WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 06/2004

Tài liệu mật Lầu Năm Góc:

Kế hoạch ném bom nguyên tử xuống VN 

 

Kỳ 1: Cuộc đối thoại ở Nhà Trắng, ngày 15/4/1968 

Nixon (trái) thảo luận với Kissinger.

Năm 1985, trả lời phỏng vấn tạp chí Times, cựu Tổng thống Mỹ - Richard Nixon cho biết: "Tôi đă từng xem xét khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử tại chiến trường VN". Tuy nhiên, bản báo cáo mật Nuclear tactical weapons in South East Asia - Vũ khí nguyên tử chiến thuật tại Đông Nam Á - hoàn tất tháng 3/1967, cho thấy Mỹ đă có ư đồ tấn công miền Bắc Việt Nam bằng vũ khí nguyên tử khi cuộc chiến leo thang từ những năm 1960 với ư định rút ngắn chiến cuộc và giảm thiểu tổn thất nhân mạng. Ư đồ này sau đó được mô tả khá rơ trong quyển Nuclear weapons & the Vietnam war - Vũ khí nguyên tử và cuộc chiến tranh VN - kèm lời nhận định: Việt Nam là mục tiêu tấn công hạt nhân gần nhất của Mỹ kể từ sự kiện Hiroshima và Nagasaki.

 

Nhà Trắng, ngày 15/4/1968

- Ngoại trưởng Kissinger: Tôi nghĩ chúng ta nên tăng cường tấn công vào các nhà máy điện, hải cảng của Bắc Việt Nam.

- Tổng thống Nixon: Tôi thà sử dụng bom nguyên tử c̣n hơn.

- Kissinger: Điều đó ? Tôi e nặng tay quá.

- Nixon: Bom nguyên tử, ông áy náy về điều đó à ?

- Kissinger: Tôi chỉ muốn ngài nghĩ lớn hơn.

Một tháng sau cuộc đối thoại ấy, Nixon kư lệnh leo thang chiến tranh ở Việt Nam. Trong lần trả lời phỏng vấn tờ Times (1985), Nixon cho biết: "Tôi có xem xét khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử, nhưng loại bỏ khả năng ném bom phá đê v́ làm như thế có thể d́m chết khoảng 1 triệu con người. Và cũng v́ lư do ấy, tôi đă quyết định hủy bỏ khả năng tấn công bằng bom nguyên tử bởi v́ đó không phải là mục tiêu quân sự".

Tuy nhiên, trong cuộc đối thoại với Kissinger vào tháng 5/1972, ư đồ của Nixon hoàn toàn không phải vậy.

- Nixon: Điểm duy nhất tôi và ông không tán đồng là về vấn đề ném bom (nguyên tử). Tại sao ông cứ lo đến sinh mạng đám dân chết tiệt ấy ? Tôi cóc cần chuyện đó.

- Kissinger: Tôi quan ngại về sinh mạng dân thường v́ tôi không muốn cả thế giới nh́n ông như một thằng bán thịt. Chúng ta có thể chiến thắng mà không cần phải giết dân.

Trên đây là những cuộc đối thoại được trích ra từ số băng với thời lượng lên đến 500 giờ, ghi lại các cuộc đối thoại của Richard Nixon ở Nhà Trắng. Số băng này được Cục Lưu trữ quốc gia Mỹ công bố vào tháng 3/2002.

 

Báo cáo mật của JASON

Vào thời điểm cao độ của chiến tranh Việt Nam, dù quân đội Mỹ dội bom không thương xót xuống miền Bắc bằng một chiến dịch ném bom lớn nhất trong lịch sử: ném liên tục 3 năm - từ tháng 3/1965, với lượng bom lớn hơn tổng lượng bom ném xuống toàn châu Âu thời đệ nhị Thế chiến, thế nhưng vẫn không tạo được tác động mạnh. V́ vậy, mùa hè năm 1966, Lầu Năm Góc ra lệnh triệu tập một nhóm quy tụ toàn những khoa học gia tinh túy nhất nước Mỹ, khoảng 50 người, với tên gọi JASON có nhiệm vụ nghiên cứu, chuẩn bị cho kế hoạch tấn công Bắc VN bằng vũ khí nguyên tử với ư đồ xoay chuyển cục diện chiến cuộc.

