n 1875).
Ở một đoạn khác, tác giả viết: “Không phải bây giờ mà tự bao ngàn năm trước, người Cổ Việt đă quan niệm
Người trồng cây Phúc người chơi
Ta trồng cây Hạnh để đời về sau
Tất cả cái hiểu lẽ biến dịch, cái hiểu lẽ vô thường và tấm ḷng từ bi cố hữu đó là đặc điểm của văn hóa Việt. Nó vừa có ưu điểm nếu hiểu theo lẽ triết học nhân bản mà nó c̣n là nhược điểm nếu hiểu theo sự cạnh tranh trong cuộc sống để mưu đoạt tài vật.” (tr 54-55). Tác giả không cho biết hai câu thơ này xuất phát từ đâu, và từ lúc nào. Nếu không xác định được thời điểm xuất hiện câu thơ th́ người đọc phải hỏi: thế nào và tại sao là ưu điểm và nhược điểm? Chẳng lẽ văn hóa Việt chỉ gói gọn trong hai câu thơ như thế hay sao?
Điều lạ lùng nhất là tác giả cố t́m mối tương quan giữa những h́nh tượng trên Trống Đồng (như chim, thuyền, người …) và vật lư lượng tử! Tác giả viết: “Các cụ đă muốn qua h́nh học kư gửi tư tưởng thời-không tương đối , khối lượng tương đối mà đến nay Tây phương qua nhà bác học thiên tài Einstein chỉ cho mới thấy được” (tr 349). Tác giả c̣n mạo hiểm hơn và cho rằng công thức nổi tiếng E = mc2 của Einstein là một “phát minh lớn nhất của thế kỷ 20”, và cố ư cho rằng tổ tiên ta đă biết đến vật lư lượng tử từ lâu, từ hơn hai ngàn năm trước!
Có đoạn tác giả lại tỏ ra lan man, lẫn lộn giữa phương tiện và triết lư. Như ở trang 375, tác giả viết một đoạn văn hết sức khó hiểu và … vô lư: “Âm dương, dịch lư và Thiền là phương pháp duy nhất đưa con người vượt qua bế tắc ngày nay để liễu ngộ toàn triệt, bước vào huyền nhiệm”. Người ta phải hỏi ngay, bế tắc ǵ, “liễu ngộ toàn triệt” là ǵ, và bước vào “huyền nhiệm” là bước vào đâu? Thật là lạ lùng, khó có thể t́m thấy trong một cuốn sách viết về văn minh và khoa học!
Nhược điểm lớn thứ năm của cuốn sách là sự hời hợt trong việc tiếp thu và xử lư tài liệu nghiên cứu. Có lẽ xuất thân không phải là một người làm khoa học, cho nên tác giả tỏ ra tiếp nhận dữ kiện nghiên cứu khoa học một cách quá dễ dăi. Tuy tác giả tỏ ra có một danh sách dài tài liệu tham khảo, nhưng nhiều tài liệu đó không phải là nguồn chuyên môn, mà chỉ là những kiến thức phổ thông, sơ đẳng. Lấy tài liệu từ một bài viết trên tạp chí National Geographic (như bài dịch “Thắp sáng lại quá khứ lăng quên” của Hoài Văn Tử và Vĩnh Như), hay trong tài liệu của Cơ quan giáo dục tiểu bang New South Wales (để giải thích về di truyền học), hay trên tạp chí Kiến thức ngày nay (bài viết của Dương Thiệu Tống về trống đồng) … th́ không thể nào thuyết phục được những người đọc nghiêm túc. Cần phải phân biệt những bài báo được chấp nhận đăng trong các tập san nghiên cứu khoa học chuyên môn đă qua duyệt xét của đồng nghiệp, và những bài báo đăng trên các tạp chí phổ thông không hề qua duyệt xét. Những bài báo đă qua duyệt xét chưa chắc là hoàn hảo, nhưng chắc chắn chúng có giá trị khoa học cao hơn nhiều so với những bài báo trên các tạp chí không chuyên Việt ngữ.
Trang 75-77, tác giả viết những phát hiện về người Vượn lẫn người Hiện đại từ thời Pleistocene ở Thẩm Hai và Thẩm Khuyên (Lạng Sơn) có niên đại vào khoảng “ba bốn trăm ngàn năm về trước.” Sự thật th́ không phải như thế. Kết quả thẩm định 10 răng hóa thạch tại 2 địa điểm này vừa mang đặc tính loài người vượn Bắc Kinh (Sinan thropus Pekinesis) lại vừa mang đặc tính người Neanderthalesis. Nói cách khác, đây là những người vượn thuộc nhóm Homo erectus đang tiến hóa và tồn tại vào khoảng 300.000 năm, tương đương với người vượn Bắc Kinh ở Trung Quốc (xem Thành Tựu Khảo Cổ Học Việt Nam, Trung tâm Khảo cổ học Việt Nam, năm 1981).
