|
Vài bài học lịch sử đế quốc
Nguyễn Văn
Ngày 28 tháng Sáu năm 2004, Toàn quyền Paul Bremer thay mặt cho chính phủ Mĩ bàn
giao chính quyền lại cho một nhóm người Iraq. Báo chí Tây phương, chủ yếu là
báo chí Mĩ, hoan hỉ loan tin như là một sự kiện trọng đại. Họ cho rằng Mĩ đă
làm xong nhiệm vụ giải phóng Iraq và nay đến lượt người Iraq phải tự lo liệu lấy
cho ḿnh. Trên danh nghĩa, lịch sử Iraq đang sang trang, nhưng trên thực tế ai
cũng biết chính quyền mới của Iraq chỉ là một chính phủ bù nh́n, mà người đứng
sau giật giây vẫn là những người theo chủ nghĩa Tân bảo thủ trong chính phủ ông
Bush.
Giới báo chí Tây phương gọi đây là một pseudo-state, nhà nước giả tạo.
Tại sao? Tại v́ trên thực tế, chính phủ này chẳng có quyền hạn ǵ cả; Mĩ vẫn
c̣n nắm quyền kiểm soát Iraq. Các quan chức trong chính phủ Bush chẳng dấu diếm
ǵ sự giật giây của họ. Bộ trưởng quốc pḥng Donal Rumsfeld từng nói bất kể
người dân Iraq muốn ǵ, Mĩ sẽ không để cho Iraq có một chế độ như Iran. Nói
cách khác, Mĩ vẫn phải kiểm soát và chi phối Iraq từ nội an, quốc pḥng, kinh tế
đến ngoại giao. Ngay cả người đứng đầu của chính phủ lâm thời Iraq cũng là một
người của CIA (1).
Với một sự dàn xếp như thế, một câu
hỏi mà nhiều người đặt ra ngày nay là Iraq sẽ đi về đâu? Để đoán biết t́nh h́nh
Iraq sẽ đi về đâu, chúng ta cần phải dở vài trang sử cũ. Những trang sử sẽ cho
chúng ta thấy Mĩ chưa bao giờ có thành tích xây dựng nền dân chủ cho những nước
mà họ đi “giải phóng”. Hăy lấy trường hợp Phi Luật Tân làm ví dụ. Năm 1898,
trong cuộc chiến Mĩ – Tây Ban Nha, Hải quân Mĩ đánh bại và hất cẳng Tây Ban Nha
ra khỏi Phi Luật Tân. Nhưng thay v́ sáng lập ra một nước Phi Luật Tân dân chủ,
chính phủ Mĩ dưới quyền Tổng thống McKinley thôn tính và biến Phi Luật Tân thành
một thuộc địa. Sau đó, Mĩ tiến hành một cuộc chiến tàn bạo chống lại phong trào
kháng chiến Phi mà Mĩ từng hết ḷng yểm trợ trước đó trong cuộc chiến chống Tây
Ban Nha. Cuộc chiến chống Phi Luật Tân của Mĩ kéo dài suốt 14 năm trời, gây ra
cái chết cho hơn 4,000 lính Mĩ, và hơn 200,000 người Phi Luật Tân. Cả thế kỉ
sau, người Phi vẫn c̣n nhớ đến cuộc chiến đẩm máu này (2).
Cũng như ở Iraq hiện nay, Chính phủ Mĩ từng khoe khoang rằng họ là người giải
phóng và lập nền dân chủ cho Phi Luật Tân, một nền dân chủ đầu tiên tại Châu Á.