Jason là một bộ phận có tầm ảnh hưởng lớn, song ít được biết đến v́ phần lớn công việc đều được tiến hành trong ṿng bí mật. Mỗi năm JASON ngốn khoản ngân sách 1,5 triệu USD từ Bộ Quốc pḥng và 2,5 triệu USD từ Bộ Năng lượng (thời điểm 1960). Nhóm JASON gặp gỡ, bàn bạc trong 6 tuần lễ liên tục tại UC Santa Barbara để hoàn tất 3 nghiên cứu quan trọng, gồm:

1 - Chiến thuật cắt đứt các đường dây tiếp vận của Việt Cộng.

2 - Xây dựng hệ thống hàng rào điện tử khắp Việt Nam.

3 - Chiến thuật vũ khí nguyên tử ở Đông Nam Á.

Hai nghiên cứu đầu tiên được Bộ trưởng Quốc pḥng lúc bấy giờ - Robert McNamara vận dụng triệt để trong chiến tranh. C̣n bản nghiên cứu thứ ba là bản báo cáo mật dài 55 trang, phân tích khả năng nên sử dụng vũ khí nguyên tử thế nào vào chiến trường VN

 

Kỳ 2: Những mục tiêu tấn công chiến thuật

Chiến đấu cơ A4 Skyhawk

Báo cáo JASON đề xuất sử dụng các loại vũ khí thượng thặng để tấn công VN, bác bỏ khả năng sử dụng hệ thống tên lửa ADM, pháo binh hoặc các loại tên lửa tầm trung và ngắn được trang bị đầu đạn hạt nhân. Cụ thể, JASON lên phương án dùng chiến đấu cơ ném bom, xuất kích từ các hạm đội nhằm giảm thiểu tỉ lệ rủi ro.

 

Loại chiến đấu cơ được đề xuất là A4 Skyhawk - có thể chở được các loại bom B28 (20 kiloton), B43 (1 megaton), B57 (10 kiloton) hoặc B61 (100 - 500 kiloton) để đáp ứng chiến thuật gọi là "nghiên cứu khoan ḷng đất" (REB), nhằm phá hủy hệ thống đường hầm kiên cố của quân giải phóng, được bao bọc bằng thép dày ở sâu dưới ḷng đất. Trong số các mục tiêu t́m diệt quan trọng, JASON đề cập đến:Nơi tập trung quân đội

Đa số các đợt tấn công nguyên tử trong các cuộc chiến đều phải được nghiên cứu kỹ để đánh trúng, chính xác vào vị trí đóng quân của đối phương. Mỗi cú đánh (mỗi quả bom) phải thu được kết quả trung b́nh là thương vong từ 100 - 300 binh sĩ. Tuy nhiên, thực tế rất khó thực hiện v́ đối phương chia nhỏ đội h́nh, liên tục thay đổi địa điểm đóng quân nên sử dụng vũ khí nguyên tử sẽ ít đạt hiệu quả và hoàn toàn không khả thi trong trường hợp đối phương áp dụng chiến thuật đánh nhanh, rút gọn. Tóm lại, việc sử dụng vũ khí nguyên tử vào các mục tiêu quân đội chỉ có tác dụng trong trường hợp ngăn chận đối phương di chuyển với quân số lớn và tập trung trong một diện tích giới hạn.

Bộ chỉ huy và các trung tâm truyền tin ở Nam Việt Nam


Những căn cứ quân sự cố định của quân giải phóng ở Nam Việt Nam là những mục tiêu thích hợp cho tấn công nguyên tử, đặc biệt trong trường hợp tấn công không cần cảnh báo. Tuy nhiên, địa bàn của mỗi cứ địa thường quá rộng - khoảng 160 km2, nên muốn tấn công cần phải định vị mục tiêu dưới sự hỗ trợ của máy bay do thám. Khi đă định vị, dùng vũ khí nguyên tử tiêu diệt mục tiêu sẽ có hiệu quả cao hơn vũ khí quy ước. Với sức công phá cao, vũ khí nguyên tử có thể hủy diệt bộ chỉ huy đối phương đặt dưới hệ thống hầm sâu dưới ḷng đất. Tuy nhiên, do hệ thống đường hầm rất kiên cố nên cần phải sử dụng nhiều vũ khí nguyên tử và phải đánh trúng mục tiêu trong khoảng cách vài trăm feet (1 feet = 0,3 mét).