Nhược điểm thứ sáu là tác giả thể hiện thiếu hẳn tinh thần phê b́nh và đào sâu về các vấn đề đặt ra. Tác giả đặt một số câu hỏi lớn, nhưng lại không theo đuổi hay trả lời câu hỏi do chính ḿnh đặt ra. Lấy ví dụ như trong chương 10 (Nguồn gốc dân tộc theo tiếng nói và chữ viết), sau khi lược sơ qua về gia đ́nh các ngôn ngữ trên thế giới, tác giả đặt 3 câu hỏi lớn: tiếng nói từ đâu mà có; tiếng nói có tự bao giờ; và “có sự tương đồng (congruence) giữa sự biến đổi của tiếng nói và sự biến đổi của chủng tộc theo di truyền” (tr 268). Bỏ qua một sự hiểu lầm trong câu hỏi số ba, về nội dung đó là những câu hỏi cơ bản mà ngay cả ngày nay giới nghiên cứu khoa học vẫn c̣n đang cố gắng t́m câu trả lời thỏa đáng. Thay v́ truy tầm câu trả lời một cách cặn kẽ và hệ thống, tác giả chỉ nói phớt qua mà chẳng đi thẳng vào câu trả lời. Hay có cố gắng trả lời nhưng cách lư giải c̣n quá thô sơ và sơ đẳng chẳng chứa một thông tin nào đáng kể, như: “Có một điều chắc chắn là tiếng nói của con người từ khởi thủy đến nay đă tiến triển qua nhiều giai đoạn, từ đơn sơ đến tinh tế, chứ không phải đă hoàn chỉnh ngay từ đầu.” (tr. 269). Chẳng hạn như đối diện với câu hỏi số 1, tác giả lại trích dẫn một bài báo của người bạn ông là Trần Ngọc Ninh, một người chẳng phải là thẩm quyền và cũng không phải là nhà nghiên cứu ngôn ngữ hay nghiên cứu khoa học ǵ cả. Toàn bộ câu trả lời cho câu hỏi số 1 và 2 chiếm không đầy một trang giấy! Do đó, những câu trả lời trong chương này làm cho người đọc hết sức thất vọng. Đến vấn đề thứ ba th́ tác giả tỏ ra lẫn lộn giữa mối tương quan giữa sự biến đổi của tiếng nói và biến đổi di truyền tố (gen), và mối tương quan giữa sự tiến hóa của tiếng nói và biến đổi di truyền tố. Biến đổi là một đặc tính của tiến hóa, chứ không phải là tiến hóa.
Lại có khi tác giả làm một so sánh mà người đọc phải kinh ngạc về lô-gích của tác giả: “Sự thành lập nhà nước Văn Lang như vậy, xem ra cũng giống như sự thành lập nhà nước Do Thái ngày nay” (tr 339). Thật khó mà tưởng tượng một cuốn sách được quảng bá là “khoa học” mà lại phạm phải một nhầm lẫn sơ đẳng như thế!
Hầu như không có một vấn đề nào được tác giả bàn cho đến nơi đến chốn, hay bàn một cách sâu xa. Thường chỉ nêu vấn đề, rồi loay hoay vài câu chữ là … xong! Ví dụ như bàn về “nguồn gốc dân tộc theo khoa học hiện đại” (tr 314), tác giả dành không đầy 1 trang về hiện tượng “biển tiến”, khoảng 1 trang về thuần hóa cây lúa nước, và 2,5 trang về ngôn ngữ! Chẳng những thế, tác giả c̣n khá mạo hiểm bàn về các học thuyết vật lư nữa! Thật ra, những tài liệu mà tác giả dựa vào là những cuốn sách phổ thông như quyển The Tao of Physics của F. Capra.
Tác giả dành ra một số trang để viết về nguồn gốc dân tộc Việt theo thuyết mà tác giả gọi là “huyền học”. Thú thật, tôi không hiểu huyền học là ǵ (v́ tác giả không giải thích), mà chỉ đoán là dịch từ chữ mysticism trong tiếng Anh (tức chủ nghĩa thần bí). Đọc qua câu chuyện mà tác giả cho biết từ Kim Định (nhưng không thấy đề nguồn gốc) kể rằng khoảng 80.000 năm về trước “Kỷ nguyên” (nên hiểu là “công nguyên”) ở “trung tâm Á châu, nay đă biến thành sa mạc Gobi, có một biển lớn ăn thông với Bắc cực. Giữa biển có một ḥn đảo mang tên Bạch Đảo, là nơi cư ngụ của các bậc tu sĩ thông tuệ khác thường, được dân tôn là những bậc Tiên, Thánh” (tr 304-305). Tác giả cho biết tiếp rằng sau trận đại hồng thủy, những cư dân sống sót khắp nơi tụ tập về đảo đó và được các vị “Tiên, Thánh” dạy triết học và kỹ thuật (kể cả kỹ thuật luyện kim!) Đến 35.000 năm sau đó, v́ dân chúng đông quá nên họ phải tản cư ra khỏi đảo và họ đă đến an cư lập nghiệp ở Đông Nam Á ngày nay, là chủ nhân của văn minh cổ Đông Nam Á. Đọc qua câu này người đọc cảm thấy như ḿnh đang đọc truyện thần thoại, hay truyện chưởng của Kim Dung. Thật là ngạc nhiên khi thấy tác giả lại cho vào cuốn sách những đoạn văn hoang đường như thế!