Thế nhưng sự thật th́ khác hẳn 180 độ. Mĩ chẳng những không có công ǵ trong
cái gọi là lập ra nền dân chủ cho Phi, mà c̣n thiết lập một chính quyền phi dân
chủ nhất cho Phi. Guồng máy tuyển cử do Mĩ lập ra ở Phi vào năm 1946 chỉ là cái
“vành đai dân chủ”, mà phía trong là một số ít đại gia đ́nh, là đồng minh của
giới đầu tư Mĩ hoàn toàn kiểm soát đất đai, kinh tế, và xă hội Phi. Hệ thống
bán gia đ́nh trị này bị sụp đổ vào năm 1973 khi Ferdinand Marcos tự xưng tổng
thống vĩnh viễn của Phi Luật Tân. Thế rồi năm 1986, Marcos bị hất cẳng.
Nhưng ngay cả ngày nay, nền dân chủ Phi Luật Tân vẫn chỉ nằm trong mơ chứ chưa
bao giờ thành sự thật. Ba tháng trước khi Bush viếng thăm Phi Luật Tân, một
nhóm lính Phi nổi loạn đ̣i thay đổi chính phủ. Trong t́nh h́nh hiện nay, với
các nhóm phiến loạn Hồi giáo và cực đoan khác, Phi Luật Tân là một nước phi
chính quyền nhất, là một nhà nước bất ổn nhất trong các nước Á châu. Nếu bài
học lịch sử của cái gọi là “giải phóng” ở Phi Luật Tân là một cơ sở phán đoán,
th́ chúng ta cũng có thể nói người Mĩ đă xâm lăng Iraq với hai con mắt nhắm
nghiền.
Trước khi chiếm đóng Phi Luật Tân, Hoa Ḱ cực lực chống lại những đế quốc thuộc
địa như Anh. Nhưng một khi đă khống chế và nắm lấy các phần đất thuộc đế quốc
Tây Ban Nha, Mĩ trở thành một đế quốc mà chính Mĩ từng chống lại quyết liệt. Mĩ
muốn trở thành một Anh, Pháp, Nga, hay Nhật. Tổng thống Theodore Roosevelt từng
gọi ư đồ đế quốc này là “the domination of the world” – thống trị thế giới.
Một số người Mĩ lí giải rằng Mĩ cần thuộc địa để phát triển kinh tế và quân sự,
để t́m thị trường mới cho giới tư bản. Nhưng những kẻ chủ trương đế quốc, kể cả
những kẻ truyền đạo trong Phản thệ giáo, cũng xem công cuộc bành trướng ảnh
hưởng và lănh thổ là một nghĩa vụ của Mĩ, nghĩa vụ ban phát văn minh và dân chủ
cho các nước “kém văn minh”. Qua việc thôn tính và biến các nước ngoài Mĩ thành
thuộc địa, Mĩ có thể truyền bá các giá trị chính trị, tôn giáo Kitô. “Lănh
thổ đến với chúng ta khi chúng ta gây chiến v́ những nguyên nhân thánh thiện,”
Tổng thống William McKinley từng nói như thế tại Phi Luật Tân vào tháng 10 năm
1900. Lập trường này c̣n được một sử gia nổi tiếng (mà sau này là Hiệu trưởng
trường Đại học Princeton): Năm 1901, Woodrow Wilson bảo vệ việc chiếm đóng Phi
Luật Tân bằng lập luận: “Dù muốn hay không, phương Đông cần phải được mở mang
và thay đổi; các tiêu chuẩn của Tây phương phải được áp đặt trên các tiêu chuẩn
của Đông phương; các quốc gia và dân tộc đă từng tồn tại qua nhiều thế kỉ phải
được nhanh chóng biến thành một bộ phận của thế giới thương mại, và cho họ tiếp
thu những tư tưởng đă từng làm cho Tây phương tiến bộ.”
Nhưng trớ trêu thay, chính Wilson và Theodore Roosevelt là hai tổng thống đầu
tiên khám phá rằng cuộc thí nghiệm với chủ nghĩa đế quốc không thể thành công.