Hệ thống đường tiếp vận

Lính Mỹ bị thương trong chiến tranh Việt Nam

Đây là mục tiêu chính của các đợt không kích mang tên Rolling Thunder - Tiếng sấm long trời, gần đây nhắm vào Bắc VN, đặc biệt là hệ thống đường sá, đường xe lửa. Đa số các mục tiêu đều phân bố tản mát hoặc cơ động, do đó không phù hợp với việc sử dụng vũ khí nguyên tử. Những mục tiêu tốt nhất cho vũ khí nguyên tử sẽ là hệ thống cầu  - đă có 42 mục tiêu bị tấn công tính đến tháng 3.1966. Tuy nhiên, tấn công cầu bằng bom quy ước không tạo được hiệu quả mong muốn và thường bị đối phương khôi phục một cách nhanh chóng. Một quả bom nguyên tử cỡ 1 kiloton có thể "thổi bay" hoàn toàn mục tiêu nếu ném trúng ở khoảng cách vài trăm feet. Với mục tiêu loại này, có thể giới thiệu loại hỏa tiễn không đối địa (ASM) với loại đầu đạn có sức công phá cao, có tác dụng không kém vũ khí nguyên tử.


Sân bay và các khu vực bố trí SAM

Sân bay là mục tiêu lư tưởng cho vũ khí nguyên tử và cũng là mục tiêu đắt giá đối với chiến thuật ném bom quy ước. Hiện Bắc VN có 14 sân bay, trong đó 4 sân bay không thể tiếp tục sử dụng sau các đợt ném bom Rolling Thunder. Đưa vũ khí  nguyên tử vào cuộc sẽ nhanh chóng vô hiệu hóa toàn bộ 10 sân bay c̣n lại.


Các khu vực bố trí hỏa tiễn SAM cũng là những mục tiêu vũ khí nguyên tử có thể hủy diệt rất hiệu quả, nhưng có thể đối phương sẽ tản mác hoặc ngụy trang các bệ phóng  khiến vũ khí nguyên tử không thể tấn công được. Việc tiêu diệt hệ thống SAM sẽ đem lại ưu thế rất lớn cho chiến dịch không kích, cho phép máy bay tấn công ở độ cao vừa đủ vượt ngoài  tầm bắn của pháo cao xạ.


Đường ṃn và đường đèo độc đạo

Cần một lượng lớn vũ khí nguyên tử - khoảng vài trăm, để thổi tung cây cối, chận toàn bộ các tuyến đường ṃn, đường đèo giữa Bắc VN và Trung Quốc hoặc Bắc VN và Lào. Những con đường quan trọng này sẽ bị xới tung trong chiều dài hàng chục dặm (1 dặm = 1,6 km). Nếu mở một đợt đánh phá quy mô, sử dụng hàng trăm quả bom cỡ 100 kiloton, ắt hẳn đối phương phải huy động đến 50.000 nhân công để có thể hoàn tất công tác sửa chữa trong ṿng 1 - 2 tháng. Điều quan trọng cần chú ư - nên tiếp tục không kích bằng bom quy ước để phá rối công tác sửa chữa.

 

Kỳ 3: Giải cứu Khe Sanh

Máy bay Mỹ rớt trên mặt trận Khe Sanh

Đây là một trong những lần Lầu Năm Góc xem xét nghiêm túc nhất về khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử tại Việt Nam.

 

Trận đánh Khe Sanh chính thức bắt đầu ngày 21/1/1968, khoảng 15.000 - 20.000 quân chủ lực của ta (số liệu ước tính của Lầu Năm Góc) vây chặt 6.000 thủy quân lục chiến Mỹ trong suốt 77 ngày đêm liên tục, khiến nội các Johnson phải nghĩ đến chuyện sử dụng vũ khí nguyên tử để giải vây. Nhiều bằng chứng mới cho thấy nội các Johnson đă thảo luận trong nhiều phiên họp liên tục, đặc biệt là ở thời điểm căng thẳng nhất - từ cuối tháng giêng đến đầu tháng 2/1968, về khả năng tấn công nguyên tử. Theo lời Johnson: "Tôi ao ước không bao giờ phải đối mặt với quyết định sử dụng vũ khí nguyên tử. Do đó, tôi yêu cầu các ngài (tướng lĩnh) phải bảo đảm với tôi là chỉ sử dụng vũ khí quy ước, song vẫn có thể bảo vệ được Khe Sanh".