Có thể nói nhiều chỗ trong cuốn sách, có lẽ v́ nặng t́nh cảm nên tác giả sẵn sàng đánh giá thấp các dữ kiện hay quan điểm không cùng suy nghĩ với tác giả. Lấy ví dụ như ở trang 40 và 41, sau khi đọc qua những nhận xét của Trần Quốc Vượng trong cuốn Theo ḍng lịch sử Việt Nam, tác giả viết “Đấy là ư kiến của những nhà khoa học thuần túy nghiêng theo chủ nghĩa Thực nghiệm, trung thành với thuyết chừng nào có chứng liệu khoa học th́ phát biểu ư kiến, chừng nào không có chứng liệu khoa học th́ nói là không biết.” Tác giả viết tiếp “Tôi chưa bằng ḷng về câu trả lời ‘không’ đơn giản đă đành, tôi cũng chưa thỏa măn về lối giải thích trước tai họa biển tiến, con người Sơn Vi chỉ biết ‘co rút’ về các hang động Ḥa B́nh, Bắc Sơn.” Tuy nhiên, sau đó tác giả mạo hiểm vào những sử kiện khảo cổ học và hải dương học mà khi đọc xong, người đọc cũng chẳng thấy thuyết phục. Nếu đă chủ trương là “Dưới ánh sáng mới của khoa học” như tiêu đề của cuốn sách th́ tại sao tác giả lại không tin vào khoa học thực nghiệm?
Nhược điểm thứ bảy là sai lầm về lư lẽ tổng quan (ecologic arguments) và lư lẽ địa phương (local arguments). Những bằng chứng và lập luận của tác giả về nguồn gốc dân tộc mang tính tổng quan, nhưng tác giả lại có xu hướng dùng chúng để kết luận cho một giả thuyết địa phương. Ở trang 294, tác giả viết: “Công tŕnh khảo cứu của GS Chu phủ nhận người Trung Hoa đă tự sinh ra và phát triển độc lập trên đất Trung Hoa như nhiều nhà khảo cổ trước đây đă chủ trương.” Không đúng. Công tŕnh nghiên cứu của ông Chu và đồng nghiệp không nói ǵ đến chuyện “người Trung Hoa tự sinh” cả. Tác giả viết tiếp: “Giáo sư Chu kết luận riêng người phương Bắc Trung Hoa sau khi đă từ Đông Nam Á đi lên sau lại lai giống với người từ Trung Á và Âu châu di cứ đến” (tr. 295). Điều này th́ hoàn toàn sai. Công tŕnh nghiên cứu của ông Chu và đồng nghiệp cho thấy nhóm người Bắc Trung Quốc có đặc tính di truyền khác với nhóm người Nam Trung Quốc; họ không nói hay kết luận ǵ đến “lai giống” cả. Có thể nói đại đa số những suy luận và diễn giải của tác giả về nguồn gốc dân tộc đều sai lầm nghiêm trọng.
Trong một phần khác (trang 314), sau khi bàn qua về vấn đề xác định các niên đại Vua Hùng, tác giả viết “những điều viết trong sách sử về thời đại Hùng Vương cho đến nay cũng chỉ là phỏng đoán. Người ta chưa đủ dữ kiện khoa học để có câu trả lời dứt khoát cho điều ba và bốn này. Ngay cả những dữ kiện đă có h́nh như cũng chưa khai thác đúng mức.” Rồi tác giả tiếp: “Mục đích phần III viết sau đây là muốn góp một phần nhỏ trong việc bổ túc thiếu sót đó.” Thế rồi tác giả bàn về hiện tượng “biển tiến” xảy ra khoảng 8.000 năm đến 14.000 năm trước đây, và kết luận: “Sự phối hợp những kết quả khảo cổ học, ngôn ngữ học, di truyền học, thảo mộc học với việc biển tiến sẽ cho ta biết rơ hậu quả của các nền văn minh này đang bị ch́m dưới biển cả, và từ đấy có thể suy đoán chính xác hơn về thời kỳ vua Hùng dựng nước” (tr 317). Nói tóm lại, tác giả chẳng đóng góp giải thích ǵ về thời đại các vua Hùng. Việc dùng hiện tượng biển tiến để giải thích cho sự phi lư trong các niên đại Hùng Vương là một sai lầm trong ứng dụng lư lẽ tổng quan cho lư lẽ địa phương.
