|
Tài liệu mật Lầu Năm Góc:
Kế hoạch ném bom nguyên tử
xuống VN
Kỳ 1: Cuộc đối thoại ở Nhà Trắng, ngày
15/4/1968
|
 |
|
Nixon (trái) thảo luận với
Kissinger. |
Năm 1985, trả lời phỏng vấn tạp chí Times, cựu Tổng thống Mỹ
- Richard Nixon cho biết: "Tôi đă từng xem xét khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử
tại chiến trường VN". Tuy nhiên, bản báo cáo mật Nuclear tactical weapons in
South East Asia - Vũ khí nguyên tử chiến thuật tại Đông Nam Á - hoàn tất tháng
3/1967, cho thấy Mỹ đă có ư đồ tấn công miền Bắc Việt Nam bằng vũ khí nguyên tử
khi cuộc chiến leo thang từ những năm 1960 với ư định rút ngắn chiến cuộc và
giảm thiểu tổn thất nhân mạng. Ư đồ này sau đó được mô tả khá rơ trong quyển
Nuclear weapons & the Vietnam war - Vũ khí nguyên tử và cuộc chiến tranh VN -
kèm lời nhận định: Việt Nam là mục tiêu tấn công hạt nhân gần nhất của Mỹ kể từ
sự kiện Hiroshima và Nagasaki.
Nhà Trắng, ngày 15/4/1968
- Ngoại trưởng Kissinger: Tôi nghĩ chúng ta nên tăng cường
tấn công vào các nhà máy điện, hải cảng của Bắc Việt Nam.
- Tổng thống Nixon: Tôi thà sử dụng bom nguyên tử c̣n hơn.
- Kissinger: Điều đó ? Tôi e nặng tay quá.
- Nixon: Bom nguyên tử, ông áy náy về điều đó à ?
- Kissinger: Tôi chỉ muốn ngài nghĩ lớn hơn.
Một tháng sau cuộc đối thoại ấy, Nixon kư lệnh leo thang
chiến tranh ở Việt Nam. Trong lần trả lời phỏng vấn tờ Times (1985), Nixon cho
biết: "Tôi có xem xét khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử, nhưng loại bỏ khả năng
ném bom phá đê v́ làm như thế có thể d́m chết khoảng 1 triệu con người. Và cũng
v́ lư do ấy, tôi đă quyết định hủy bỏ khả năng tấn công bằng bom nguyên tử bởi
v́ đó không phải là mục tiêu quân sự".
Tuy nhiên, trong cuộc đối thoại với Kissinger vào tháng
5/1972, ư đồ của Nixon hoàn toàn không phải vậy.
- Nixon: Điểm duy nhất tôi và ông không tán đồng là về vấn đề
ném bom (nguyên tử). Tại sao ông cứ lo đến sinh mạng đám dân chết tiệt ấy ? Tôi
cóc cần chuyện đó.
- Kissinger: Tôi quan ngại về sinh mạng dân thường v́ tôi
không muốn cả thế giới nh́n ông như một thằng bán thịt. Chúng ta có thể chiến
thắng mà không cần phải giết dân.
Trên đây là những cuộc đối thoại được trích ra từ số băng với
thời lượng lên đến 500 giờ, ghi lại các cuộc đối thoại của Richard Nixon ở Nhà
Trắng. Số băng này được Cục Lưu trữ quốc gia Mỹ công bố vào tháng 3/2002.
Báo cáo mật của JASON
Vào thời điểm cao độ của chiến tranh Việt Nam, dù quân đội Mỹ
dội bom không thương xót xuống miền Bắc bằng một chiến dịch ném bom lớn nhất
trong lịch sử: ném liên tục 3 năm - từ tháng 3/1965, với lượng bom lớn hơn tổng
lượng bom ném xuống toàn châu Âu thời đệ nhị Thế chiến, thế nhưng vẫn không tạo
được tác động mạnh. V́ vậy, mùa hè năm 1966, Lầu Năm Góc ra lệnh triệu tập một
nhóm quy tụ toàn những khoa học gia tinh túy nhất nước Mỹ, khoảng 50 người, với
tên gọi JASON có nhiệm vụ nghiên cứu, chuẩn bị cho kế hoạch tấn công Bắc VN bằng
vũ khí nguyên tử với ư đồ xoay chuyển cục diện chiến cuộc.