Trước đó, Roosevelt là người muốn Mĩ phải tiến chiếm các lănh địa thuộc đế quốc
Tây Ban Nha; ấy thế mà khi trở thành tổng thống vào năm 1901, tinh thần đế quốc
của ông lại suy tàn theo thời gian. Trong thời làm tổng thống ông từ chối chiếm
Cộng ḥa Domican, và biến Mĩ thành một nước trung gian trong các cuộc đàm phán
thay v́ một nước cạnh tranh đi t́m thuộc địa mới.
Khi đắc cử tổng thống, Wilson huênh hoang cho rằng ông có thể “dạy các nước cộng
ḥa Nam Mĩ cách tuyển cử những người tốt”. Sau khi Tướng Victoriano Huerta tổ
chức ám sát Tổng thống Francisco Madero (người được dân bầu trong một cuộc bầu
cử dân chủ ở Mexico) và nắm quyền vào tháng 2 năm 1913, Wilson hứa sẽ tống cổ
tên quân phiệt, và gửi quân Mĩ vượt biên giới sang Mễ Tây Cơ. Nhưng thay v́
được chào đón như là đoàn giải phóng quân, lính Mĩ đương đầu với một phong trào
kháng chiến và biểu t́nh liên tục, làm cho các đối thủ của chế độ quân phiệt
Huerta đoàn kết lại quyết tâm đuổi Mĩ. Ở thành phố Mexico, học sinh hô khẩu
hiệu, “Death to the Gringos.” Các cơ sở thương mại của Mĩ ở Mễ Tây Cơ phải đóng
cửa. Tờ báo El Imparcial tuyên bố, “Đất tổ đang bị hăm hiếp v́ ngoại
xâm! Chúng ta sẽ chết, nhưng chúng ta hăy giết!” Wilson học một bài học cay
đắng về thiết lập dân chủ trong một nước không cùng văn hóa với Mĩ.
Trong Thế chiến thứ nhất, Wilson rút ra nhiều kết luận mạnh về vai tṛ của đế
quốc và chủ nghĩa đế quốc. Cũng giống như Roosevelt và nhiều lănh tụ Âu châu
khác, Wilson thật sự tin rằng sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc sẽ đem lại
văn minh, ḥa b́nh, tư bản, và cải thiện đời sống cho dân chúng thuộc các quốc
gia được xem là “man rợ”. Nhưng sự thật phũ phàng hơn cái viễn ảnh đó: sự có
mặt của đế quốc tại các nước thuộc địa làm cho dân chúng địa phương nhất ḷng
đoàn kết chống lại các thế lực đế quốc. Cuối cùng Wilson đi đến một kết luận:
muốn loại trừ chiến tranh, chỉ có cách là giải tán thể chế thực dân, cho người
dân địa phương có quyền tự trị.
Sau Thế chiến thứ nhất, Wilson cố thuyết phục đồng minh từ bỏ chế độ thực dân và
từ bỏ giấc mộng đế quốc, nhưng Wilson thất bại nặng nề. Đến Thế chiến thứ hai,
Franklin Roosevelt tiếp tục đường lối của Wilson, tức là t́m cách giải thể chủ
nghĩa đế quốc. Nhưng sau chiến tranh, cả Anh và Pháp vẫn không từ bỏ chủ nghĩa
đế quốc, mà c̣n cố gắng bám víu vào các nước thuộc địa cũ ở Phi châu và Đông Nam
Á. Mặt khác, Nga bành trướng thế lực ḿnh sang các nước Đông Âu, Nam Âu và Tây
Á. Phản ứng trước sự bành trướng đó, Mĩ cũng t́m cách trở thành một đế quốc,
hay nói đúng hơn là “tân đế quốc”: thay v́ thôn tính các nước khác, Mĩ áp đặt hệ
thống kinh tế và chính trị của ḿnh lên các nước nhỏ yếu hơn, và t́m cách tạo
nên những chính phủ thân thiện với Mĩ. Do đó, chủ nghĩa đế quốc vẫn tồn tại
trong thời Chiến tranh Lạnh, nhưng dưới h́nh thức đấu tranh giữa chủ nghĩa tân
đế quốc (núp dưới mĩ từ “thế giới tự do”) và chủ nghĩa cộng sản.