Chương viết về thời đại các vua Hùng cũng là một chương yếu nhất và thể hiện tính phi khoa học cao nhất. Thời đại các vua Hùng là một khái niệm nặng tính truyền thống, thậm chí giả thuyết, hơn là một kết luận khoa học. Đại Việt Sử Kư Toàn Thư viết rằng thời đại các vua Hùng bắt đầu từ năm 2879 trước Công Nguyên, và kéo dài cho đến năm 258 trước Công Nguyên. Nói cách khác trong ṿng 18 đời vua mà kéo dài đến 2621 năm (trung b́nh 145 năm cho một đời vua trị v́!), một điều không ai có thể tin được. Nay tác giả Cung Đ́nh Thanh cũng không có đóng góp nào vào việc “giải mă” sự vô lư trên, mà c̣n lặp lại những thiếu sót đó.
Tác giả cũng tỏ ra chưa biết rằng hiện nay, giới sử học Việt Nam đă đánh giá lại mối liên hệ giữa văn hóa Phùng Nguyên (tức khỏang 3.400 đến 4.150 năm trước đây) và thời đại các Vua Hùng. Hiện nay, không ai lấy niên đại của văn hóa Phùng Nguyên để minh chứng cho thời đại các Vua Hùng, bởi v́: thứ nhất, thời các Vua Hùng là thời đại văn minh (dù c̣n thô sơ) c̣n văn hóa Phùng Nguyên chỉ là … văn hóa vào cuối thời kỳ nguyên thủy mà thôi; thứ hai, văn hóa Phùng Nguyên chưa đạt đến tŕnh độ như thời các Vua Hùng, trong hơn 100 di chỉ Phùng Nguyên không có cái nào là kim loại cả.
Sẵn đây cũng nói luôn là trong Việt Sử Lược có chép: “Đời Trang Vương nhà Chu (696-682 trước CN) ở bộ Gia Minh có người lạ, dùng ảo thuật áp phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương”. Nếu dùng các niên đại này th́ 18 đời Vua Hùng là có lư. Ngoài ra, công tŕnh khảo cổ G̣ Mun phát hiện phần lớn công cụ bằng đồng trong các di chỉ khai quật được, và đây là dấu tích cho thấy một thời đại văn minh. Các di chỉ G̣ Mun có niên đại thứ 7 trước CN, hoặc có thể kéo dài thêm 3 thế kỷ trước đó. Hai dữ kiện này cho thấy rất có thể các đời Vua Hùng khởi đầu từ thế kỷ thứ 7 trước CN, tức chỉ trên 2.500 năm trước đây, chứ không phải trên 4.000 năm như chúng ta lầm tưởng.
Nhược điểm thứ tám là vấn đề tài liệu tham khảo và trích dẫn nguồn tài liệu. Ở phần trên, người viết có đề cập về nguồn tài liệu tham khảo khá phong phú, nhưng đó chỉ là phần lượng, c̣n phần chất th́ là một vấn đề lớn. Tác giả dành 42 trang “Tài liệu tham khảo” và 36 trang chú thích, nhưng khi xem xét kỹ về cách các tài liệu th́ như có đề cập trên là một số lớn tài liệu quá cũ, hay trên các diễn đàn không chuyên môn, hay từ các tác giả không chuyên. Ngoài ra, một vấn đề lớn hơn là người đọc không biết các tài liệu tham khảo trong 42 trang sách đó được sử dụng ở đâu trong cuốn NGVMVN. Xuyên suốt trong sách, tác giả viết nhiều câu văn mà không có đề rơ xuất sứ, làm cho người đọc không biết đó là sáng kiến của tác giả, hay tác giả chép lại từ sách tham khảo. Xin nêu một ví dụ tiêu biểu: tác giả viết “Nhân chủng học mô tả những người thuộc nhóm và loại h́nh Indonesian này như sau: đầu trung b́nh, mặt nh́n nghiêng hơi dô, g̣ má nổi rơ, khóe mắt mở to nhưng không có nếp mí như người Việt Nam hay người Trung Hoa nên mống mắt nh́n thấy rơ. Tầm vóc thấp, chiều cao trung b́nh là 1m60” (tr 36). Hay ở trang 323, tác giả viết: “ở Á Đông chỉ có một tiếng nói không bắt nguồn từ nền văn minh đă bị nhận ch́m ở Đông Nam Á, đó là tiếng Sino-Tibetan mà tuyệt đại đa số người Trung Hoa ngày nay đang nói.” Nhưng người đọc không biết tác giả của đoạn phát biểu quan trọng này là ai, sách nào, trang mấy? Ở trang 379, tác giả cho biết Lê Mạnh Thát đă “chứng minh rằng Việt Nam xưa kia đă có chữ viết mà tài liệu hiện c̣n thấy nhắc trong các sách sử”, và “bản Lục Độ Tập Kinh do nhà sư Khương Tăng Hội dịch [từ chữ Việt] ra chữ Hán mà trước kia người ta vẫn coi là dịch từ chữ Phạn”, nhưng rất tiếc là tác giả không cho biết nguồn gốc của lời tuyên bố quan trọng này ở đâu, sách nào, trang mấy, hay ít ra cũng phải nói qua vài hàng về cái gọi là “chứng minh” đó.