Jason là một bộ phận có tầm ảnh hưởng lớn, song ít được biết
đến v́ phần lớn công việc đều được tiến hành trong ṿng bí mật. Mỗi năm JASON
ngốn khoản ngân sách 1,5 triệu USD từ Bộ Quốc pḥng và 2,5 triệu USD từ Bộ Năng
lượng (thời điểm 1960). Nhóm JASON gặp gỡ, bàn bạc trong 6 tuần lễ liên tục tại
UC Santa Barbara để hoàn tất 3 nghiên cứu quan trọng, gồm:
1 - Chiến thuật cắt đứt các đường dây tiếp vận của Việt Cộng.
2 - Xây dựng hệ thống hàng rào điện tử khắp Việt Nam.
3 - Chiến thuật vũ khí nguyên tử ở Đông Nam Á.
Hai nghiên cứu đầu tiên được Bộ trưởng Quốc pḥng lúc bấy giờ
- Robert McNamara vận dụng triệt để trong chiến tranh. C̣n bản nghiên cứu thứ ba
là bản báo cáo mật dài 55 trang, phân tích khả năng nên sử dụng vũ khí nguyên tử
thế nào vào chiến trường VN
Kỳ 2: Những mục tiêu tấn công chiến thuật
|
 |
|
Chiến đấu cơ A4 Skyhawk |
Báo cáo JASON đề xuất sử dụng các loại vũ khí thượng thặng để
tấn công VN, bác bỏ khả năng sử dụng hệ thống tên lửa ADM, pháo binh hoặc các
loại tên lửa tầm trung và ngắn được trang bị đầu đạn hạt nhân. Cụ thể, JASON lên
phương án dùng chiến đấu cơ ném bom, xuất kích từ các hạm đội nhằm giảm thiểu tỉ
lệ rủi ro.
Loại chiến đấu cơ được đề xuất là A4 Skyhawk - có thể chở
được các loại bom B28 (20 kiloton), B43 (1 megaton), B57 (10 kiloton) hoặc B61
(100 - 500 kiloton) để đáp ứng chiến thuật gọi là "nghiên cứu khoan ḷng đất"
(REB), nhằm phá hủy hệ thống đường hầm kiên cố của quân giải phóng, được bao bọc
bằng thép dày ở sâu dưới ḷng đất. Trong số các mục tiêu t́m diệt quan trọng,
JASON đề cập đến:Nơi tập trung quân đội
Đa số các đợt tấn công nguyên tử trong các cuộc chiến đều
phải được nghiên cứu kỹ để đánh trúng, chính xác vào vị trí đóng quân của đối
phương. Mỗi cú đánh (mỗi quả bom) phải thu được kết quả trung b́nh là thương
vong từ 100 - 300 binh sĩ. Tuy nhiên, thực tế rất khó thực hiện v́ đối phương
chia nhỏ đội h́nh, liên tục thay đổi địa điểm đóng quân nên sử dụng vũ khí
nguyên tử sẽ ít đạt hiệu quả và hoàn toàn không khả thi trong trường hợp đối
phương áp dụng chiến thuật đánh nhanh, rút gọn. Tóm lại, việc sử dụng vũ khí
nguyên tử vào các mục tiêu quân đội chỉ có tác dụng trong trường hợp ngăn chận
đối phương di chuyển với quân số lớn và tập trung trong một diện tích giới hạn.