Trong thời Chiến tranh lạnh, Mĩ t́m cách can thiệp và gây bất ổn định cho các
nước Mĩ muốn bành trướng thế lực. Chẳng hạn như trường hợp Iran, năm 1953,
chính phủ Mĩ bật đèn xanh cho CIA lật đổ chính phủ của thủ tướng Mohammad
Mossadeq và thiết lập một chế độ quân chủ dưới quyền của vua Iran (tức shah),
mà trước đó Anh đă từng thiết lập vào năm 1941. Trong vùng Trung Đông, Mĩ được
xem là một đế quốc mới, kế thừa vai tṛ của đế quốc Anh. Ở Việt Nam, Cam-bốt và
Lào, Mĩ cũng t́m cách thiết lập những chính phủ bù nh́n thân Mĩ, nhưng hậu quả
là một thất bại thê thảm.
Sau khi Chiến tranh Lạnh chấm dứt, Bush cha và Clinton lại tiếp tục chủ nghĩa
Wilson, t́m cách giải thể chủ nghĩa đế quốc đă từng gây nên hai trận thế chiến,
và hàng trăm cuộc chiến lớn nhỏ trên khắp thế giới. Trước t́nh h́nh Iraq xâm
lấn Kuwait, Bush cha khôn khéo tranh thủ sự yểm trợ của Liên hiệp quốc và đồng
minh Ả Rập để đầy lùi Saddam Hussein. Clinton cũng sử dụng một chiến lược tương
tự khi can thiệp vào cuộc khủng hoảng trong vùng Bulkans.
Đến thập niên 1990s, giới Tân bảo thủ ra đời, và họ hành động như là những người
đế quốc. Những người như Wolfowitz, Boot, Perle, Kritol (chủ bút tờ Weekly
Standard, v.v… nắm giữ một số chức vụ quan trọng trong chính phủ ông Bush, và
chính họ là kiến trúc sư của cuộc xung đột tại Iraq ngày nay. Đầu thế kỉ 20,
Theodore Roosevelt và Henry Cabot Lodge là những người chống lại nỗ lực giải tán
chủ nghĩa đế quốc của Tổng thống Grover Cleveland. (Đến khi McKinley đắc cử
tổng thống năm 1896, Roosevelt tham gia chính phủ với chức vụ thứ trưởng bộ hải
quân). Do đó, có thể nói giới tân bảo thủ ngày nay chính là hiện thân của giới
bảo thủ Mĩ vào đầu thế kỉ 20.
Al Qaeda và các tổ chức khủng bố ngày nay là sản phẩm hay hệ quả của quốc gia
chủ nghĩa chống lại đế quốc chủ nghĩa. Các phong trào Hồi giáo công khai mô tả
chủ nghĩa đế quốc Tây phương là kẻ thù của họ. Nếu có cái ǵ khác biệt giữa các
phong trào chống Tây phương, có lẽ thái độ đối với phụ nữ của nhóm Hồi giáo cực
đoan là một đặc điểm chính. Nhưng sau biến cố 9/11, trong khi Washington t́m
hiểu cái ǵ đă xảy ra, giới Tân bảo thủ cho rằng các phong trào này là sản phẩm
của Hồi giáo loạn trí, được nung nấu bằng ḷng ganh tị trước sự thành công của
Mĩ. Giới Tân bảo thủ bác bỏ ảnh hưởng của cuộc xung đột Do Thái và người
Palestine. Thế rồi, khi bọn Taliban bị hất cẳng ra khỏi Afghanistan, giới Tân
bảo thủ bắt đầu nhắm vào Baghdad. Họ lí giải rằng cần phải lật đổ Saddam
Hussein để thiết lập nền dân chủ cho Trung Đông, và qua đó dần dần biến các chế
độ độc tài khác trở thành các chế độ thân Mĩ, nằm dưới sự kiểm soát của Mĩ. Họ
xem thường, và thậm chí chẳng cần bận tâm đến ảnh hưởng của chủ nghĩa quốc gia Ả
Rập. Quan điểm này làm chúng ta nhớ đến thời đầu thế kỉ 20, năm 1899, giới
thượng lưu Phi Luật Tân cũng từng cố vấn cho Tổng thống McKinley rằng Mĩ không
cần phải quan tâm đến “tinh thần quốc gia” của người Phi. Tương tự, năm 2003,
giới Tân bảo thủ và nhóm người Iraq lưu vong thuyết phục Tổng thống Bush không
cần phải quan tâm đến chủ nghĩa quốc gia Ả Rập, và lính Mĩ sẽ được chào đón với
những ṿng hoa.