Ngoài ra, c̣n có một số h́nh ảnh mà tác giả cũng không đề xuất xứ như h́nh 62 (tr 357) và các h́nh ở trang 369. Đây là một vấn đề không thể xem thường, v́ người đọc không biết đâu là phát kiến của tác giả, và đâu là ư kiến của các nhà nghiên cứu mà tác giả trích dẫn nhưng không ghi nguồn gốc rơ ràng.
Có khi c̣n nghiêm trọng hơn là tác giả trích dẫn sai sách của người khác. Trang 258, tác giả trích dẫn sách Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim như sau: “Xét từ đời Hùng Vương thứ 18, cả thẩy 20 ông vua, mà tính từ năm Nhâm Tuất (2.879) đến năm Quí Măo (238 trước Kỷ Nguyên) …” Nhưng sách của Trần Trọng Kim (do Trung tâm Việt Nam Sử liệu xuất bản tại Sài G̣n năm 1971) ở trang 13 không có dùng chữ “Kỷ Nguyên”, ông dùng chữ “Công Nguyên”. Đây là một thiếu sót khó chấp nhận được trong nghiên cứu khoa học.
Nhược điểm thứ chín là vấn đề dịch từ chuyên môn. Trong chương 1, tác giả đề nghị xác định lại một số danh từ chuyên môn như Mongoloid, giống dân, tộc người, v.v… nhưng khi đọc kỹ th́ thấy tác giả chẳng xác định ǵ cả, ngoài việc lặp lại các định nghĩa của các sách giáo khoa. Ở một đoạn, tác giả viết “Dưới các cấp chủng tộc này là các giống người hay c̣n gọi là tộc người. […] Tộc người chính là người Việt hay người Kinh. Ngoài ra c̣n có người Mường, người Mông, người Khảm, người Katum, Sedan, người Mèo, người Dao, người Lolo, người Hà Nh́, người Cống, người Sáu D́u, người Gia Rai …”. Nhưng tác giả không giải thích thế nào là một tộc người, và thế nào là dân tộc. Do đó, trong phần này tác giả chưa hoàn thành cái mục tiêu đưa ra là xác định danh từ chuyên môn.
C̣n chữ “Kỷ nguyên” được lặp đi lặp lại nhiều lần trong sách cũng không chính xác. Kỷ nguyên là thời kỳ lịch sử được mở đầu bằng một sự kiện lịch sử lớn (hiểu theo nghĩa tiếng Anh là “epoch”, hay “era”). Đáng lẽ “Công nguyên” th́ chính xác hơn, v́ “Công nguyên” là cái mốc thời điểm lấy năm Jesus ra đời theo truyền thuyết làm năm khởi đầu.
Có nơi như trang 75, tác giả “bê” nguyên xi những chữ Anh vào sách mà không dịch ǵ cả: chopper (công cụ chặt, đốn), clever (đáng lẽ phải là cleaver, có nghĩa là dao pha).
Nhưng có nơi tác giả cố gắng dịch nhưng dịch không chính xác, hay thoát nghĩa. Chẳng hạn như “cloning”, tác giả dịch là “Phân sinh tế bào”, nhưng giới khoa học đă đồng ư chữ này nên dịch là “Tạo sinh vô tính”. Trong phần phụ lục cũng có nhiều từ dùng không đúng và nhiều câu văn đọc rất tối nghĩa. Xin đơn cử vài ví dụ: “Di truyền và kỹ thuật sinh học”, “Nhóm bộ mẫu di truyền”, “hệ thống di truyền người (genome)” … là sai. Không có “kỹ thuật sinh học” mà chỉ có “công nghệ sinh học” (biotechnology); không ai nói “hệ thống di truyền người” mà là cấu trúc di truyền; c̣n nhóm bộ mẫu di truyền có nghĩa là ǵ người viết cũng chịu (chỉ đoán là “groups of DNA sample” trong tiếng Anh). Quan trọng hơn tác giả tỏ ra không hiểu công nghệ sinh học mấy qua định nghĩa “vi vệ tinh” là những “khúc di truyền DNA ngắn”! Không đúng. Phải nói ngay rằng trong di truyền học không có vi vệ tinh mà chỉ có những microsatellite markers (tạm dịch là những mảng vi vệ tinh) gồm một mảng DNA ngắn mà các yếu tố (A G C T) lặp đi lặp lại nhiều lần (chứ không có cái gọi là “Di truyền DNA”). Ngoài ra, c̣n nhiều câu văn rất tối nghĩa như “Các láng giềng di truyền gần nhất”, “Cây hệ di truyền (philogenetic)”, vân vân.