Bộ chỉ huy và các trung tâm truyền
tin ở Nam Việt Nam
Những căn cứ quân sự cố định của quân giải phóng ở Nam Việt Nam là những mục
tiêu thích hợp cho tấn công nguyên tử, đặc biệt trong trường hợp tấn công không
cần cảnh báo. Tuy nhiên, địa bàn của mỗi cứ địa thường quá rộng - khoảng 160
km2, nên muốn tấn công cần phải định vị mục tiêu dưới sự hỗ trợ của máy bay do
thám. Khi đă định vị, dùng vũ khí nguyên tử tiêu diệt mục tiêu sẽ có hiệu quả
cao hơn vũ khí quy ước. Với sức công phá cao, vũ khí nguyên tử có thể hủy diệt
bộ chỉ huy đối phương đặt dưới hệ thống hầm sâu dưới ḷng đất. Tuy nhiên, do hệ
thống đường hầm rất kiên cố nên cần phải sử dụng nhiều vũ khí nguyên tử và phải
đánh trúng mục tiêu trong khoảng cách vài trăm feet (1 feet = 0,3 mét).
Hệ thống đường tiếp vận
|
 |
|
Lính Mỹ bị thương trong chiến
tranh Việt Nam |
Đây là mục tiêu chính của các đợt không kích mang tên Rolling
Thunder - Tiếng sấm long trời, gần đây nhắm vào Bắc VN, đặc biệt là hệ thống
đường sá, đường xe lửa. Đa số các mục tiêu đều phân bố tản mát hoặc cơ động, do
đó không phù hợp với việc sử dụng vũ khí nguyên tử. Những mục tiêu tốt nhất cho
vũ khí nguyên tử sẽ là hệ thống cầu - đă có 42 mục tiêu bị tấn công tính đến
tháng 3.1966. Tuy nhiên, tấn công cầu bằng bom quy ước không tạo được hiệu quả
mong muốn và thường bị đối phương khôi phục một cách nhanh chóng. Một quả bom
nguyên tử cỡ 1 kiloton có thể "thổi bay" hoàn toàn mục tiêu nếu ném trúng ở
khoảng cách vài trăm feet. Với mục tiêu loại này, có thể giới thiệu loại hỏa
tiễn không đối địa (ASM) với loại đầu đạn có sức công phá cao, có tác dụng không
kém vũ khí nguyên tử.
Sân bay và các khu vực bố trí SAM
Sân bay là mục tiêu lư tưởng cho vũ
khí nguyên tử và cũng là mục tiêu đắt giá đối với chiến thuật ném bom quy ước.
Hiện Bắc VN có 14 sân bay, trong đó 4 sân bay không thể tiếp tục sử dụng sau các
đợt ném bom Rolling Thunder. Đưa vũ khí nguyên tử vào cuộc sẽ nhanh chóng vô
hiệu hóa toàn bộ 10 sân bay c̣n lại.
Các khu vực bố trí hỏa tiễn SAM cũng là những mục tiêu vũ khí nguyên tử có thể
hủy diệt rất hiệu quả, nhưng có thể đối phương sẽ tản mác hoặc ngụy trang các bệ
phóng khiến vũ khí nguyên tử không thể tấn công được. Việc tiêu diệt hệ thống
SAM sẽ đem lại ưu thế rất lớn cho chiến dịch không kích, cho phép máy bay tấn
công ở độ cao vừa đủ vượt ngoài tầm bắn của pháo cao xạ.
Đường ṃn và đường đèo độc đạo
Cần một lượng lớn vũ khí nguyên tử - khoảng vài trăm, để thổi
tung cây cối, chận toàn bộ các tuyến đường ṃn, đường đèo giữa Bắc VN và Trung
Quốc hoặc Bắc VN và Lào. Những con đường quan trọng này sẽ bị xới tung trong
chiều dài hàng chục dặm (1 dặm = 1,6 km). Nếu mở một đợt đánh phá quy mô, sử
dụng hàng trăm quả bom cỡ 100 kiloton, ắt hẳn đối phương phải huy động đến
50.000 nhân công để có thể hoàn tất công tác sửa chữa trong ṿng 1 - 2 tháng.
Điều quan trọng cần chú ư - nên tiếp tục không kích bằng bom quy ước để phá rối
công tác sửa chữa.
Kỳ 3: Giải cứu Khe Sanh
|
 |
|
Máy bay Mỹ rớt trên mặt trận
Khe Sanh |
Đây là một trong những lần Lầu Năm Góc xem xét nghiêm túc
nhất về khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử tại Việt Nam.