Trong bản ghi nhớ gửi tướng Wheeler ngày 31/1/1968, Robert Ginsburg - Phó chủ tịch Hội đồng An ninh quốc gia (NSC), nhấn mạnh: Nếu t́nh h́nh Khe Sanh chuyển biến ngày một xấu và đến mức tuyệt vọng, khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử sẽ được đề xuất". Trước đó, Ginsburg và Chủ tịch NSC - Walt Rostow đă bàn bạc vấn đề này trong nhiều tuần liền.

Ngày hôm sau, Wheeler đem "cái nhấn mạnh" của Ginsburg ra tham khảo ư kiến tướng Westmoreland và đô đốc Ulysses Sharp - 2 viên tư lệnh quân đội tại Việt Nam. Wheeler lưu ư rằng chiến trường Khe Sanh cũng gần giống Điện Biên Phủ và liệu đây có phải là mục tiêu thích hợp để tấn công bằng vũ khí nguyên tử hay không, nếu có, việc chuẩn bị sẽ tiến hành ra sao. Lúc này, Westmoreland và Sharp đă thảo luận với nhau để triển khai một vài kế hoạch. Cả ba nhà lănh đạo quân sự Mỹ đều nghĩ không nhất thiết phải sử dụng vũ khí hạt nhân, nhưng với nhăn quan quân sự, cả ba đều cho rằng việc lên kế hoạch chuẩn bị là cần thiết. Lập tức, Westmoreland cho thành lập một bộ phận bí mật chuyên nghiên cứu về khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử trong trường hợp Khe Sanh thất thủ.

Trong sổ ghi nhớ sau này, Westmoreland viết: "Xem xét khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử chiến thuật ở Khe Sanh là một ư tưởng khôn ngoan. Khu vực xung quanh Khe Sanh gần như không có người ở, do đó, số lượng thường dân bị thương vong sẽ ở mức thấp nhất". Westmoreland cũng nhắc lại trường hợp ném bom nguyên tử thời Đệ nhị thế chiến là với mục đích gửi thông điệp đến Nhật Bản. Trong chiến tranh Triều Tiên, vũ khí nguyên tử đóng vai tṛ răn đe nhắm vào CHDCND Triều Tiên - nhiều người cho rằng - đă góp phần chấm dứt cuộc chiến Triều Tiên. Ông viết: "Sử dụng vài quả bom nguyên tử cỡ nhỏ ở Việt Nam, hoặc thậm chí đe dọa sử dụng, sẽ nhanh chóng góp phần kết thúc sớm cuộc chiến. Nếu Washington muốn gửi thông điệp đến Hà Nội, chắc chắn vũ khí nguyên tử cỡ nhẹ sẽ làm được điều này rất hiệu quả”. Westmoreland cảm giác rằng lúc đó, và thậm chí sau này, thất bại trong nỗ lực sử dụng vũ khí nguyên tử là một sai lầm.

Trong lúc nội các đang ngấm ngầm chuẩn bị kế hoạch triển khai khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử, nguồn tin bị ṛ rỉ ra ngoài. Trên kênh truyền h́nh CBS, thượng nghị sĩ Eugene McCarthy - đang vận động tranh cử tổng thống - đă trả lời công khai về "kế hoạch sử dụng vũ khí nguyên tử của nội các Johnson". Thủ tướng Anh lúc bấy giờ - ông Harold Wilson trong chuyến viếng thăm Washington đă trả lời phỏng vấn của CBS rằng: "Thật điên rồ nếu Mỹ sử dụng vũ khí nguyên tử. Điều đó không chỉ đem lại hậu quả thảm khốc cho vị thế của nước Mỹ mà c̣n là khởi đầu rất nguy hiểm cho khả năng leo thang chiến tranh trên toàn thế giới".