Ngoài ra, tác giả c̣n có xu hướng thích dùng chữ “bác học”, “học giả” (“Nhà bác học J. Y. Chu”, “Giáo sư J. Y. Chu”) mà h́nh như tác giả không biết nhiều về người ḿnh đề cập. Trong thực tế, ông Chu chẳng phải là “nhà bác học” (hiểu theo nghĩa chữ “savant”), cũng không phải là “giáo sư” (theo nghĩa chữ “professor”) mà là một nghiên cứu sinh hậu tiến sĩ (post-doctoral fellow) dưới quyền của phó giáo sư L. Jin. Có nơi tác giả dùng cụm từ “Học giả họ Lê” (tr 379, chỉ Lê Mạnh Thát, tác giả bộ Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam). Tại sao không nói thẳng là Lê Mạnh Thát mà phải dùng những kiểu diễn tả quá “Tàu” như thế? Thêm vào đó là một số tên người ngoại quốc cũng viết sai, như “Francois Bacon” (tr 343) mà đúng ra là “Francis Bacon”, “La Place” đúng ra là “Laplace” (tr 343), vân vân.
Một cuốn sách viết về văn minh cổ mà lại phạm phải những nhầm lẫn sơ đẳng và đáng tiếc như thế th́ cũng là một ngạc nhiên lớn!
Nhược điểm thứ mười là cuốn sách tuy bàn về văn minh nhưng lại chứa một ít chính trị tính trong đó. Chẳng hạn như trong chương 1, tác giả cho vào một số “liều lượng” chính trị: Ở trang 304, tác giả viết “Cũng trong chiều hướng đó, cũng bằng phương pháp huyền học, một tác giả khác có lẽ cũng ở lứa tuổi cụ Kim Định – cụ Huy Việt, năm nay 93 tuổi – sống dưới sự kiểm soát khắt khe của chế độ cộng sản, nhưng vẫn sinh hoạt văn hóa, vẫn âm thầm sáng tác, vừa gửi ra sơ thảo cuốn ‘Nguồn gốc dân tộc Việt của cụ’.” (tr 304). Người đọc thấy ngay sự mâu thuẫn trong câu văn hời hợt và gượng ép đó: đă bị “kiểm soát khắt khe” sao lại gửi ra ngoài một tác phẩm văn hóa? Và tại sao tác giả không biết về Huy Việt mà lại nói là “vẫn âm thầm sáng tác”?
Có khi tác giả tỏ ra quá dễ dăi trong việc nhận định những câu văn của người khác. Xin đưa ra một ví dụ tiêu biểu ở ở trang 423 (gần đoạn cuối cuốn sách), tác giả tỏ vẻ tâm đắc với một câu phát biểu chỉ có thể nói là kỳ dị: “Ba bậc tiền nhân như một Nguyễn Trăi, một Nguyễn Bỉnh Khiêm, một Nguyễn Du hẳn thừa khả năng để đúc kết xây dựng nên một triết lư, một hệ thống tư tưởng Việt Nam. Các vị đó đă linh cảm không nên làm, không nên chỉ chỗ ‘dấu của’ cho kẻ thù trông thấy.” Sự tâm đắc của tác giả là cho đến nay, chúng ta chưa t́m được một hệ thống tư tưởng Việt thời xưa là v́ tiền nhân của chúng ta … biết mà không viết ra đó thôi!
Câu hỏi đặt ra là cuốn sách nên được đánh giá như thế nào? Ư kiến của người viết bài này như sau: Cuốn sách này chắc chắn không thể được xem là một giáo tŕnh giảng dạy mà tác giả tỏ ư mong muốn, bởi v́ cuốn sách chưa thể hiện tính trung thành với khoa học, trung thành với lịch sử, và do đó, vi phạm nguyên tắc sư phạm. Nó càng không phải là một thông sử, bởi v́ cuốn sách thường dựa trên những hiểu lầm, thiếu tính liên tục, và hậu quả là không có một vấn đề nào được phân tích hay giải quyết cho tới nơi tới chốn.
Cuốn sách cũng không thể xếp vào thể loại chuyên luận, hay khảo cứu lịch sử, bởi v́ nó không đạt tinh thần và cách tŕnh bày của một công tŕnh như thế. Như đă đề cập trên trong sách có khá nhiều diễn dịch sai các dữ kiện khoa học. Các bằng chứng khoa học như sinh học phân tử có thể là định lượng, hay có thể là định tính để chứng minh cho một luận điểm cụ thể, do đó không nên dựa vào những bằng chứng cho luận điểm A để suy luận cho luận điểm B. Viết không chứng cớ hoàn toàn không thích hợp với hoạt động nghiên cứu khoa học. Thay v́ tŕnh bày vấn đề một cách logic và tŕnh tự, cuốn sách là những ư tứ lan man, đi hết từ đề tài này (như lịch sử) sang đề tài khác (như di truyền học) và cuối cùng th́ người đọc chẳng biết tác giả đi đến kết luận ǵ hay chỉ làm cho vấn đề thêm rối rắm một cách không cần thiết.