Trận đánh Khe Sanh chính thức bắt đầu ngày 21/1/1968, khoảng
15.000 - 20.000 quân chủ lực của ta (số liệu ước tính của Lầu Năm Góc) vây chặt
6.000 thủy quân lục chiến Mỹ trong suốt 77 ngày đêm liên tục, khiến nội các
Johnson phải nghĩ đến chuyện sử dụng vũ khí nguyên tử để giải vây. Nhiều bằng
chứng mới cho thấy nội các Johnson đă thảo luận trong nhiều phiên họp liên tục,
đặc biệt là ở thời điểm căng thẳng nhất - từ cuối tháng giêng đến đầu tháng
2/1968, về khả năng tấn công nguyên tử. Theo lời Johnson: "Tôi ao ước không bao
giờ phải đối mặt với quyết định sử dụng vũ khí nguyên tử. Do đó, tôi yêu cầu các
ngài (tướng lĩnh) phải bảo đảm với tôi là chỉ sử dụng vũ khí quy ước, song vẫn
có thể bảo vệ được Khe Sanh".
Trong bản ghi nhớ gửi tướng Wheeler ngày 31/1/1968, Robert
Ginsburg - Phó chủ tịch Hội đồng An ninh quốc gia (NSC), nhấn mạnh: Nếu t́nh
h́nh Khe Sanh chuyển biến ngày một xấu và đến mức tuyệt vọng, khả năng sử dụng
vũ khí nguyên tử sẽ được đề xuất". Trước đó, Ginsburg và Chủ tịch NSC - Walt
Rostow đă bàn bạc vấn đề này trong nhiều tuần liền.
Ngày hôm sau, Wheeler đem "cái nhấn mạnh" của Ginsburg ra
tham khảo ư kiến tướng Westmoreland và đô đốc Ulysses Sharp - 2 viên tư lệnh
quân đội tại Việt Nam. Wheeler lưu ư rằng chiến trường Khe Sanh cũng gần giống
Điện Biên Phủ và liệu đây có phải là mục tiêu thích hợp để tấn công bằng vũ khí
nguyên tử hay không, nếu có, việc chuẩn bị sẽ tiến hành ra sao. Lúc này,
Westmoreland và Sharp đă thảo luận với nhau để triển khai một vài kế hoạch. Cả
ba nhà lănh đạo quân sự Mỹ đều nghĩ không nhất thiết phải sử dụng vũ khí hạt
nhân, nhưng với nhăn quan quân sự, cả ba đều cho rằng việc lên kế hoạch chuẩn bị
là cần thiết. Lập tức, Westmoreland cho thành lập một bộ phận bí mật chuyên
nghiên cứu về khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử trong trường hợp Khe Sanh thất
thủ.
Trong sổ ghi nhớ sau này, Westmoreland viết: "Xem xét khả
năng sử dụng vũ khí nguyên tử chiến thuật ở Khe Sanh là một ư tưởng khôn ngoan.
Khu vực xung quanh Khe Sanh gần như không có người ở, do đó, số lượng thường dân
bị thương vong sẽ ở mức thấp nhất". Westmoreland cũng nhắc lại trường hợp ném
bom nguyên tử thời Đệ nhị thế chiến là với mục đích gửi thông điệp đến Nhật Bản.
Trong chiến tranh Triều Tiên, vũ khí nguyên tử đóng vai tṛ răn đe nhắm vào
CHDCND Triều Tiên - nhiều người cho rằng - đă góp phần chấm dứt cuộc chiến Triều
Tiên. Ông viết: "Sử dụng vài quả bom nguyên tử cỡ nhỏ ở Việt Nam, hoặc thậm chí
đe dọa sử dụng, sẽ nhanh chóng góp phần kết thúc sớm cuộc chiến. Nếu Washington
muốn gửi thông điệp đến Hà Nội, chắc chắn vũ khí nguyên tử cỡ nhẹ sẽ làm được
điều này rất hiệu quả”. Westmoreland cảm giác rằng lúc đó, và thậm chí sau này,
thất bại trong nỗ lực sử dụng vũ khí nguyên tử là một sai lầm.
Trong lúc nội các đang ngấm ngầm chuẩn bị kế hoạch triển khai
khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử, nguồn tin bị ṛ rỉ ra ngoài. Trên kênh truyền
h́nh CBS, thượng nghị sĩ Eugene McCarthy - đang vận động tranh cử tổng thống -
đă trả lời công khai về "kế hoạch sử dụng vũ khí nguyên tử của nội các Johnson".
Thủ tướng Anh lúc bấy giờ - ông Harold Wilson trong chuyến viếng thăm Washington
đă trả lời phỏng vấn của CBS rằng: "Thật điên rồ nếu Mỹ sử dụng vũ khí nguyên
tử. Điều đó không chỉ đem lại hậu quả thảm khốc cho vị thế của nước Mỹ mà c̣n là
khởi đầu rất nguy hiểm cho khả năng leo thang chiến tranh trên toàn thế giới".
Tuy nhiên, cũng có một số nghị sĩ tán đồng quan điểm sử dụng
vũ khí nguyên tử. Wayne Hays - thành viên Ủy ban Đối ngoại Nhà Trắng cho rằng
"hoàn toàn ngu ngốc nếu chịu đựng thất bại thảm khốc tại Khe Sanh" trong khi
nghị sĩ Charles Bennett kêu gọi "sử dụng bất cứ sức mạnh nào" để giành chiến
thắng "ngay cả khi đe dọa sử dụng vũ khí nguyên tử và xâm lược Bắc Việt Nam".
Trong bản thông cáo báo chí ngày 9/2 Tổng thống Johnson phản
ứng kịch liệt: “Trong suốt 7 năm qua tôi chưa hề nhận được lời yêu cầu triển
khai vũ khí nguyên tử nào cả, do đó, tôi muốn chấm dứt thảo luận về vấn đề này".
Chiến dịch giải vây sau đó giao cho Westmoreland được toàn quyền sử dụng bất kỳ
loại vũ khí quy ước nào để bảo vệ Khe sanh. B52 Mỹ đă dội hơn 100.000 tấn bom
xuống vùng giao tranh rộng vỏn vẹn 5 dặm vuông. Đây là cuộc dội bom được xem là
có mật độ dày nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới.
Kỳ 4: Chiến dịch cái móc vịt
|
 |
|
Máy bay Mỹ ném bom miền Bắc. |
Sau khi đắc cử tổng thống (1968), Nixon đă cùng cố vấn an
ninh quốc gia bí mật hoạch định chiến dịch mang tên Duck Hook Operation (tạm
dịch: chiến dịch Cái móc vịt) - một chiến dịch được phác thảo rất tỉ mỉ, đáp ứng
sự nôn nóng kết thúc sớm cuộc chiến ở VN của Nixon.
Ngày 27/1/1969, Nixon, Kissinger, tướng Wheeler và Bộ trưởng
quốc pḥng Melvin Laird nhóm họp thảo luận các khả năng tấn công "có thể làm
choáng váng Bắc VN để tạo thuận lợi trong cuộc đàm phán Paris". Ngày 21/2, Laird
chuyển cho Kissinger bản báo cáo của Hội đồng chỉ huy liên quân, phác thảo sơ bộ
về kế hoạch. Bản báo cáo mật này hoạch định 5 phương án tấn công, trong đó
phương án cuối cùng có tên gọi "thuật leo thang (chiến tranh)" - sử dụng vũ khí
nguyên tử, vũ khí sinh học hoặc các loại vũ khí hóa học hạng nặng. Phương án này
được ghi chú đặc biệt là "sử dụng các loại vũ khí này trên chiến trường VN có
thể tạo nên sự phản ứng mạnh mẽ của dư luận và quốc hội, có thể gây ra sự chống
đối trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Okinawa, Nhật Bản”.
Không ai trong số Laird, cố vấn an ninh quốc gia Kissinger
hoặc Alexander Haig - trợ lư quân sự của Kissinger, có ư định phản bác phương án
này. Luận với Kissinger, Haig gọi đây là "kế hoạch bao quát hơn tất cả những ǵ
ngài và tổng thống mường tượng như là dấu hiệu của sự chấp thuận ư định leo
thang chiến tranh tại VN". Kissinger nhận xét đây là kế hoạch “có quan điểm tốt"
nhưng trước bối cảnh thực tế, dưới sức ép của dư luận trong nước và quốc tế,
việc triển khai kế hoạch này khó được chấp nhận. V́ vậy, Kissinger chọn phương
án triển khai trong bí mật hơn là công khai và phương án đó được gọi là “Chiến
dịch Cái móc vịt”.
Những điểm nhấn quan trọng trong chiến dịch là các phương án
sử dụng sức mạnh quân sự khổng lồ của Mỹ để đánh phá Bắc Việt Nam trong khoảng
thời gian xuân - hè 1969. Những mục tiêu đánh phá bao gồm ném bom Hà Nội, Hải
Pḥng và những khu vực chiến lược khác ở bắc VN; thả thủy lôi ở các hải cảng,
sông ng̣i; ném bom phá hủy hệ thống đê sông Hồng, xua quân bắc tiến, phong tỏa
cảng Shinanoukville, dùng vũ khí nguyên tử phá hủy đường ṃn Hồ Chí Minh (nơi mà
theo Lầu Năm Góc, mỗi tháng quân ta chuyển được 4.500 quân và mỗi ngày vận
chuyển được 300 tấn hàng tiếp tế các loại); và cuối cùng là ném bom các tuyến
đường sắt chính nối Bắc VN với Trung Quốc. Một kế hoạch hỗ trợ khác, bí mật hơn
cũng được vạch ra là sử dụng vũ khí nguyên tử tấn công các tuyến đường sắt - vốn
là đầu mối tiếp nhận viện trợ chính từ Trung Quốc và Liên Xô. Theo Haldeman -
tổng tham mưu của Nixon, Kissinger đă "lobby" cho khả năng tấn công hạt nhân
trong suốt mùa xuân và thu năm 1969.
Cuối tháng 8, Nixon xem xét "kế hoạch K" của Kissinger nhưng
tạm thời chưa quyết định. Đến đầu tháng 9, sợ Nixon lung lay quan điểm trước sức
ép dư luận, Kissinger chủ động đốc thúc tổng thống chấp thuận cái gọi là "Sự
chọn lựa tháng 11" - một kế hoạch tấn công ồ ạt, tàn ác nhắm vào Bắc VN ḥng
chấm dứt chiến tranh. Ngày 9/9, Kissinger gặp tướng Wheeler để "thảo luận về kế
hoạch tấn công quân sự theo chiến dịch Duck Hook" và truyền đạt lệnh ủy nhiệm
của tổng thống rằng "đây là chiến dịch giới hạn thông tin, kể cả bộ trưởng quốc
pḥng cũng không được biết".
Đầu tháng 9, Kissinger thành lập một tiểu ban tuyển lựa từ
ban tham mưu của ḿnh, đặc trách nghiên cứu "khảo sát khả năng ăn miếng trả
miếng quân sự của hai phía". Trong những năm ở Nhà Trắng, Kissinger viết: "Tôi
bảo với tiểu ban này là những ǵ tôi cần biết là một kế hoạch quân sự có tác
động cực mạnh lên khả năng quân sự đối phương, trong đó có khả năng sử dụng vũ
khí nguyên tử trong t́nh huống được kiểm soát cẩn thận". Một tài liệu mật mang
tên "Khái niệm chiến dịch" đưa vào giữa tháng 9, nhấn mạnh: "Nước Mỹ luôn kiên
định trong việc cung ứng bất kỳ lực lượng nào cần thiết trong việc bảo vệ những
mục tiêu của ḿnh tại châu Á. Sức ép của dư luận quốc tế, trong nước và khả năng
Trung Quốc, Liên Xô phản ứng cũng rất quan trọng nhưng cũng không cần thiết phải
xóa bỏ những hành động mạnh nhắm vào Bắc VN". Bản tài liệu này cũng ghi chú việc
đánh bom đê sông Hồng sẽ gây nên một "vấn đề nghiêm trọng" trong nội bộ nước Mỹ.
Trong suốt tháng 9 và 10, Nixon tiếp tục đưa ra những tuyên
bố đe dọa leo thang chiến tranh tại VN. Để nhấn mạnh thêm ư định của ḿnh, Nixon
ra lệnh báo động ngầm trong toàn bộ hệ thống vũ khí nguyên tử chiến thuật của Mỹ
trên toàn thế giới. Đây được xem là một trong những chiến dịch lớn nhất trong
lịch sử quân sự Mỹ, bắt đầu từ ngày 13/10 và kết thúc 1 tháng sau đó. Tuy nhiên,
khi những hoạt động phản chiến trong nước bùng nổ, đến giữa tháng 11, Nixon đă
phải âm thầm hủy bỏ chiến dịch Duck Hook. Trong sổ ghi nhớ sau này, Nixon cho
biết chính sự phản ứng dữ dội của dư luận trong và ngoài nước trước kế hoạch leo
thang chiến tranh đă làm xói ṃn ư định triển khai chiến dịch. Một thời gian lâu
sau, ông ta mới tiết lộ kế hoạch trên cho ngoại trưởng và bộ trưởng quốc pḥng -
ông William Rogers và Melvin Laird. Hai nhà khoa học tham vấn cho tổng thống về
kế hoạch trên cũng lên án khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử, cả về lư do quân sự
lẫn đạo đức.
Kỳ cuối: V́ sao Mỹ chấp nhận thua, không
tấn công nguyên tử?
|
 |
|
Lính Mỹ bị thương tại chiến
trường VN |
Ư định sử dụng vũ khí nguyên tử vào chiến trường VN, theo
Lyndon Johnson (1968): "Tôi không muốn trở thành vị tổng thống Mỹ đầu tiên thất
trận", c̣n Nixon "Nước Mỹ không thể thua trận" và "thương vong là lẽ đương nhiên
của chiến tranh". Thế nhưng, qua hai đời tổng thống Mỹ, vũ khí nguyên tử vẫn
không được đưa vào sử dụng. Đây là kết quả đấu tranh v́ ḥa b́nh của nhân dân
tiến bộ Mỹ và toàn thế giới. Tuy nhiên, vẫn có một nguyên nhân sâu xa khác: sợ
bị trả đũa.
Tài liệu mật JASON (đă đề cập ở kỳ I và II), phân tích rất
cẩn thận đến khả năng bị phản công một khi Mỹ đưa bom nguyên tử vào sử dụng cùng
với việc quân ta sẽ triển khai vũ khí nguyên tử đó như thế nào: "Ở thời điểm
1966, Trung Quốc mới tiến hành thử và triển khai vũ khí hạt nhân đầu tiên, do
đó, nguồn cung cấp chính cho quân giải phóng rất có thể đến từ Liên Xô. Hệ thống
tên lửa chiến thuật và khả năng tấn công bằng cách dùng chiến đấu cơ ném bom của
Liên Xô - phải thẳng thắn công nhận - đều sử dụng những đầu đạn hạt nhân hạng
nặng, có sức công phá nhiều kiloton (trang 32). Loại nhẹ nhất trong số vũ khí
này cũng có thể mang đầu đạn nặng đến 1.000 pound (khoảng 450 kg), rất khó cho
những toán quân đánh theo chiến thuật du kích do trở ngại trong vận chuyển
(trang 6). Do đó, khả năng trả đũa cao nhất rất có thể xảy ra xuất phát từ việc
Liên Xô triển khai tấn công từ các chiến đấu cơ hoặc hỏa tiễn phóng đi từ các
chiến hạm ngoài đại dương".
JASON lưu ư thêm: "Khả năng Liên Xô thiết kế được loại vũ khí nguyên tử chuyên
biệt cho bộ binh là rất thấp (trang 31) nhưng khả năng đầu đạn nguyên tử được
bắn đi từ súng cối, súng không giật nặng vài trăm pound với tầm bắn xa vài dặm
là khả dĩ". Đây là các loại vũ khí nguyên tử tương tự như hệ thống hỏa tiễn
Little John hoặc phi đạn Crockett của Mỹ, được bắn từ các bệ pháo không giật 120
mm, 150 mm, rất có thể quân giải phóng đă sở hữu loại vũ khí này dù lúc đó, Mỹ
không hề xác định được là do Liên Xô hay Trung Quốc cung cấp.
Điều cốt yếu trong việc Liên Xô cung cấp vũ khí nguyên tử chiến thuật cho quân
giải phóng - theo JASON - chắc chắn sẽ là những loại vũ khí gọn, nhe, dùng trong
các trận chiến trên bộ. "Những loại vũ khí cỡ nhỏ, trọng lượng nhẹ, được đưa
vào Bắc VN và sau đó theo đường ṃn Hồ Chí Minh vận chuyển vào Nam với độ khó
khăn đạt mức thấp nhất, mặc dù chắc chắn họ phải mất nhiều tháng để có thể
chuyển được từ 50 - 100 vũ khí nguyên tử theo cách này" (trang 38).
|
 |
|
Đường ṃn Hồ Chí Minh |
Những khả năng phản đ̣n có thể một khi Mỹ tung vũ khí nguyên
tử vào cuộc, JASON nghiên cứu 3 khả năng. Thứ nhất là đợt tấn công dồn dập, từ
70 - 100 vũ khí nguyên tử loại từ 10 - 20 kiloton, đồng loạt nhắm vào nhiều căn
cứ quân sự Mỹ. "Khả năng tấn công này là không thể loại trừ. Nó đ̣i hỏi sự hợp
đồng tác chiến rất chặt chẽ, có phần mạo hiểm nếu thực thi mệnh lệnh không đồng
đều". Thứ hai - khả năng tấn công kéo dài: từng đợt tấn công của từng đơn vị du
kích, đánh vào từng mục tiêu kéo dài trong nhiều tuần lễ hoặc nhiều tháng. Đây
là khả năng có thể xảy ra nhất, quy tụ lực lượng nằm vùng phối hợp với các đơn
vị quân giải phóng chủ lực xâm nhập bằng xe hoặc tàu thủy, tấn công bằng súng
cối có đầu đạn nguyên tử. Khả năng tấn công thứ ba - tấn công trả thu do quân
giải phóng không đủ lượng vũ khí nguyên tử để mở một cuộc tấn công chiến thuật
toàn diện. Để triển khai khả năng thứ ba, quân giải phóng sẽ dồn số vũ khí
nguyên tử để tấn công những mục tiêu chiến lược quan trọng. Theo JASON, phi
trường Tân Sơn Nhất sẽ là mục tiêu lư tưởng nhất ở Nam VN.
"Phi trường tọa lạc ở ngoại ô Sài G̣n, trong một khu vực có rất ít dân cư và là
một mục tiêu chiến thuật quan trọng. Hơn nữa, thực tế của công tác an ninh hiện
nay của phi trường không đảm bảo một cách chắn chắn sẽ có lúc một va li bom lọt
lưới vào trong." (trang 41).
Cuối cùng, JASON nhẩm tính có 14 căn cứ quân sự Mỹ có thể bị biến thành tro bụi
hoàn toàn nếu như dính phải 1 hoặc 2 quả bom nguyên tử cỡ 10 kiloton. Tổng cộng
sẽ có 70 mục tiêu, nếu muốn đánh hết, đ̣i hỏi khoảng 150 quả bom cỡ 10 kiloton
(trừ hao một cơ số bom có thể bị điếc hay bị bắt trên đường vận chuyển). Mặc dù
ở thời điểm 1966, lượng vũ khí nguyên tử chắc chắn ngoài tầm cung cấp của Trung
Quốc, nhưng cần phải nể trọng kho vũ khí nguyên tử của Liên Xô, vốn có khả năng
cung cấp không giới hạn.
Ngọc Thịnh
Trích báo
Thanhnien Online số ra từ 30/05 đến 04/06/04
|