Tuy nhiên, cũng có một số nghị sĩ tán đồng quan điểm sử dụng vũ khí nguyên tử. Wayne Hays - thành viên Ủy ban Đối ngoại Nhà Trắng cho rằng "hoàn toàn ngu ngốc nếu chịu đựng thất bại thảm khốc tại Khe Sanh" trong khi nghị sĩ Charles Bennett kêu gọi "sử dụng bất cứ sức mạnh nào" để giành chiến thắng "ngay cả khi đe dọa sử dụng vũ khí nguyên tử và xâm lược Bắc Việt Nam".

Trong bản thông cáo báo chí ngày 9/2 Tổng thống Johnson phản ứng kịch liệt: “Trong suốt 7 năm qua tôi chưa hề nhận được lời yêu cầu triển khai vũ khí nguyên tử nào cả, do đó, tôi muốn chấm dứt thảo luận về vấn đề này". Chiến dịch giải vây sau đó giao cho Westmoreland được toàn quyền sử dụng bất kỳ loại vũ khí quy ước nào để bảo vệ Khe sanh. B52 Mỹ đă dội hơn 100.000 tấn bom xuống vùng giao tranh rộng vỏn vẹn 5 dặm vuông. Đây là cuộc dội bom được xem là có mật độ dày nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới.

 

Kỳ 4: Chiến dịch cái móc vịt

Máy bay Mỹ ném bom miền Bắc.

Sau khi đắc cử tổng thống (1968), Nixon đă cùng cố vấn an ninh quốc gia bí mật hoạch định chiến dịch mang tên Duck Hook Operation (tạm dịch: chiến dịch Cái móc vịt) - một chiến dịch được phác thảo rất tỉ mỉ, đáp ứng sự nôn nóng kết thúc sớm cuộc chiến ở VN của Nixon.

 

Ngày 27/1/1969, Nixon, Kissinger, tướng Wheeler và Bộ trưởng quốc pḥng Melvin Laird nhóm họp thảo luận các khả năng tấn công "có thể làm choáng váng Bắc VN để tạo thuận lợi trong cuộc đàm phán Paris". Ngày 21/2, Laird chuyển cho Kissinger bản báo cáo của Hội đồng chỉ huy liên quân, phác thảo sơ bộ về kế hoạch. Bản báo cáo mật này hoạch định 5 phương án tấn công, trong đó phương án cuối cùng có tên gọi "thuật leo thang (chiến tranh)" - sử dụng vũ khí nguyên tử, vũ khí sinh học hoặc các loại vũ khí hóa học hạng nặng. Phương án này được ghi chú đặc biệt là "sử dụng các loại vũ khí này trên chiến trường VN có thể tạo nên sự phản ứng mạnh mẽ của dư luận và quốc hội, có thể gây ra sự chống đối trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Okinawa, Nhật Bản”.

Không ai trong số Laird, cố vấn an ninh quốc gia Kissinger hoặc Alexander Haig - trợ lư quân sự của Kissinger, có ư định phản bác phương án này. Luận với Kissinger, Haig gọi đây là "kế hoạch bao quát hơn tất cả những ǵ ngài và tổng thống mường tượng như là dấu hiệu của sự chấp thuận ư định leo thang chiến tranh tại VN". Kissinger nhận xét đây là kế hoạch “có quan điểm tốt" nhưng trước bối cảnh thực tế, dưới sức ép của dư luận trong nước và quốc tế, việc triển khai kế hoạch này khó được chấp nhận. V́ vậy, Kissinger chọn phương án triển khai trong bí mật hơn là công khai và phương án đó được gọi là “Chiến dịch Cái móc vịt”.