Khi Baghdad thất thủ vào tháng Tư năm 2003, hoa chào mừng đâu chẳng thấy, mà chỉ
thấy toàn cảnh chết chóc và kháng chiến chống Mĩ. Trước t́nh h́nh này, chính
phủ Bush lại hành động theo bài bản cũ: bổ nhiệm một người Mĩ trông nom chính
phủ lâm thời, và hứa hẹn sẽ trao trả quyền tự trị cho dân Iraq nay mai, nhưng Mĩ
nói rơ rằng họ chỉ muốn một chính phủ Iraq phản ảnh quyền lợi của Mĩ. Dĩ
nhiên. Sau khi trao trả quyền cai trị cho người Iraq, quan toàn quyền L. Paul
Bremer tuyên bố Mĩ sẽ duy tŕ kiểm soát quân sự, nội an, và ngoại giao. Nói như
một thành viên trong Hội đồng quản trị Iraq: đó là một chính phủ “có chủ quyền
nhưng không thể thay đổi luật pháp, và không có quyền quyết định.”
Trong khi Iraq có một chính phủ bù nh́n mới th́ tinh thần quốc gia và cường độ
những cuộc đụng độ với liên quân tại Iraq xem ra càng ngày càng lớn. Lính Mĩ
phản ứng bằng cách dùng máy bay thả bom vào các vùng đông dân cư, xe tăng chận
các cuộc biểu t́nh. Ở Washington, các quan chức trong Chính phủ Bush đổ thừa
t́nh trạng hiện nay vào các nhóm khủng bố từ nước ngoài và tàn quân c̣n trung
thành với Saddam Hussein, nhưng sự thật cho thấy phong trào kháng chiến Iraq có
nhiều thành phần, kể cả những người từng là nạn nhân của chế độ Hussein trước
đây.
Lịch sử cận đại Iraq cho thấy nước này đă từng trải qua nhiều cuộc đảo chính và
chém giết tàn khốc. Năm 1958, vua Faisal bị một nhóm quân đội do Chuẩn tướng
Abdel Karim Kassem và Đại tá Abdul Salam Arif cầm đầu đảo chính bắn chết. Vài
tháng sau, Kassem hất cẳng Arif. Lúc đó Saddam Hussein c̣n là một đại tá trẻ
tuổi muốn lật đổ Kassem nhưng không thành công. Đến năm 1963, sau một thời gian
lưu vong, Arif quay trở về Iraq và giết chết Kassem, rồi lên nắm chính quyền.
Năm 1966, Arif bị chết trong một tai nạn trực thăng, và người em của ông lên cầm
quyền. Hai năm sau (năm 1968), Saddam Hussein lật đổ chế độ của em của Arif và
lên nắm chính quyền. Và ngày nay, Iraq chắc chắn sẽ c̣n trải qua một thời ḱ
rối reng nữa.