Như trong phần đầu, người viết đă nhận xét, và cần phải nhấn mạnh ở đây một lần nữa rằng cuốn sách này không phải là một nguyên tác nghiên cứu theo đúng nghĩa của nó, v́ sách không hàm chứa một cống hiến mới nào của tác giả. Tuy nhiên tác giả cố gắng phủ nhận một vài nhận thức cũ, nhưng rất tiếc là tác giả không có đầy đủ chứng cớ khoa học để thuyết phục người đọc.
Có lẽ chính xác nhất nên xem đây là một tập bài viết tài tử về khảo cổ, lịch sử và di truyền học. Tài tử không phải là điều đáng chê trách. Với các vấn đề di truyền học và khảo cổ học, Stephen Oppenheimer là một tài tử (ông này xuất thân là một bác sĩ nhi khoa), nhưng ông có khả năng diễn dịch và kết hợp chứng cớ khoa học có hệ thống, và quan trọng hơn hết ông có kinh nghiệm thực tế trong nghiên cứu khoa học, nên ư kiến của ông được đánh giá cao. C̣n ở đây, tác giả NGVMVN không có các năng lực chuyên môn trong lĩnh vực khoa học mà ông muốn bàn, cho nên không có một vấn đề nào được đào sâu để cho ra một lời giải thích mới hay một phát kiến có ích. Cuốn sách là một pha trộn những thông tin về sinh học, một số sử liệu mang hơi hám huyền bí và hậu quả là một cuốn sách không có giá trị văn hóa. Cuốn sách này thể hiện một tư duy quá dễ dăi trong khoa học và sử bút, và có khi c̣n biểu hiện một sự xem thường tri thức về lịch sử và khoa học của đám đông dù có thể ngoài ư muốn tác giả.
Điều phải nói dù có làm buồn tác giả là cuốn sách này gần giống như hàng trăm cuốn sách in ấn ở hải ngoại, do các tác giả thường có chữ “nhà” phía trước tên họ (“nhà nghiên cứu”, “nhà phê b́nh”, “nhà lư luận văn học”, vân vân) hoặc tự phong, hoặc do bạn bè (cũng là các “nhà”) xưng tụng. T́nh trạng lẫn lộn vàng thau như thế xem ra càng ngày càng thê thảm với phong trào “trăm hoa đua nở” trong cái gọi là “về nguồn”, là “nghiên cứu văn hóa”, là “nghiên cứu văn minh Việt Nam” mà hàng trăm “nhà nghiên cứu” hải ngoại đang làm hay sắp làm. Nh́n ở khía cạnh tích cực, điều này cũng không quá xấu, v́ nó chứng tỏ có nhiều người c̣n quan tâm đến câu hỏi “chúng ta là ai”, một câu hỏi mang tính văn hóa.
Nhưng văn hóa, lịch sử và văn minh Việt Nam là một đề tài rất khó để có thể gói gọn trong một cuốn sách như cuốn T́m Về Nguồn Gốc Văn Minh Việt Nam, và cũng không thể nào thực hiện bởi một cá nhân, dù cá nhân đó có tài ba đến đâu (huống hồ chi là một người không được đào tạo có hệ thống). Đây là những vấn đề lớn cần phải được nghiên cứu nghiêm túc, có hệ thống và đ̣i hỏi cộng tác của nhiều chuyên gia. Chúng ta không cần đến những ước lệ và “sáng tạo” theo kiểu dân gian mà giới tài tử vẽ ra bấy lâu nay. Song, chúng ta cần đến những công tŕnh nghiên cứu làm rơ hay phát triển những vấn đề mang tính truyền thống và ước lệ thành khái niệm khoa học hoàn chỉnh. Một khi có được một phát triển như thế th́ cống hiến vào việc khôi phục bộ mặt lịch sử và văn minh Việt Nam thời cổ đại mới có ư nghĩa. Rất tiếc là cuốn sách này v́ có quá nhiều nhược điểm nên chưa cống hiến ǵ đáng kể trong chiều hướng đó.
Trần Đ́nh Hoàng.
Chú thích:
Người viết bài này xin chân thành cám ơn BS NDK đă bỏ nhiều thời gian công sức để giảng giải về chủ đề di truyền học cũng như những vấn để liên quan đến y học, cung cấp tài liệu chuyên ngành, hiệu đính và tu bổ những phần dịch thuật, trích dẫn các tài liệu liên quan đến Y học để làm sáng tỏ thêm vấn đề, và sau hết là đă đọc và chữa giúp bản thảo bài điểm sách này.
(1) Trong bài điểm sách NGVMVN, Nguyễn Xuân Vinh viết: “Tuy sách viết về tư tưởng thiên về triết học, phối hợp với các lư thuyết khoa học về nguồn gốc văn minh …”. Thực ra, sách này không phải là sách về triết học, cũng chẳng chủ tâm bàn về tư tưởng! Sách cũng chẳng có cái gọi là “lư thuyết khoa học về nguồn gốc văn minh”. Một đoạn khác ông viết: “[Ở] mỗi chương tác giả lại tŕnh bầy một vấn đề riêng biệt và trọn vẹn, làm cho người đọc có thể lấy bất kỳ chương sách nào để đọc và hiểu biết thấu đáo về đề tài tŕnh bầy trong chương sách”. Điều này cũng không đúng, v́ như đă đề cập đến trong bài này, không có chương sách nào được tŕnh bày trọn vẹn cả, và khi đọc cả chương, người đọc cũng chẳng hiểu ǵ hơn là những kiến thức khoa học thường thức.
(2) Chẳng hạn như trong bài của Trần Ngọc Ninh, tác giả sau khi phê phán về tính tự ti của người Việt, ông quay sang phê rằng ông đại sứ của Việt Nam (mà Trần Ngọc Ninh gọi là “Việt Nam XHCN”) không đại diện cho nước Việt Nam mà chỉ đại diện cho quyền lợi của Đảng và chính phủ ông. Không hiểu Trần Ngọc Ninh hiểu thế nào là “đại diện cho nước Việt Nam”. Thế những vận động và phấn đấu để Nhă nhạc của Việt Nam được công nhận là di sản văn hóa thế giới có phải là làm việc cho văn hóa và dân tộc Việt Nam không? Dùng cách đặt vấn đề của Trần Ngọc Ninh người ta cũng có thể nói rằng John Negroponte chẳng đại diện cho quyền lợi của nước Mỹ mà chỉ đại diện cho quyền lợi của chính phủ Bush và Đảng Cộng ḥa! Xin nhắc lại, ở đây, chúng ta chỉ bàn chuyện văn hóa và văn minh Việt Nam, hay nói rơ hơn là văn minh cổ Việt Nam; nó chẳng dính dáng ǵ đến chuyện ông đại sứ Việt Nam tại Liên Hiệp Quốc.
Một đoạn khác, Trần Ngọc Ninh viết: “[M]ột người thất học cũng biết là lí tưởng của giai cấp công nhân là trong câu hô của Karl Marx: ‘Công nhân của tất cả các nước! Hăy đoàn kết lại!” Nhận xét của Trần Ngọc Ninh thật là đơn giản! Ấy thế mà ông c̣n thêm một câu chẳng ai biết ông muốn nói ǵ: “Căn-cước tính mà Đảng [Cộng sản Việt Nam] định nhuộm, nhân dân theo Đảng là một căn cước tính quốc tế (nay đă cụt đầu), c̣n nhân dân không theo Đảng sẽ chỉ là một thứ ‘nhân dân phi-nhân-dân’.” Một đoạn khác, Trần Ngọc Ninh c̣n tỏ ra nhầm lẫn sử kiện khi ông viết “Nhưng đến thế kỷ thứ Mười Sáu xẩy ra sự tiếm ngôi của một quyền thần họ Mạc (1526). 16 Tuy kỉ Nhà Mạc khoảng 150 năm …” Nên nhớ rằng nhà Mạc “tiếm quyền” từ năm 1527 (không phải 1526), và sự cai trị của Nhà Mạc cũng chỉ kéo dài 66 năm (từ 1527 đến 1595), c̣n từ năm 1533 trở về sau, khi có nhà Lê Trung Hưng th́ Nhà Mạc được xem như là “ngụy triều” đến năm 1677 th́ mất hẳn. Người viết cũng chẳng hiểu “Tuy kỉ” là cái ǵ?
(3) Tóm lược công tŕnh nghiên cứu của J.Y. Chu và đồng nghiệp:
Đặt vấn đề: Trung Quốc là một quốc gia gồm 56 tộc người (c̣n gọi là dân tộc); trong số này người Hán chiếm khoảng 93,3%; phần c̣n lại phân bố trong 55 dân tộc khác sống trên khắp miền Trung Quốc. Các dân tộc này nói 205 thứ tiếng khác nhau trên khắp nước Trung Quốc. Trước đây, giới nhân chủng học ghi nhận những khác biệt giữa người Hán ở miền Nam và người Hán ở miền Bắc Trung Quốc, và họ tin rằng sự khác biệt đó là do điều kiện cách trở địa lư.
Mục đích: Công tŕnh nghiên cứu này muốn t́m hiểu sự khác biệt giữa các dân tộc Trung Hoa qua phân tích di truyền. Hiểu được nguồn gốc dân tộc Đông Á có thể cho chúng ta biết thêm về các làn sóng di cư ở vùng Siberia và Mỹ châu.
Đối tượng: Nghiên cứu trên 28 dân tộc (xem bản thống kê sau đây) thuộc 6 hệ ngôn ngữ, những người đang sinh sống tại Trung Quốc, Đài Loan, và Mỹ. Ngoài ra, tác giả c̣n thêm một số đối tượng gốc Hàn Quốc và Nhật Bản. Tác giả không cho biết có bao nhiêu đối tượng trong mỗi dân tộc.
| |||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||