Những điểm nhấn quan trọng trong chiến dịch là các phương án sử dụng sức mạnh quân sự khổng lồ của Mỹ để đánh phá Bắc Việt Nam trong khoảng thời gian xuân - hè 1969. Những mục tiêu đánh phá bao gồm ném bom Hà Nội, Hải Pḥng và những khu vực chiến lược khác ở bắc VN; thả thủy lôi ở các hải cảng, sông ng̣i; ném bom phá hủy hệ thống đê sông Hồng, xua quân bắc tiến, phong tỏa cảng Shinanoukville, dùng vũ khí nguyên tử phá hủy đường ṃn Hồ Chí Minh (nơi mà theo Lầu Năm Góc, mỗi tháng quân ta chuyển được 4.500 quân và mỗi ngày vận chuyển được 300 tấn hàng tiếp tế các loại); và cuối cùng là ném bom các tuyến đường sắt chính nối Bắc VN với Trung Quốc. Một kế hoạch hỗ trợ khác, bí mật hơn cũng được vạch ra là sử dụng vũ khí nguyên tử tấn công các tuyến đường sắt - vốn là đầu mối tiếp nhận viện trợ chính từ Trung Quốc và Liên Xô. Theo Haldeman - tổng tham mưu của Nixon, Kissinger đă "lobby" cho khả năng tấn công hạt nhân trong suốt mùa xuân và thu năm 1969.

Cuối tháng 8, Nixon xem xét "kế hoạch K" của Kissinger nhưng tạm thời chưa quyết định. Đến đầu tháng 9, sợ Nixon lung lay quan điểm trước sức ép dư luận, Kissinger chủ động đốc thúc tổng thống chấp thuận cái gọi là "Sự chọn lựa tháng 11" - một kế hoạch tấn công ồ ạt, tàn ác nhắm vào Bắc VN ḥng chấm dứt chiến tranh. Ngày 9/9, Kissinger gặp tướng Wheeler để "thảo luận về kế hoạch tấn công quân sự theo chiến dịch Duck Hook" và truyền đạt lệnh ủy nhiệm của tổng thống rằng "đây là chiến dịch giới hạn thông tin, kể cả bộ trưởng quốc pḥng cũng không được biết".

Đầu tháng 9, Kissinger thành lập một tiểu ban tuyển lựa từ ban tham mưu của ḿnh, đặc trách nghiên cứu "khảo sát khả năng ăn miếng trả miếng quân sự của hai phía". Trong những năm ở Nhà Trắng, Kissinger viết: "Tôi bảo với tiểu ban này là những ǵ tôi cần biết là một kế hoạch quân sự có tác động cực mạnh lên khả năng quân sự đối phương, trong đó có khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử trong t́nh huống được kiểm soát cẩn thận". Một tài liệu mật mang tên "Khái niệm chiến dịch" đưa vào giữa tháng 9, nhấn mạnh: "Nước Mỹ luôn kiên định trong việc cung ứng bất kỳ lực lượng nào cần thiết trong việc bảo vệ những mục tiêu của ḿnh tại châu Á. Sức ép của dư luận quốc tế, trong nước và khả năng Trung Quốc, Liên Xô phản ứng cũng rất quan trọng nhưng cũng không cần thiết phải xóa bỏ những hành động mạnh nhắm vào Bắc VN". Bản tài liệu này cũng ghi chú việc đánh bom đê sông Hồng sẽ gây nên một "vấn đề nghiêm trọng" trong nội bộ nước Mỹ.

Trong suốt tháng 9 và 10, Nixon tiếp tục đưa ra những tuyên bố đe dọa leo thang chiến tranh tại VN. Để nhấn mạnh thêm ư định của ḿnh, Nixon ra lệnh báo động ngầm trong toàn bộ hệ thống vũ khí nguyên tử chiến thuật của Mỹ trên toàn thế giới. Đây được xem là một trong những chiến dịch lớn nhất trong lịch sử quân sự Mỹ, bắt đầu từ ngày 13/10 và kết thúc 1 tháng sau đó. Tuy nhiên, khi những hoạt động phản chiến trong nước bùng nổ, đến giữa tháng 11, Nixon đă phải âm thầm hủy bỏ chiến dịch Duck Hook. Trong sổ ghi nhớ sau này, Nixon cho biết chính sự phản ứng dữ dội của dư luận trong và ngoài nước trước kế hoạch leo thang chiến tranh đă làm xói ṃn ư định triển khai chiến dịch. Một thời gian lâu sau, ông ta mới tiết lộ kế hoạch trên cho ngoại trưởng và bộ trưởng quốc pḥng - ông William Rogers và Melvin Laird. Hai nhà khoa học tham vấn cho tổng thống về kế hoạch trên cũng lên án khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử, cả về lư do quân sự lẫn đạo đức.