Cách đây không lâu, người viết bài này từng đoán: “Với một lịch sử như thế, nếu
Saddam Hussein bị Mĩ lật đổ, th́ một nguy cơ biến loạn có thể xảy ra, mà Mĩ
không thể nào kiểm soát được.” Nhận xét này xem ra vẫn đúng. T́nh h́nh Iraq vẫn
c̣n rối reng: chém giết vẫn xảy ra hàng ngày. Hầu như ngày nào cũng có một lính
Mĩ hay liên quân bị giết. Đó là chưa kể đến hàng trăm người dân Iraq bỏ mạng
giữa hai lằn đạn Mĩ và Iraq. Mà, chẳng riêng ǵ Iraq, kinh nghiệm ở A Phú Hăn
ngày nay cho thấy Mĩ, sau khi đánh đổ Taliban, xă hội A Phú Hăn lại quay trở về
thời sứ quân, hỗn loạn, và Mĩ h́nh như chỉ đứng ngoài khoanh tay mà nh́n vào.
Thomas Friedman, một cây bỉnh bút bảo thủ nổi tiếng của tờ New York Times, nhận
xét rằng nhóm ông Bush có thể phá hủy hay hơn là xây dựng.
Người Mĩ luôn tin rằng họ đóng một vai tṛ đặc biệt trong việc làm thay đổi vận
mạng thế giới, và hiểu biết của họ về đế quốc và chủ nghĩa đế quốc là một phương
tiện quan trọng để đảm bảo họ hoàn thành vai tṛ đó. Những người khai lập ra
nước Mĩ tin rằng quốc gia trẻ trung của họ sẽ lănh đạo bằng những mô h́nh gương
mẫu. Những kẻ theo chủ nghĩa đế quốc vào thập niên 1890s tin rằng Mĩ có khả
năng sáng lập một đế quốc ngang hàng hay có thể cạnh tranh với các đế quốc Âu
châu. Chỉ có một khác biệt: đó là đế quốc Mĩ muốn áp đặt các giá trị Mĩ cho
thuộc địa của ḿnh. Thượng nghị sĩ Albert Beveridge và các nhà truyền giáo chủ
trương một chính sách “the imperialism of righteousness”, tức là “Chủ nghĩa đế
quốc chính đáng”. Beveridge cho rằng “Thượng đế đă sinh ra những dân tộc nói
tiếng Anh và dân tộc Saxon để họ trở thành những người thầy tổ chức cho thế
giới. Ngài đă tạo ra chúng ta để chúng ta quản lí chính phủ của các dân tộc
hoang dại và ḱ quặc. Nếu không có một lực lượng như chúng ta th́ thế giới này
sẽ hỗn loạn, sẽ quay trở lại thời ḱ man rợ và đêm tối. Và trong tất cả chủng
tộc, Ngài đă chọn người Mĩ là dân tộc của Ngài, Ngài chọn chúng ta để lănh đạo
công cuộc cải tạo thế giới”.
Đầu thế kỉ 21 giới Tân bảo thủ Mĩ lại sử dụng bài bản cũ của Wilson với một ảo
mộng quản lí dân chủ toàn cầu, nhưng không như Wilson, họ hành động đơn phương.
Giới Tân bảo thủ Mĩ nh́n Mĩ như là một thế lực đế quốc có khả năng cải biến
toàn thế giới mà không cần đển sự hỗ trợ của đồng minh. Nhưng không sớm th́
muộn, họ sẽ phải học bài học của mà Theodore Roosevelt và Woodrow Wilson từng
tiếp thu vào đầu thế kỉ 20. Hành động đơn phương, dù với thế lực chính trị -
kinh tế và bộ máy quân sự của Mĩ, để thống trị thế giới vẫn là một phương án có
nhiều hạn chế, như sứ mệnh bất hạnh ở Iraq hiện nay và sự tái xuất hiện của tàn
dư Taliban ở Afghanistan cho thấy. Khi Mĩ đơn phương độc mă đi t́m kẻ thù và
tiêu diệt kẻ thù — mạo hiểm bước vào những lănh thổ mà các thế lực đế quốc
trước đây đă từng giẫm chân lên — Mĩ có khả năng tự ḿnh biến thành một kẻ thù
của thế giới.