 

Kỳ cuối: V́ sao Mỹ chấp nhận thua, không tấn công nguyên tử?

Lính Mỹ bị thương tại chiến trường VN

Ư định sử dụng vũ khí nguyên tử vào chiến trường VN, theo Lyndon Johnson (1968): "Tôi không muốn trở thành vị tổng thống Mỹ đầu tiên thất trận", c̣n Nixon "Nước Mỹ không thể thua trận" và "thương vong là lẽ đương nhiên của chiến tranh". Thế nhưng, qua hai đời tổng thống Mỹ, vũ khí nguyên tử vẫn không được đưa vào sử dụng. Đây là kết quả đấu tranh v́ ḥa b́nh của nhân dân tiến bộ Mỹ và toàn thế giới. Tuy nhiên, vẫn có một nguyên nhân sâu xa khác:  sợ bị trả đũa.

 

Tài liệu mật JASON (đă đề cập ở kỳ I và II), phân tích rất cẩn thận đến khả năng bị phản công một khi Mỹ đưa bom nguyên tử vào sử dụng cùng với việc quân ta sẽ triển khai vũ khí nguyên tử đó như thế nào: "Ở thời điểm 1966, Trung Quốc mới tiến hành thử và triển khai vũ khí hạt nhân đầu tiên, do đó, nguồn cung cấp chính cho quân giải phóng rất có thể đến từ Liên Xô. Hệ thống tên lửa chiến thuật và khả năng tấn công bằng cách dùng chiến đấu cơ ném bom của Liên Xô - phải thẳng thắn công nhận - đều sử dụng những đầu đạn hạt nhân hạng nặng, có sức công phá nhiều kiloton (trang 32). Loại nhẹ nhất trong số vũ khí này cũng có thể mang đầu đạn nặng đến 1.000 pound (khoảng 450 kg), rất khó cho những toán quân đánh theo chiến thuật du kích do trở ngại trong vận chuyển (trang 6). Do đó, khả năng trả đũa cao nhất rất có thể xảy ra xuất phát từ việc Liên Xô triển khai tấn công từ các chiến đấu cơ  hoặc hỏa tiễn phóng đi từ các chiến hạm ngoài đại dương".

JASON lưu ư thêm: "Khả năng Liên Xô thiết kế được loại vũ khí nguyên tử chuyên biệt cho bộ binh là rất thấp (trang 31) nhưng khả năng đầu đạn nguyên tử được bắn đi từ súng cối, súng không giật nặng vài trăm pound với tầm bắn xa vài dặm là khả dĩ". Đây là các loại vũ khí nguyên tử tương tự như hệ thống hỏa tiễn Little John hoặc phi đạn Crockett của Mỹ, được bắn từ các bệ pháo không giật 120 mm, 150 mm, rất có thể quân giải phóng đă sở hữu loại vũ khí này dù lúc đó, Mỹ không hề xác định được là do Liên Xô hay Trung Quốc cung cấp.


Điều cốt yếu trong việc Liên Xô cung cấp vũ khí nguyên tử chiến thuật cho quân giải phóng - theo JASON - chắc chắn sẽ là những loại vũ khí gọn, nhe, dùng trong các trận chiến trên bộ. "Những loại vũ khí cỡ nhỏ, trọng  lượng nhẹ,  được đưa vào Bắc VN và sau đó theo đường ṃn Hồ Chí Minh vận chuyển vào Nam với độ khó khăn đạt mức thấp nhất, mặc dù chắc chắn họ phải mất nhiều tháng để có thể chuyển được từ 50 - 100 vũ khí nguyên tử theo cách này" (trang 38).