Chú thích thêm:
Các câu trích dẫn trong bài này được chuyển ngữ
từ bài viết “Imperical Amnesia” của John B. Judis đăng trên tạp chí Foreign
Policy (Mĩ), số tháng 7/8, 2004. Judis là nhà nghiên cứu chính trị hiện
đang làm việc tại Carnegie Endowment for International Peace.
(1) Người đứng đầu, hay “thủ tướng”, của chính phủ lâm thời Iraq hiện nay do Mĩ
chọn là Iyad Allawi. Khi chất vấn về mối liên hệ với CIA, Allawai chẳng những
không dấu diếm về việc ông từng sống nhờ đồng tiền của CIA, mà c̣n tiết lộ rằng
ông từng nhận tiền và làm việc cho 15 cơ quan t́nh báo quốc tế khác! Allawai
c̣n là cựu đảng viên Đảng Baath của Saddam Hussein; nhưng sau khi lưu vong ông
từ bỏ đảng tịch vào thập niên 1970s.
Nhưng quá khứ của Allawi c̣n làm cho nhiều người
Iraq quan tâm hơn. Iyad Allawi, 59 tuổi, sinh trưởng trong một gia đ́nh theo
Hồi giáo phái Shia. Allawi học đại học ở Baghdad và tốt nghiệp bác sĩ thần
kinh. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông được học bổng đi du học ở Anh. Tại Anh,
Allawi làm việc cho cơ quan t́nh báo Iraq và đứng đầu tổ chức sinh viên Iraq ở
Âu châu. Sau đó, Allawi c̣n làm việc cho các cơ quan t́nh báo của Anh, Mĩ và Âu
châu. Năm 1978, khi biết Allawi làm việc cho t́nh báo ngoại quốc, Saddam
Hussein gửi điệp viên sang Anh ám sát Allawai. Họ tung vào pḥng trọ của
Allawi, dùng dào và búa để giết ông. Tuy cuộc ám sát không thành, Allawi sống
sót nhưng bị thương nặng.
Allawi quyết tâm chống Saddam
Hussein từ đó, và thành lập tổ chức Iraqi National Accord nhằm thu hút các thành
phần bất mản trong đảng Baath và quân đội của Hussein. Năm 1996, Allawi mở chi
nhánh Iraqi National Accord tại Jordan và tiến hành một cuộc đảo chính chống
Hussein. Cuộc đảo chính bất thành, nhưng nhiều người trong tổ chức của Allawi
bị giết chết. Dù thế, CIA vẫn tin tưởng vào Allawi và tiếp tục yểm trợ tiền tài
của nhóm Iraqi National Accord.
Đến khi tổ chức Iraq National
Congress của Ahmed Chalabi bị thất sủng, Iraqi National Accord của Allawi trở
thành con cưng của Mĩ. (Cần nói thêm rằng Chalabi là con cưng của Pentagon và
giới Tân bảo thủ Mĩ, nhưng CIA lại rất ghét Chalabi).
(2) Ngày 18 tháng 10 năm 2003, Tổng thống Bush
ghé thăm thủ đô Phi Luật Tân Manila trong chuyến viếng thăm Á châu. Chiếc Air
Force One của ông Bush cần phải có một đội chiến đấu cơ F-15 bảo vệ để đáp xuống
phi trường Manila, v́ sợ khủng bố tấn công. Chương tŕnh đọc diễn văn của ông
Bush tại Quốc hội Phi phải đ́nh hoản v́ hàng ngàn người biểu t́nh trên tất cả
mọi con đường mà đoàn xe của ông đi qua. Ngay cả trước Quốc hội Phi, hàng ngàn
người Phi cũng đứng chờ ông Bush để biểu t́nh nhắc nhở những cuộc tàn sát người
Phi do lính Mĩ chủ trương trong cuộc chiến vừa nói trên.
|
|