Đường ṃn Hồ Chí Minh

Những khả năng phản đ̣n có thể một khi Mỹ tung vũ khí nguyên tử vào cuộc, JASON nghiên cứu 3 khả năng. Thứ nhất là đợt tấn công dồn dập, từ 70 - 100 vũ khí nguyên tử loại từ 10 - 20 kiloton, đồng loạt nhắm vào nhiều căn cứ quân sự Mỹ. "Khả năng tấn công này là không thể loại trừ. Nó đ̣i hỏi sự hợp đồng tác chiến rất chặt chẽ, có phần mạo hiểm nếu thực thi mệnh lệnh không đồng đều". Thứ hai - khả năng tấn công kéo dài: từng đợt tấn công của từng đơn vị du kích, đánh vào từng mục tiêu kéo dài trong nhiều tuần lễ hoặc nhiều tháng. Đây là khả năng có thể xảy ra nhất, quy tụ lực lượng nằm vùng phối hợp với các đơn vị quân giải phóng chủ lực xâm nhập bằng xe hoặc tàu thủy, tấn công bằng súng cối có đầu đạn nguyên tử. Khả năng tấn công thứ ba -  tấn công trả thu do quân giải phóng không đủ lượng vũ khí nguyên tử để mở một cuộc tấn công chiến thuật toàn diện. Để triển khai khả năng thứ ba, quân giải phóng sẽ dồn số vũ khí nguyên tử để tấn công những mục tiêu chiến lược quan trọng. Theo JASON, phi trường Tân Sơn Nhất sẽ là mục tiêu lư tưởng nhất ở Nam VN.


"Phi trường tọa lạc ở ngoại ô Sài G̣n, trong một khu vực có rất ít dân cư và là một mục tiêu chiến thuật quan trọng. Hơn nữa, thực tế của công tác an ninh hiện nay của phi trường không đảm bảo một cách chắn chắn sẽ có lúc một va li bom lọt lưới vào trong." (trang 41).


Cuối cùng, JASON nhẩm tính có 14 căn cứ quân sự Mỹ có thể bị biến thành tro bụi hoàn toàn nếu như dính phải 1 hoặc 2 quả bom nguyên tử cỡ 10 kiloton. Tổng cộng sẽ có 70 mục tiêu, nếu muốn đánh hết, đ̣i hỏi khoảng 150 quả bom cỡ 10 kiloton (trừ hao một cơ số bom có thể bị điếc hay bị bắt trên đường vận chuyển). Mặc dù ở thời điểm 1966, lượng vũ khí nguyên tử chắc chắn ngoài tầm cung cấp của Trung Quốc, nhưng cần phải nể trọng kho vũ khí nguyên tử của Liên Xô, vốn có khả năng cung cấp không giới hạn.

 

Ngọc Thịnh 

Trích báo Thanhnien Online số ra từ 30/05 đến 04/06/04

Bài trong tháng

Agent Orange: collateral damage
Ai cũng muốn đất nước phát triển
Cao Huy Thuần_Hai bài Kinh Bát Nhă
Cuộc sống mới ngược ḍng
Có phải Việt kiều là như thế?
Cảm nhận mùa thu
Festival Huế
GS Trần Văn Khê
Hiệp định phân định lănh hải
Hoàng hôn và Hôn hoàng
Hoàng Thành ở đâu
Hoạ sĩ Bửu Chỉ trước 75
Khiêu vũ và chóng mặt
Kế hoạch ném bom nguyên tử
Lưới trời ai dệt
Lời nhắn
Mùa thu xưa
Nguyên Tường_Số mệnh và Linh hồn
Nguyễn R_Tượng khóc ra máu
Người thi hoá Kinh Phật
Nh́n h́nh Iraq nhớ VietNam
Những kẻ nói láo
Những tấm h́nh cà chớn
Nước chảy mây trôi
Phỏng vấn Nguyễn Cao Kỳ_Tây nguyên
Quang Nguyen_A Destructive obsession
Regarding the Torture of Others
Thu buồn
Thái Kim Lan_Trần Thái Tông, nhân ảnh trong Thiền học VN
Thái Kim Lan_Đọc thơ Rilke viết về Phật
Thư Betz gửi Lâm Quang Thi
Thụ động thông tin
Thủ tướng chịu chơi
Trang thơ
Truyền thống tra tấn
Tuần lễ của những người khổng lồ
Tết Đoan Ngọ
Từ tăng lữ đến nhà hàng chay
Viết văn và trị liệu
Văn hóa nông nghiệp qua ca dao
Vĩnh biệt xe lôi
Xá lợi Phật
Ôi những tấm h́nh
Đọc sách: Nước chảy mây trôi
Đồ tắm đồ chơi

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE