|
Lời
ban biên tập: Nguyên bản của tác giả gửi đến có kèm theo mục Tham khảo gồm
34 ghi chú và tham khảo. V́ lư do kỹ thuật, font chữ không đọc được, chúng tôi
tạm cắt phần này. Chúng tôi sẽ cập nhật sau khi khôi phục lại được nguyên bản.
Xin cáo lỗi cùng tác giả và bạn đọc.
Chuyển
Luân
TRẦN
THÁI TÔNG, nhân ảnh trong Thiền học Việt nam
Thái Kim Lan
Trong mấy năm gần đây, phần giới thiệu tư tưởng
Việt nam qua các tác phẩm văn học và triết học đến với độc giả Đức đă nằm trong
chương tŕnh tuyển tập văn học Việt Đức do một số trí thức người Đức và tôi đảm
nhận. „Khóa Hư Lục“ của Trần Thái Tông là một trong các tác phẩm tiêu biểu trong
lịch sử tư tưởng Việt nam đă được chọn dự tính chuyển dịch sang Đức ngữ. Từ đó
tôi đă liên lạc với Thầy Lê Mạnh Thát tại Học viện Vạn Hạnh để xin các tài liệu
tham khảo. Tháng 4 vừa qua được Thầy tặng công tŕnh biên khảo„Trần Thái Tông
toàn tập“ vừa xuất bản. Bài viết sau đây không phải là bài giới thiệu tác phẩm
mà chỉ đề cập sơ khởi một thắc mắc từ lâu khi t́m hiểu lịch sử hành trạng của
tác giả Khóa Hư Lục..
Thái Kim Lan
Trong ba vị vua xuất chúng của nhà Trần, Trần
Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông, Trần Cảnh (Thái Tông) là nhân vật
vừa hào hùng vừa bi thảm, vừa trí tuệ phóng khoáng tột cùng và h́nh như cũng đă
mê lầm trong những bó buộc hút sâu, vừa vinh quang oanh liệt trong danh vọng mà
cũng vừa khốn khổ đọa đày trong tâm khảm, vừa là vua thống trị thần dân nhưng
lại coi ngai vàng như „chiếc dép rách“. Tiền bạc lụa là châu báu đầy kho mà tâm
hồn th́ rỗng không tĩnh lặng.Vinh quang và khổ nạn như là một mâu thuẫn, một
thảm kịch trần ai của nhân vật lịch sử này, kẻ - được vợ trao lại ngôi vàng lúc
8 tuổi - không những đă sáng lập nhà Trần mà c̣n bảo vệ và xây dựng một Đại Việt
hùng cường, một nền văn minh và văn hóa độc sáng và thiện hảo cho dân tộc Việt .như
sử sách đă ghi lại
So với Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông, những
nhân vật đă sáng tạo nên „tinh thần Thiền Việt nam“ …vừa là „Chiến sĩ, Nghệ sĩ,
Đạo sĩ, ba con người làm một đă kết tinh một cách hiển nhiên rơ rệt vào ba đời
vua nhà Trần một cách miên tục nhất quán, đời ông, đời cha, đời con: Thái Tông,
Thánh Tông, Nhân Tông“ như Nguyễn Đăng Thục nhận xét,
Trần Thái Tông đă là nhân vật lịch sử kỳ lạ có sức thu hút làm cho người đi sau
trăn trở chính do những dữ kiện bi tráng trong cuộc đời và sự nghiệp của ông:
cùng với sự nghiệp đất nước ông đă xây dựng một nền đạo đức học Phật giáo
cho thế hệ đi sau, không phải với tư cách một nhà độc tài quân phiệt
phong kiến mà với tư cách của một người „cùng đinh“ trong nghĩa vô ngă của đạo
Phật, để kẻ kế thừa ông có thể khẳng định đất nước Đại Việt „muôn nghiệp
an nhàn thể tính“ và „tự tại thân tâm“, như Trần Nhân Tông trong „Cư trần lạc
đạo“ đă nói rơ tương quan giữa đạo và đời, giữa Thăng Long lầu vàng điện ngọc và
Yên tử yến thốt oanh ngâm:
„Ḿnh ngồi thành thị
Nết dụng sơn lâm
Muôn nghiệp lặng an nhàn thể tính
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm
Tham ái nguồn dừng
Chẳng c̣n nhớ châu yêu ngọc qúi
Thị phi tiếng lặng
Được đầu nghe yến thốt oanh ngâm.
(Trần Nhân Tông, Cư trần lạc đạo)
Trong 3 vị vua đầu nhà Trần, Trần Nhân Tông đă
dễ dàng hơn trong tư thế „chiến sĩ, nghệ sĩ, đạo sĩ“ sáng ngời trong lịch sử
trên mọi phương diện „Nhân Trí Dũng“ mà Nguyễn Đăng Thục cho là nét độc đáo của
văn minh Việt nam từ khi dựng nước, ông có thể lập ngôn đạo đức vững chải, tự
chủ và thong dong. „tham ái nguồn dừng…“ Lịch sử và đời sau chỉ biết ngưỡng mộ
và kính yêu mà không một lời phê phán tiêu cực.
Trần Thái Tông th́ không như thế.“ Thị phi“
trong lịch sử không lặng lẽ, dù không ồn ào.Bản án bội t́nh và loạn dâm, dù bất
đắc dĩ - nhưng cũng đă xảy ra - vẫn c̣n treo trên giá sử.
Trần Thái Tông đă dựa vào cơ sở đạo đức Phật
giáo như thế nào để có thể đứng vững trong xă hội Đại Việt thời ấy, với tư cách
là một vị lănh đạo quốc gia lỗi lạc, một Thiền sư uyên áo? Tà hạnh của Trần Cảnh
có nên bị kết án như các nhà Viết sử đời sau quan niệm? Giữa Trần Thái Tông „tà
hạnh“ và Trần Thái Tông„khoan nhân đức độ“ có một liên hệ nhân quả nào trong lời
phê phán của các sử gia
Trả lời những câu hỏi trên có thể cho cho ta hiểu được sự liên hệ giữa quan điểm
đạo đức học Phật giáo với t́nh tự dân tộc thế kỷ 13 (trong đó có truyền thống
yêu nước, yêu quê cha đất tổ) và chủ trương của nhà Trần đă lấy Phật giáo làm
nền tảng đạo đức và cơ sở tư tưởng trong công cuộc xây dựng đất nước.
1. Phê phán lịch sử: bội t́nh và loạn dâm:
Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Ngô Thời
Sĩ
đứng trên quan điểm Khổng giáo trong khi đánh giá sự kiện lịch sử đời Trần. Từ
quan điểm Nho giáo lấy tam cương ngũ thường để suy xét hành vi của Trần Cảnh,
lấy luân thường đạo lư như những nguyên tắc bất di bất dịch để đánh giá hậu quả
của một hành vi như một trách nhiệm tuyệt đối. Luận công và tội của họ có phần
hạn hẹp và cưỡng ép, bởi lẽ những dữ kiện lịch sử và văn hoá trong toàn thể sự
nghiệp của Trần Cảnh chưa được cân nhắc nhiều mặt, nhất là về mặt tư tưởng văn
học và tôn giáo. Những phê phán của họ cho thấy rơ rệ thái độ thái độ bài xích
hay khinh thị Phật giáo của sĩ phu theo Nho học từ thế kỷ thứ 15. Phan Phu Tiên
cho rằng việc Trần Cảnh tha tội phản loạn và ngăn cản không cho Trần Thủ Độ giết
anh là Trần Liễu không thể bảo là „NHÂN“ mà do „lẽ trời chưa mất“.
Bởi thế án dâm loạn vẫn c̣n. Chữ „Nhân“ của Phan Phu Tiên xử dụng trong trường
hợp này quá hẹp và khái niệm „lẽ trời“ lại quá mông lung để có thể chấp nhận
nhận định này không phải là vu vơ.
Ngô Sĩ Liên và Ngô Thời Sĩ qui trách
nhiệm cho Trần Cảnh về những hành động loạn luân của những vị vua cuối đời
Trần, có nghĩa là gần 200 năm sau, cơ nghiệp nhà Trần suy vi. Họ đă quên cả một
thời đại huy hoàng oanh liệt của nhà Trần qua sự khai sáng cơ nghiệp về văn trị
cũng như vơ công của Trần Thái Tông và tự mâu thuẫn khi ghi „vua khoan nhân đại
lượng, có lượng đế vương“. Hơn nữa nếu đă suy diễn nhân quả „ Thái Tông làm hại
nhân luân, đă mở mối dâm loạn“ th́ khả năng suy diễn chính nhờ phương sách ấy
mà nhà Trần đă đưa Đại Việt đến giai đoạn phồn thịnh nhất trong lịch sử Việt
nam, đă giữ vững giang sơn độc lập và đă đào tạo những vị vua đạo đức anh minh
kế tiếp có một không hai trong lịch sử Việt nam đă đập tan quân Mông cổ, củng cố
hoà b́nh và phồn thịnh cho nhân dân Việt nam. Lư luận này có cơ sở lịch sử vững
chắc và thuyết phục hơn lư thuyết về hậu quả 200 năm sau của nhà Trần mà Ngô Sĩ
Liên và Ngô Thời Sĩ đưa ra ở trên.
Bởi thế vấn đề „tà hạnh“ hay đạo đức
của Trần Thái Tông nên nh́n từ một góc độ t́m hiểu khác. Trước tiên từ góc độ
của người trong cuộc:
1.2. Người trong cuộc:
Trần Cảnh là người phản đối đầu tiên,
phản đối dữ dội và quyết liệt biện pháp của Trần Thủ Độ. Được Lư Chiêu Hoàng
nhường ngôi năm 8 tuổi, sống với nhau gần 10 năm, mối t́nh của hai người đă được
Chân Ngyên Thiền sư chép lại khá tường tận,
bỗng nhiên bị áp đặt phải lấy vợ của anh, Trần Cảnh tuyệt vọng bỏ ngai vàng
trốn lên Yên Tử như chính nhà vua tường thuật trong „Thiền tông chỉ Nam“ :
V́ thế trẫm cùng mọi người về kinh,
miễn cưỡng lên ngôi. Trong khoảng hơn chục năm, mỗi khi được rảnh việc, trẫm lại
hội họp các vị tuổi cao đức cả để tham vấn đạo thiền. Đến các kinh điển của đại
giáo th́ không kinh nào không nghiên cứu. Trẫm thường đọc kinh Kim Cương, đến
câu „Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm“, vừa gấp sách lại ngâm nga, bỗng nhiên tỉnh
ngộ, liền đem những điều giác ngộ được làm bài ca này, đặt tên là Thiền tông chỉ
nam. Năm ấy Quốc sư từ núi Yên tử về Kinh, trẫm cho ở chùa Thắng Nghiêm để trông
coi việc khắc in kinh sách. Nhân đó, trẫm viết ra bài ca, đưa cho Quốc sư xem.
Mới đọc qua một lần, sư đă mấy phen tán thưởng, nói: Tấm ḷng chư Phật ở cả
trong bài ca này, sao không khắc in thành kinh bản để chỉ dẫn cho kẻ hậu học?“
Trẫm nghe lời này, sai thợ viết chữ
chân phương, ra lệnh khắc bản in. Chẳng những để chỉ đường mê cho hậu thế, mà
c̣n tiếp nối công lớn các bận Thánh nhân đời trước. V́ thế tự làm lời tựa này.“
Tuy viện lư do v́ mất mẹ mất cha,
nhưng việc bỏ lên Yên tử rơ ràng có nguyên nhân từ biện pháp bỏ Chiêu Hoàng lấy
Thuận Thiên để có con nối dơi, „Đối với một người hạnh tốt biết đạo mà phải làm
việc không hợp đạo lư này, nhà vua rất đau đớn“ như Ḥa thượng Thanh Từ nhận
xét.
2. Biện minh:
Lê Mạnh Thát trong cuốn „Trần Thái
Tông toàn tập“, tác phẩm lịch sử sưu tập đầy đủ nhất về Trần Thái Tông từ trước
đến nay, đă đưa ra một biện minh với „một cái nh́n luân thường mới“ mà tác giả
gọi là „đạo đức cách mạng“ để bác bỏ những hài tội của Phan Phu Tiên và Ngô Thời
Sĩ:
„Ngày nay, chúng ta có thuận lợi để
nh́n về sự kiện này. Chúng ta không phủ nhận việc dùng luân thường đạo lư mà bất
cứ xă hội loài người nào cũng phải có để đánh giá các hành vi xă hội của một con
người. Tuy nhiên, trong trường hợp này, yêu cầu bảo vệ quyền lợi tập thể mà ở
đây là quyền lợi của một quốc gia, một dân tộc, đ̣i hỏi phải có một cái nh́n
luân thường mới, mà từ hiện đại thường dùng là đạo đức cách mạng. Tại sao? B́nh
thường. giết người phải đền mạng. Một người đi giết người khác tất phải bị lên
án, thậm chí bị tử h́nh. Song nếu vị quyền lợi của một cộng đồng, của một dân
tộc, th́ việc giết được một người đôi khi c̣n được ca ngợi là anh hùng khí
phách…
Cho nên đặt biện pháp quyết liệt của
Trần Thủ Độ trong bối cảnh quốc tế bấy giờ của đất nước ta và thế giới, ta mới
hiểu lư do v́ sao. Bản thân vua Trần Thái Tông không phải là không biết biện
pháp này là sai lầm. Em không thể lấy vợ của anh ruột ḿnh đang c̣n sống. Chính
do nh́n sự kiện như thế, nên vua Trần Thái Tông đă nửa đêm bỏ ngai vàng t́m lên
Yên Tử. Sự ra đi này biểu lộ một thái độ cương quyết không chấp nhận biện pháp
ấy về mặt cá nhân. Nhà vua cũng cảm thấy bị bức xúc, không muốn làm một việc mà
bất cứ một người Đại Việt b́nh thường nào thời đó đều không muốn làm. Hơn nữa
nếu xét về tư cách một người Phật tử, biện pháp v ừa nói càng không nên thực
hiện …
V́ vậy bảo rằng vua Trần Thái Tông đă
„mở mối dâm loạn“ mà những người như Phan Phu Tiên và Ngô Th́ Sĩ đă nói tới.
Thật sự tỏ ra họ đă không thông cảm nổi với chính những bức xúc của vua Trần
Thái Tông, xét về mặt cá nhân và tư cách Phật tử.. Đây là điểm thứ nhất, mà họ
không thấy, như chính lời bàn của họ đă biểu lộ.“
„Điểm thứ hai chính là vấn đề tại sao
vua Trần Thái Tông đă làm một việc mà bản thân vua không thích và cảm thấy hết
sức bức xúc v́ nó?“
chính là bối cảnh chính trị, quân sự của Đại Việt nói riêng và
t́nh h́nh thế giới thời bấy giờ. Nội trị cần có sự ổn định trật tự trong buồi
giao thời chuyển tiếp từ Lư sang Trần, củng cố thế đứng vững chắc cũng như quyền
lực cai trị của nhà Trần, mà Trần Thủ Độ là quân sư. Ngoại giao đang nằm trong
sự khủng hoảng đe doạ của thế lực quân Mông Cổ, „t́nh h́nh quốc tế thời bấy giờ
đang có những biến động lớn…“. Đế quốc Mông cổ đă thôn tính nhà Kim (1234) và
chuẩn bị tấn công Nam Tống (1236), nguy cơ thôn tính Đại Việt chỉ c̣n là câu hỏi
nay mai.
Việc chính thống hoá sự lên ngôi của
nhà Trần „nhằm ổn định nhân tâm. Đoàn kết người dân lại thành một khối vững
chắc“. Yêu cầu chíng thống hoá phải có một người con của họ Trần do chính Lư
Chiêu Hoàng sinh ra.“
Theo Lê Mạnh Thát „biện pháp quyết
liệt“ của Trần Thủ Độ „trước mắt là nhằm chính thống hoá sự lên ngôi vua, nhưng
đồng thời để chuẩn bị dư luận nhằm đoàn kết toàn dân cho một cuộc chiến sắp tới
đối với quân Nguyên- Mông…thể hiện một phần chiến lược an ninh quốc pḥng của
Đại Việt thời bấy giờ. Chính v́ nó thể hiện chiến lược an ninh quốc pḥng này mà
khi vua Trần Thái Tông bị buộc phải chấp nhận, dù bản thân hoàn toàn không muốn.
Bài tựa do chính nhà vua viết để lại th́ do nghe lời của Phù Vân quốc sư về
việc lấy ư muốn của thiên hạ làm ư muốn của ḿnh, lấy tấm ḷng của thiên hạ làm
tấm ḷng của ḿnh mà nhà vua đă gạt bỏ những suy tính cá nhân, chấp nhận việc
trở lại kinh đô Thăng Long để thực hiện trọng trách lănh đạo quốc gia…“
Từ những lư luận trên Lê Mạnh Thát cho
rằng: „Đây là điểm mà Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên và Ngô Th́ Sỹ đă không thấy.
Cho nên, họ loanh quanh lẩn quẩn trong ṿng đạo lư luân thường của những người
dân b́nh thường mà không biết đặt vua trong góc độ của một nhà lănh đạo đất
nước, đặc biệt trong t́nh huống đất nước, đặc biệt đất nước đang có nguy cơ
chiến tranh với một kẻ thù“ hung hăn… „Biện pháp đó không phải là „tà mưu“ như
Phan Phu Tiên đă đánh giá. Ngược lại, nó là một mưu lược sáng suốt nhằm ổn định
t́nh h́nh chính trị đất nước lúc bấy giờ và tạo điều kiện để tiến hành một số
biện pháp khác nhằm tăng cường tiềm lực dân tộc..“
(LMT. TTTTT, đă dẫn, tr. 53).
3.
Trong cuốn „Khoá Hư Lục giảng giải“
Ḥa Thượng Thích Thanh Từ đă giới thiệu tác giả của „Khoa Hư Lục“, nhân vật
Trần Thái Tông, từ biến cố năm Bính Thân (1236) như sau:
-
„Thái Tông là ông vua chăm học, trong bài tựa Kinh Kim Cưuơng tam muội
ông viết: Trẫm lo việc chăn dân, mỗi lúc gian nan thường lăn lóc trong công
việc, quên cả sớm chiều. Công việc th́ có hàng vạn thứ mà th́ giờ nhàn rỗi không
có được bao lăm. Siêng công việc, tiếc ngày giờ, Trẫm cố học hành thêm. Chữ
nghĩa th́ chưa biết được bao lăm, cho nên ban đêm đến giờ khuya vẫn c̣n phải
thức để đọc sách; học sách Nho rồi c̣n học kinh Phật“. Thái Tông là ông vua cần
mẫn hiếu học, không buông ḿnh theo dục lạc.“
-
„Thái Tông lại là ông vua anh hùng“, đă đích thân cùng với quân sĩ tham
gia trận đánh quân Mông cổ năm 1257. „Đây là ông vua vừa đạo đức vừa anh hùng,
làm rạng rỡ những trang sử oai hùng của dân tộc Việt nam“
-
Trần Thái Tông „là người lănh đạo đất nước, đồng thời là một ông vua
Thiền sư“
Về vấn nạn „án dâm loạn“ Ḥa Thượng
giảng:
„Về đời Trần, các nhà nghiên cứu sử có
những phê b́nh khác nhau, v́ đứng từng góc độ khác nhau. Trên góc độ Khổng giáo,
các vua đời Trần có lỗi là trong thân tộc cưới gả lẫn nhau, làm mất đi tinh thần
luân lư đạo đức. Nhưng nếu nh́n qua góc độ Phật giáo Thiền Tông th́ các ngài ở
địa vị vua mà có thể tu hành đạt đạo, rất xứng đáng để chúng ta học hỏi.“ (Sách
đă dẫn, tr. 19)
Về biện pháp của Trần Thủ Độ bắt Trần
Cảnh bỏ Lư Chiêu Hoàng, Ḥa thượng giảng:
„“Đây là hành động mà các sử gia Nho
học phê phán rất nhiều.
Theo sử năm vua Trần Thái Tông được
hai mươi tuổi, bà Lư Chiêu Hoàng mới mười chín tuổi bị giáng xuống làm Công
chùa, lại đem chị bà là vợ Trần Liễu làm Hoàng Hậu, do đó có rối loạn trong nội
bộ. Đoạn sử này dẫn đến bài học hôm nay: Tựa Thiền tông Chỉ Nam“ (sách đă dẫn,
tr. 21)
Khác với Lê Mạnh Thát, theo lời giảng
trên, án loạn luân của Trần Cảnh do Phan Phu Tiên và các nhà sử gia Nho học đề
ra không được bàn luận mà chỉ được ghi lại như là dữ kiện lịch sử, nếu có tương
quan chăng th́ chỉ là một tưong quan ngoại tại: đoạn sử chỉ là một duyên t́nh cờ
dẫn đến bài học về Thiền của tác giả Khóa Hư Lục, đă được giảng giải tường tận
cho những Thiền sinh hậu học để biết yếu chỉ của phái Thiền Trúc Lâm, đối tượng
chính của KHLGG.
Như thế Trần Cảnh bội t́nh, Trần Cảnh
vua anh hùng, Trần Cảnh Thiền sư là những mảnh gương không có những liên hệ mật
thiết đến một nhân vật lịch sử đă xây dựng cả một nền văn hoá Đại Việt thế kỳ
thứ 13.
4. Những thắc mắc hầu như chưa được
giải đáp thoả đáng.:
-
Lời giảng qúi báu của Ḥa Thượng
Thanh Từ đă không có chủ ư biện minh cho Trần Thái Tông, ngược lại sự vi phạm
luân thường hầu như được xác nhận tuy HT đă giới hạn „trên góc độ Khổng giáo“,
nhưng không triển khai trên góc độ của Phật giáo „ án“ này sẽ được giải thích
là có „tội“ hay không. Theo lời giảng trên góc độ Phật giáo th́ Trần Thái Tông
xuất hiện như một Thiền sư mà chúng ta cần nghiên cứu, học hỏi, độc lập với
„nghi án“ lịch sử đă nêu dẫn.
-
Lê Mạnh Thát đă nhận xét rất đúng
khi phê b́nh 3 vị sử gia đă „KHÔNG THẤY“ „trường hợp Trần Thái Tông“ trong khi
đánh giá hành động đạo đức của Trần Cảnh mà không đánh giá trên góc độ của
một nhà lănh đạo đất nước (đă dẫn). Nhưng những luận cứ đưa ra lấy từ khái
niệm „luân thường mới“ hay „đạo đức cách mạng“ thay vào „ṿng đạo lư của người
dân b́nh thường“ dù có tính thuyết phục, vẫn chưa là điều kiện cần và đủ để
biện minh cho hành động (dù ban đầu bị cưỡng ép) bội t́nh và loạn luân của
Trần Cảnh. Bởi lẽ từ quan điểm đạo đức, một đạo lư b́nh dân vẫn có quyền đ̣i
hỏi tuyệt đối kẻ hành động đạo đức (hay được đánh giá là đạo đức) trước hết
phải „thuần túy đạo lư“ mà không có một lời „xin lỗi“, dù lời xin lỗi ấy khởi
từ một „đạo lư cách mạng“ cao cả, „v́ sự an ninh quốc gia, dân tộc“. Điều kiện
đạo đức không thể đứng vững hoàn toàn trên chủ nghĩa yêu nước và t́nh tự dân
tộc như là chủ nghĩa của đại đa số hay của quyền lực trong chừng mực nếu con
người nằm trong ḷng „dân tộc ấy“ trở thành những cọng rơm hèn mọn, không đáng
được nhắc đến quá hai lần như trường hợp của Lư Chiêu Hoàng. Từ khái niệm dân
tộc như là một tập thể b́nh dân với đạo lư b́nh dân, đạo đức cách mạng dựa
trên chủ nghĩa yêu nước (dân tộc) và chủ nghĩa quốc gia (Nationalismus) có thể
biến thành một loại đạo đức cho một lớp người „siêu nhân“ với „ư chí đạt quyền
lực“ (Wille zur Macht) của Nietzsche, mà hậu quả là sự độc tài của một Tần Tủy
Hoàng hay một Hitler hay của những đảng phái chuyên chế với những hệ lụy đi
ngược lại với mục đích của con người trong tập thể hay trong đất nước ấy.
Chắc chắn Trần Cảnh đă có một ư
thức dân tộc rất cao khi ông chấp nhận trở về
dấn thân hay trói ḿnh vào trong
hoàn cảnh éo le mà chính ông đă phản đối và
ước muốn giải thoát. Từ phản ứng
bộc phát, ngay thẳng của ông không
chấp nhận đề nghị của Trần Thủ Độ,
một phản ứng đạo đức b́nh thường theo luân lư b́nh thường, ta có thể suy luận
rằng chính Trần Cảnh đă không - nếu không nói là chưa bao giờ - xem „đạo đức
cách mạng“ (biện pháp Trần Thủ Độ) là nền tảng của hành động đạo đức của ông,.
Trong viễn tượng thúc đẩy của sự đ̣i hỏi đạo đức chân thực, - qua hành động nửa
đêm bỏ ngai vàng lội suối trèo non lánh xa nơi ô trọc tội lỗi - đối với với
Trần Cảnh quan điểm „đạo đức cách mạng“ chỉ có thể là một giải pháp thứ yếu, khả
dĩ chứ không phải là cơ sở xây dựng đạo đức thật sự cho con người hành động đạo
đức.
-
Mặt khác, từ góc độ Khổng giáo mà
những sử gia đại diện đă đánh giá hành vi của Trần Thái Tông, như Lê Mạnh Thát
nhận xét, ngoài hai điều „KHÔNG THẤY“ đă đưa ra ở trên, c̣n có ba điều „KHÔNG
THẤY“ ở các vị này: họ đă không thấy giá trị tư tưởng văn học và đạo đức của
Trần Thái Tông, không chú trọng đến khía cạnh tôn giáo, – mà đó chính là Phật
giáo – đă hun đúc con người Trần Thái Tông cũng như yếu tố hoàn cảnh xă hội,
văn hoá tập tục của thế kỷ 13, và từ đó không thấy được chữ NHÂN hay tính nhân
bản trong tiến tŕnh hành đạo của Trần Thái Tông, trong nghĩa trước tiên „hành
đạo làm người Việt nam“ ở cương vị của một nhà lănh đạo đất nước..
-
Chính do quan niệm về chữ NHÂN như
yếu tố cơ bản của đạo đức tu thân và phương sách an dân (trong phần tới sẽ
được triển khai) năng động, bao quát và do đó khác hẳn với cái nh́n thủ cựu
và hạn hẹp về một chữ „NHÂN“ có tính phán quyết (quid juris) thiện ác bất di
bất dịch bao hàm tính cách khai trừ (discriminer) của cái nh́n Nho gia mà Trần
Cảnh - mặc dù trong quốc sách trị dân đă nhận định rơ vai tṛ của
„tiên thánh“ Khổng gia - đă chọn
đạo Phật làm nền tảng đạo đức và tâm linh
cho hành trạng của chính ḿnh
và cho thời đại của ông. Chính từ góc độ
giác ngộ cá nhân này chứ không
từ một lư thuyết nào khác mà thái độ đạo
đức của ông có thể được xác minh.
-
Đến đây cần nêu rơ tương quan giữa
Trần Cảnh và đạo Phật ở một điểm nhạy cảm trên phương diện chính trị: Trần
Cảnh t́m đến đạo Phật không phải như một phương tiện để củng cố thế lực chính
trị của ông, như những đế quốc phương Tây trong tương quan với nhà thờ cơ đốc
giáo. Ông không đến Yên Tử với tư cách của một vị vua mà là của một người đang
từ khước ngôi vua, của một hiện thân cùng khổ và đau đớn nhất, của một người
đang rơi vào vực thẳm và đạo Phật đă là chiếc bè đưa ông trở lại trần gian để
làm một con người mới.
5. „Phật trong ḷng“ và „Phật trong thiên hạ“
Quốc sư Phù Vân đă đưa cho Trần Cảnh chiếc bè
với cẩm nang „bồ tát“ trở lại thế gian: „trong núi không có Phật, Phật ở trong
ḷng“, „phàm làm bậc nhân quân th́ phải lấy ư muốn của thiên hạ làm ư ḿnh, lấy
tấm ḷng thiên hạ làm tấm ḷng của ḿnh. Nay thiên hạ muốn đón bệ hạ về th́ bệ
hạ không về sao được…“.
Trong tương quan giữa Trần Cảnh và QS Phù Vân có
lẽ có một câu hỏi chưa có lần được đặt ra cho quốc sư Phù Vân – và ở góc độ
Khổng giáo của Phan Phu Tiên sẽ là một lời lên án vai tṛ của người đại diện
Phật giáo - Tại sao quốc sư không t́m cách ngăn cản việc làm trái đạo lư của
Trần Cảnh và để cho Trần cảnh đi tu? Khuyên Trần Cảnh trở về để vướng lụy một
nghiệp chướng như thế có phải là QS ủng hộ hành động vô đạo lư?
Có thể có 4 cách trả lời và từ đó xác định quan
điểm đạo đức của QS Phù Vân:
-
V́ sợ áp lực Trần Thủ Độ và quan quân? - Nếu thế Quốc sư PV sẽ không đáng
mặt quốc sư cho Trần Cảnh và người đời kính trọng, hay nói cách khác, đây là một
góc độ chủ nghĩa thực dụng trong hành động hay lư của kẻ mạnh, khó có thể được
đánh giá là đạo đức hoàn toàn.
Khả năng này không đứng vững, bởi v́ Qs là
kẻ thoát ṿng tục lụy, đă nổi tiếng là
„Phù Vân“ „ḷng như mây nổi, theo gió đến
đây“ chẳng có thế lực nào có thể hăm doạ được.
-
V́ đặt vận mệnh quốc gia dân tộc trên đạo đức cá nhân Trần Cảnh? – Giả
thiết này tương đương với quan điểm về „đạo đức cách mạng“ của Lê Mạnh Thát. Như
trên đă phân tích, yếu tố „đại sự dân tộc“ sẽ không là yếu tố quyết định, nếu
yếu tố „đạo đức cá nhân“ của Trần Cảnh không dược xác minh.
-
V́ tất cả mọi tầng lớp dân chúng đều công nhận Trần Cảnh, có nghĩa là „thiên
hạ“ đă chấp nhận giải pháp Trần Thủ Độ? Nhưng thiên hạ đời sau lại có thể buộc
tội Trần Cảnh như các sử gia đă làm. Hơn nữa chính những người trong cuộc (Trần
Cảnh, Trần Liễu) đều phản đối và Trần Liễu đang nổi loạn.
-
Những yếu tố này có thể cần nhưng chưa hoàn toàn đủ tạo nên lư do chính
đáng làm cho Quốc sư Phù Vân khuyên Trần Cảnh trở về Thăng Long. Lư do chính nằm
ở điểm nhà sư đă THẤY được một điều mà các sử gia Phan Phu Tiên, Ngô Th́ Sĩ và
Ngô Sĩ Liên đă „KHÔNG THẤY“ ở cá nhân Trần Cảnh: tự trong bản chất, Trần Cảnh là
con người đạo đức (Phật trong tâm). Chính giọt nước mắt của Trần Cảnh đă cho nhà
sư biết rằng nhân vật đứng trước mặt ḿnh trước hết là kẻ có căn cơ đạo đức đồng
thời lại có đủ trí tuệ để vượt khỏi khổ nạn đang chờ ông. Chính phản kháng bột
khởi hay ḷng bất nhẫn – như Mạnh Tử đă nhận xét ở thái độ „tha con trâu không
giết v́ nó đang sợ hăi“ của Tề Tuyên Vương „đủ để làm vua trị thiên hạ“ mặc dù
sau đó một con dê khác được thay thế vào – là yếu tố quyết định. Tha con trâu
đang sợ hăi nhưng luật giết thú vật bôi chuông vẫn giữ, Mạnh Tử
đă đi xa hơn Phan Phu Tiên lẫn Ngô Th́ sĩ và Ngô Sĩ Liên trong quan niệm đạo đức
khi bảo Tề Tuyên Vương có khả năng trị dân theo nhân nghĩa căn cứ vào cảm xúc
đạo đức tự nhiên của vị vua này. Ḷng bất nhẫn là khởi điểm của cơ sở đạo đức
nhân bản, từ cơ sở ấy những qui luật hay tập quán của một xă hội có thể được
điều tiết để phù hợp với con người trong những điều kiện mới. Trần Cảnh phản đối
biện pháp bỏ Lư Chiêu Hoàng để lấy vợ của anh để có người nối ngôi, nhưng cuối
cùng phải chấp nhận v́ „thiên hạ“ muốn Trần Cảnh trở về trong hoàn cảnh ấy.
Phù Vân đă thấy „Phật trong ḷng“ của Trần
Cảnh chính trong tương quan nói trên. Truyền thống Thiền học công án thường cho
thấy, ngay trong giờ phút „trao đổi“, gặp gỡ, đối diện, trực quan, thiền sư có
thể „chẩn“ bệnh người đối thoại, „nhập mật“ vào những uẩn khúc của bản tánh
người đến thỉnh cầu xin học. Phù Vân là một Thiền sư không xa lạ với Trần Cảnh,
được Trần Cảnh quí trọng, ắt không phải là bậc tầm thường. Chính thái độ phản
kháng quyết liệt và trung thực cũng như tâm trạng dày ṿ của Trần Cảnh cho nhà
sư NH̀N THẤY được nhân vật đứng trước mặt ḿnh là con người dù ngồi trong lửa
đỏ vẫn là một đoá sen.
Trần Cảnh chứ không ai khác, không Trần Thủ
Độ, Trần Liễu hay một nhân vật nào khác của thời ấy có thể gánh vác giang sơn
Đại Việt theo đúng con đường nhân nghĩa của Phật giáo: „lấy ư muốn của thiên hạ
làm ư muốn của ḿnh, lấy tấm ḷng thiên hạ làm tấm ḷng của ḿnh“, đem hết tài
năng xả thân phục vụ đại sự cao cả mà ḷng từ bi th́ mở rộng đến vô cùng vô
lượng.
Bởi thế nhà sư đă ân cần dặn ḍ: „Duy có việc
nghiên cứu nội điển, xin bệ hạ đừng chút xao lăng mà thôi“.
Đúng như sự mong đợi, hay có thể quá sự mong đợi
của Phù Vân, lần trở về lại ngôi, Trần Thái Tông đă có sẵn một phương thức đạo
đức làm nên lịch sử, ông đă viết lịch sử của một Trần Thái Tông anh hùng đại
lượng trên phương diện đời và một Thiền sư độc sáng trên phương diện đạo. Ông
c̣n vượt xa Tề Tuyên Vương trong khả năng lănh đạo, trị nước, an dân và mở một
kỳ nguyên mới cho văn minh Đại Việt. Là chiến sĩ,
nghệ sĩ hay thiền sư, Trần Thái Tông trong thế tính tột cùng lại vẫn là một
người thấm đượm t́nh người, cảm nhận tường tận sự yếu đuối mê lầm của con người
trong sự chiêm nghiệm tâm linh của sám hối, từ đó tác phẩm đạo đức học đầu tiên
của Việt nam được ra đời: Khoá Hư Lục với Lục thời sám hối khoa nghi.
6. Nhân nghĩa và sáng tạo chuyển nghiệp:
6. 1. Chữ Nhân của Phan Phu Tiên
Như trên đă đề cập, sử gia Phan Phu Tiên khi
luận về nhân nghĩa, đă cho rằng hành động Trần Cảnh tha tội chết cho anh là
Trần Liễu phản loạn không phải là NHÂN, bởi v́ Trần Cảnh đă lấy vợ của anh là
một điều loạn luân. Phan Phu Tiên quan niệm một chữ NHÂN hầu như đă bị đóng
khung của Khổng giáo, ở đó mọi sai lầm thiếu đạo đức đều khó hay không thể sửa
đổi, một chữ NHÂN đă bị trói chặt hai chân không cho con người cử động và tiến
bước trong quá tŕnh sửa đổi, cải thiện. B́nh luận của Ngô Sĩ Liên và Ngô Th́ Sĩ
thiển cận theo góc độ hủ nho. Chính những người đại diện Khổng học này đă làm
nghèo nàn chữ NHÂn ngay trong lư thuyết Khổng giáo. Chữ NHÂN được viết trong
ngôn từ Hán học theo hai lối, một chữ NHÂN đứng trên hai chân và cách thứ hai
chữ NHÂN được chiết tự ra NHÂN và NHỊ, trong nghĩa tôi và tha nhân, nhân quần
nhân loại. Đạo đức Phật giáo mà Trần Nhân Tông thể hiện theo quan điểm của Phù
Vân bao gồm cả hai khía cạnh của chữ NHÂN: ta và thiên hạ trong thể nhất quán
đồng đẳng và – đây chính là nét đặc biệt của đạo đức Phật giáo - trong viễn
tượng khả thể chuyển nghiệp để thành NHÂN với nghĩa gấp đôi như một cơ hội tốt
nhất để thành Phật theo lời dạy của Đức Phật.
Khuyên Trần Cảnh trở về ngôi vua v́ Phù Vân biết
rơ Trần Cảnh sẽ không xử dụng thế lực của ḿnh để làm việc bất nhân. Hành động
ngăn cản Trần Thủ Độ không cho giết anh và bảo vệ anh nên được xem là dấu hiệu „thành
nhân“ của Trần Cảnh, dấu hiệu đức độ đang h́nh thành của đoá sen trong biển lửa
ân oán nghiệp chướng trầm luân. Nếu biết nh́n xa hơn Phan Phu Tiên sẽ nhận định
như Trần Anh Tông về người khai sáng nhà Trần:
Đường - Việt khai cơ lưỡng Thái Tông
Đường xưng Trinh Quán, ngă Nguyên Phong
Kiến Thành trụ tử, An Sinh tại
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng.
(Nhà Đường bên Tàu với Việt nam đều có hai vua
Thái Tông
Bên vua Đường hiệu Trinh Quán, vua Việt ta hiệu
Nguyên Phong
Đường Thái Tông giết anh là Kiến Thành v́ làm
phản
Trần Thái Tông có anh là An Sinh làm phản mà
không bị giết
Tuy miếu hiệu th́ giống nhau mà đức độ th́ khác
nhau)
Một người hay một nhóm ng ười có thế lực trong
tay rất dễ trở thành bất nhân ác đức do tham vọng độc tài bá chủ, vua Đường Thái
Tông giết anh phản loạn để trừ hậu hoạn cho thế lực của ḿnh, vua Trần Thái Tông
không giết anh, che chở cho anh, ôm anh mà khóc, có thể xem như một hành động
thương yêu và sám hối. Cho nên không thể không làm sáng tỏ sự khác biệt đức độ
của hai nguyên thủ áp dụng hai quan điểm đạo đức khác nhau.
Có thể nói hành trạng của Trần Cảnh trong suốt
thời gian trở lại ngôi vua là hành trạng của một „kỳ tâm“ đă từng bước chứng ngộ
sức mạnh „trở thành“ của ba chữ „vô sở trụ“, linh hoạt trong ư nghĩa đạo đức
không ngừng chuyển nghiệp.
6. 2. Sáng tạo trong chuyển nghiệp như là một
hành động đạo đức:
Những sử liệu mới nhất trong Trần Thái Tông Toàn
Tập của Lê Mạnh Thát về các tác phẩm thiền học của Trần Thái Tông, đă cho ta có
thể đi đến một kết luận gần đúng về hành trạng đạo đức của TTT qua các tác phẩm
về lư thuyết Phật giáo của ông. Khác với phương thức Ngô Th́ Sĩ áp dụng khi
chia sự nghiệp chính trị văn học của Trần Thái Tông làm hai thời kỳ: thời kỳ cai
trị nhập thế và thời kỳ xuất thế rút lui hưởng nhàn và trước thuật tôn giáo, một
mô h́nh kiểu mẫu theo nhân sinh quan Khổng học:
„Thái Tông những năm đầu tà hạnh, đều do Thủ Độ
dẫn dắt. Những năm sau lưu ư
học vấn, tấn tới rất sâu, lại thêm nghiên cứu
nội điển, viết ra Khóa hư lục, mến chuộng cảnh
núi rừng, coi sinh t ử như nhau. Tuy ư gần trống
vắng, nhưng chí lại nhằm chỗ rộng xa. Cho
nên bỏ ngôi báu như cỡi chiếc dép rách“.
Ngoài sự hiểu biết rất mù mờ về triết lư đạo Phật của Trần Thái Tông trong lời
bàn, lối phân chia này đóng khung hai giai đoạn cuộc đời cũng như con người Trần
Cảnh riêng biệt cứng nhắc hầu như không liên hệ với nhau. Sưu khảo của Lê Mạnh
Thát cho ta thấy hoạt động chính trị văn học tôn giáo của TTT nhuần nhuyễn hội
nhập trong một ư thức nhất quán của con người TTT.
Những tác phẩm tôn giáo và đạo đức học chính yếu
nhất của TTT đă được biên soạn và thực hành trong khoảng thời gian gần sau cơn
khủng hoảng chạy trốn lên Yên Tử.
„Bởi vậy Trẫm với mọi người trong triều mới trở
về kinh, miễn cuỡng mà lên lại ngôi báu. Ṛng ră trong mười năm trời, mỗi khi có
cơ hội việc nước nhàn rỗi Trẫm lại tụ họp các bậc kỳ đức để hỏi đạo Thiền…
Khoá Hư Lục là quyển sưu tập các bài viết của
TTT, trong đó Lục thời sám hối khoa nghi được giữ nguyên vẹn, theo những tài
liệu kết hợp, đă được vua tự tay biên soạn trong khoảng thời gian vua trị v́ và
trước khi nhường ngôi cho con. Điều đó cho ta thấy TTT đă dụng tâm nghiên cứu và
có thể nói đă thực hành cho ḿnh nghi thức sám hối trong khoảng thời gian mười
năm sau khi trở lại trị v́ (1238 – 1248), rất gần với thời điểm khủng hoảng ân
t́nh của Trần Thái Tông và Lư Chiêu Hoàng. Tuy nhiên dù niên đại không được chỉ
rơ năm tháng, dù TTT đă trước tác trong thời gian cai trị hay sau khi nhường
ngôi, nghi lễ sám hối của vị vua đă thâm nhập giáo lư nhà Phật này không phải là
giáo lư suông, viết cho người khác, mà đă được viết qua thực chứng của chính con
người Trần Cảnh
Khoá Hư Lục thoạt tiên đă dành một bất ngờ khi
từng trang được giở ra là một lời sám hối, chưa có một trứ tác nào của một vị
vua nói về sám hối tường tận như Lục Thời sám hối khoa nghi. Tuy nghi lễ sám hối
thuộc về nghi lễ thường thức trong đạo Phật, có sẵn trong kinh sách thời trước
nhưng TTT đă tự tay biên soạn theo sự hiểu biết của ông, chứng tỏ „sám hối“ đối
với Trần Thái Tông không những về lư thuyết mà c̣n là một ch́a khóa tu thân đặc
biệt. Lục Thời sám hối khoa nghi theo TTT đă được ông chứng thực cho ḿnh và cho
người „tự lợi“ và „lợi tha“. Trong muôn ngh́n công việc đại sự đất nước, TTT đă
dành th́ giờ để thực hành sám hối, „ghi nhớ trong ḷng, thương cảm ngổn ngang“.
Chính lời tựa cho thấy tác giả không phải là nhà giảng đạo như Huệ Năng trong
Pháp bảo Đàn kinh giảng về sám hối, mà là một ngựi trong cuộc, đă trải qua
những „nghiệp chưóng“ của đời người.
„Trẫm nhờ trời trên yêu mến hưởng ngôi chí tôn.
Việc dân vất vả, việc nước bộn bề. Ngoài th́ phồn hoa cám dỗ, trong th́ thị dục
xé ṿ. Miệng chán mùi ngon, ḿnh đầy vàng ngọc. Mắt tai tôi tớ sắc thanh, ăn ở
yên lành đài tạ. Lại nữa, thói đời khinh bạc, nhân pháp suy vi, kẻ học bướng mù,
gốc lành yếu mỏng. Ngày th́ bụi căn va chạm, lưỡi nghiệp kéo lôi, tối th́ màn
ngủ lấp che, dây lười trói buộc. Ngày đêm theo duyên, đâu chẳng là lỗi gây họa
chuốc hiểm. Trẫm lấy điều đó ghi nhớ trong ḷng, thương cảm ngổn ngang, quên ăn
mất ngủ. Nhân lúc việc triều đ́nh rảnh rỗi, xem hết kinh luân và các nghi văn,
biên soạn „phép lợi ḿnh lợi người“ để chỉ bảo chúng sinh. Sau đó lại nghĩ rằng:
phàm nghiệp chướng tích tụ đều do sáu căn tạo thành. Do thế Thích Ca Văn Phật
khi chưa thành đạo trước vào tuyết sơn khổ hạnh sáu năm, cũng là v́ sáu căn đó.
Vậy trẫm phỏng theo ư ấy, chia sáu căn thành sáu thời, mỗi thời – sám hối một
căn, Trẫm tự tay viết ra lời lễ sám, gọi là Lục thời lễ Phật sám hối khoa nghi.“
Trong thời gian „miễn cưỡng lên ngôi báu“, vị
vua khai sáng nhà Trần đă làm một việc khác thường mà không một vị vua hay một
người b́nh thường nào trên thế gian có thể nghĩ tới. B́nh thường một kẻ lên đến
đỉnh cao của quyền lực, giàu sang thường dễ quên hoặc t́m cách che dấu quá khứ
nghèo hèn, khổ nhọc hay tội lỗi của họ để củng cố quyền lực, thỏa măn tham vọng
giàu sang phú quí, đày đọa ganh tị với từng ngựi dân, vơ vét của cải của dân
càng nhiều càng tốt, Trần Thái Tông tuy miệng dư thừa thức ngon vật lạ „ ḿnh
đầy vàng ngọc“ nhưng lại thực hiện hàng ngày chuyên cần cho ḿnh („tự lợi“) sáu
thời sám hối „nghiệp chướng“ do sáu căn gây ra để tự giới ḿnh trong bước chuyển
nghiệp. Phải là người đă đau khổ cùng tột „đến quên ăn mất ngủ“ „“thương cảm
ngổn ngang“, hối hận dày ṿ trong một hoàn cảnh oan trái mới t́m đến „sám hối“
để chuộc lỗi lầm. Chính đạo Phật đă cho Trần Thái Tông cơ hội và phương tiện
chuộc lỗi đối với chính „tâm ngổn ngang“của ḿnh, với những người thân của ḿnh
và với cả với thiên hạ thời ông.
HT Thích Thanh Tư cũng đă cho rằng: „Có lẽ ngài
cảm thấy ḿnh tội lỗi nên trằn trọc t́m cách giải những tội lỗi trước kia. Ngài
t́m được khoa nghi Sám Hối này, Ngài tự tu, Ngài sám hối, đó là tự lợi, để người
sau bắt chước tu theo đó là lợi tha. Như vậy Ngài biết ḿnh không trong sạch nên
phải sám hối rồi chỉ dạy cho người biết sám hối như Ngài.“
Hành động này không phải là một hành động tôn
giáo huyền bí mà là một hành động tự giác
sâu xa về tác nghiệp. Tác giả Lục thời sám hối
khoa nghi đă t́m thấy trong các kinh điển diệu dụng của sám hối: “Cho nên kinh
Đại Tập nói: như áo dơ hàng trăm năm, có thể trong một ngày giặt được sạch sẽ.
Như thế trong trăm ngàn kiếp đă tích tập các nghiệp chẳng lành, do nhờ lực Phật,
khéo thuận tư duy, có thể trong một ngày hay một giờ, trọn hay tiêu diệt“
Lực Phật ấy nằm trong ḷng người. Thể nghiệm từ
bản thân, giọt nước mắt phản đối phi nhân nghĩa, trái luân thường là giọt nước
mắt trong sáng, có nguồn suối từ „tánh giác thanh tịnh“ tṛn sáng như hư vô,
nhưng một khi chấp nhận dấn thân trong cơi luân hồi đầy vọng tưởng, từ hành động
bản thân, hoàn cảnh xă hội, đất nước, gia tộc, phong tục, „vọng tưởng chợt dấy
cơi uế hiện thành…Biết huyển cấu của chúng sinh từ vọng mà sanh, khuyên họ một
niệm kính thành qui y sám hối. Khiến thân tâm an tịnh trong sạch như xưa. Gió
yên th́ sóng lặng, bụi sạch th́ gương sáng. Sao thế? V́ trước khởi tâm ác, như
mây che mặt trăng, sau sanh tâm thiện, như đuốc sáng tan bóng tối. Ôi! Công dụng
sám hối lớn như vậy sao?“.
Sám hối có ư nghĩa rộng lớn bởi lẽ động tác sám
hối bao gồm cả ba lănh vực Giới Định Tuệ. Khởi từ chánh kiến thấy rơ liên hệ
nhân quả của lục căn lục trần (Tuệ) trên cơ sở thể nghiệm hội nhập tâm linh (Định)
đến chuyển nghiệp qua hành động đạo đức (Giới) xuyên suốt quá khứ hiện tại và vị
lai, sám hối đưa con người thâm nhập ư nghĩa giới hạn của hiện sinh hay ư nghĩa
thể tính (ontologische Bedeutung) về thân phận con người trong „giới hạn và trở
thành“, từ đó nảy sinh ra ư niệm „nhẫn“, hay „bao dung“ hết cả đời người. Xét
cho cùng hiện sinh mỗi người trước tiên là một sự chịu đựng đối với người khác
trong giới hạn lục căn của nó, nên sám hối là sám lỗi trước và hối cải lỗi sau
theo Huệ Năng
tạo điều kiện sanh tâm thiện để trở thành Phật.
Y nghĩa cùa sám hối theo nguyên ngữ đă được Lê
Mạnh Thát giải thích rơ:
„Sám là phiên âm của chữ Phạn ksama, nghĩa đen
là chịu đựng, tức muốn yêu cầu người ḿnh xúc phạm đến chịu đựng những xúc phạm
do ḿnh gây ra và xin tha thứ cho những xúc phạm ấy. C̣n hối là ḿnh tự nhận
thức những xúc phạm đó và tự bản thân kiên quyết thay đổi hành vi để chúng không
bao giờ xảy ra nữa. Sám hối như vậy là một hành động tự giác của mỗi cá nhân
trong cuộc sống xă hội, xem xét chính ḿnh có một vi phạm ǵ làm tổn thương đến
người khác và môi trường xung quanh.“
Từ trong ư nghĩa rộng lớn như vậy con người bày
tỏ chí tâm của ḿnh:
„Chí tâm sám hối
Chúng con từ vô thủy kiếp đến nay
Bỏ mất bản tâm không theo chánh đạo
Rơi ba đường khổ bởi sáu căn lầm
Không sám lỗi trước, khó tránh hối sau.“
(Trần Thái Tông, Khóa Hư Lục, Lục thời sám hối
khoa nghi)
Nghi thức sám hối được thực hiện cho mỗi giác
quan của con người trong mỗi ngày „Do thế nghi thức sám hối đă chia ra làm sáu
thời điểm trong khoảng một ngay ấy, từ buổi sớm (sơ nhật) hôm trước cho đến tảng
sáng (hậu dạ) hôm sau.“
Đây là nghi thức mà Trần Thái Tông đă đề ra theo
cảm nghĩ tâm linh của ông thay vào nghi thức đă có sẵn. Nghi thức này cho mỗi
thời và mỗi căn đều tuần tự theo 3 phạm trù cơ bản: Định- Giới - Tuệ: trước hết
phài lắng tâm chú tâm đi vào chiều sâu của ư thức và chiều rộng của Phật lực (Định):
lễ dâng hương, đọc bài kệ dâng hương và hoa, phát nguyện, tiếp đó dùng trí tuệ
chánh kiến để xét điều kiện nhân quả của căn: tâu bạch, sám hối tội căn, xét
nghiệp của căn (Tuệ) tiếp theo là khởi ư chí đạo đức, chí tâm khuyết thỉnh, chí
tâm tùy hỉ, chí tâm hồi hướng, chí tâm phát nguyện Giới), cuối cùng khởi ư thức
hội nhập bằng một bài kệ vô thường cho từng thời nghi: đọc kệ vô thường theo
thời nghi.
Chùa Phổ Minh hẳn được làm ra để cho nhà vua
thực hiện nghi thức sám hối này. Thực tế th́ ngay cả trước khi thoái vị, Thánh
đăng ngữ lục tờ 8a1-9a4 đă ghi nhận là ở bên cạnh cung ḿnh ở Thăng Long, nhà
vua „cho mở chùa Tư Phúc làm nơi đốt hương tu hành, lại đối với thiền giáo,
thỉnh mời các bậc cao tọa trú tŕ để tiện tham thỉnh, hàng ngày trai tăng 500 vị
hơn và độ làm đệ tử hơn 30 người.“
Ta có thể tưởng tượng một cách có căn cứ, chính
tiếng chuông sáu thời sám hối này của Trần Cảnh, đă có thể thoa dịu nỗi đau của
những người trong cuộc với ông: Lư Chiêu Hoàng, Trần Liễu, Thuận Thiên và cảm
hoá luôn cả Trần Thủ Độ và tất cả quần thần dưới quyền của ông. Từ trong gia tộc
đến thần dân, Trần Thái Tông đă chứng tỏ khoan dung và đại lượng..
Sám hối là phương thức trong sạch hoá tâm tham ái mê mờ, chuộc lỗi thành tâm
nhất theo vị vua đảm lược đầy tự giác này.
Có thể nói trong khi Trần Cảnh sám hối tự tánh,
ông đă tự „an tâm“ cho ḿnh và cho người thân, từ đó an được„tấm ḷng thiên hạ“.
Từng giờ từng ngày mật niệm tâm linh về đạo đức chuyển nghiệp trong cuộc đời làm
vua, ông đă thực hiện và phát triển được chữ „NHÂN“ trong nghĩa gấp đôi: Thành
Nhân để thể hiện Phật tính cho chúng sinh, cũng có nghĩa „lấy tấm ḷng thiên hạ
làm tấm ḷng của ḿnh“
Trong khi Trần Cảnh t́m thấy trong đạo Phật nền
tảng đạo đức cho chính bản thân, ông đă khám phá đặc tính khoan dung của nền đạo
đức này bao gồm cho tất cả chúng sinh, đồng đẳng, không phục vụ cho một giai cấp
con người trên phương diện ác nghiệp, không phân biệt và khai trừ trong tương
quan thiện ác mà đứng trên thiện ác với ư niệm chuyển hóa nghiệp ác sang nghiệp
lành. Trong ư nghĩa đó, sáng tạo đạo đức có cơ sở tự chứng trong sám hối.
6. 3. Sáng tạo bằng „lấy ngay thân ḿnh làm
người dẫn đạo cho thiên hạ“:
Đọc các lời tựa c̣n truyền lại của Trần Thái
Tông từ Thiền nam chỉ tông cho đến Lục thời sám hối khoa nghi, Kim Cương tam
muội, văn phong của ông cho thấy ông không phải một thiền sư thoát tục ngồi trên
núi cao dạy đạo hay một nhà Phật học lư thuyết suông, mà là văn phong của một
người trong cuộc, của một người thao thức khổ tâm, của một kẻ đi t́m chân lư
giác ngộ, khác hẳn với văn phong trong các tác phẩm Thiền học về sau. Vẫn giữ
phong độ của một đấng quân vương nhưng không làm dáng khoe khoang, ngược lại là
tâm sự trung thực của một kẻ rơi nước mắt lân cảm,
tuy chẳng thấy một lời biện minh hay xin lỗi với ai, nhưng bàng bạc một lời sám
hối với tất cả mọi người, trong cuộc cũng như ngoài cuộc, với cả thế gian, xin
thế gian chịu đựng con người – con người nói chung mà cũng là con người Trần
Cảnh - để cho con người ấy tạo cơ hội thành Phật.
Sự chiêm nghiệm về sáu căn, ngũ giới, bốn núi,
về sắc thân từ kinh nghiệm của chính bản thân, đưa đến sự lư ngộ điều kiện giới
hạn của hiện sinh con người nằm trong lục căn lục trần,
từ đó thấy được thể tính của hiện sinh là vô
thường, năm uẩn đều không, tổng quát hơn, thấy rơ tính Không của các pháp là nền
tảng của Từ Bi, cơ sở thể tính (ontologique) của đạo đức học Phật giáo.
„Trẫm tự tay viết ra lời lễ sám“ sau khi đă
chiêm nghiệm được yếu tính của sáu căn và được thuyết phục qua thực chứng tuyệt
hảo của Phật Thích Ca.
Đạo đức học Phật giáo của Trần Thái Tông là thực
nghiệm sáng tạo của chính ông, một sáng tạo „lấy ngay thân ḿnh làm người dẫn
đạo cho thiên hạ“, như lời của Trần Thủ Độ khi khuyên nhà vua trờ lại Thăng
Long: „Tôi dám nói rằng bệ hạ v́ sự tự tu cho riêng ḿnh mà làm vậy th́ được,
nhưng c̣n quốc gia xă tắc th́ sao? Nếu để lời khen suông cho đời sau th́ sao
bằng lấy thân ngay thân ḿnh làm người dẫn đạo cho thiên hạ?“.
Không phải chỉ một ḿnh Trần Cảnh, sĩ phu thời
sơ Trần đă chịu ảnh hưởng Phật gíáo truyền thừa từ đời Lư, quan điểm nhập thế
của Trần Thủ Độ nói lên một khía cạnh năng động của Thiền học thời bấy giờ. Tư
tưởng đạo đức của Trần Cảnh đă gây sinh khí dấn thân, đoàn kết xả thân cho đại
nghĩa, phóng khoáng cho nên độ lượng và từ bi rộng đến chúng sinh, bao gồm cá
nhân, gia đ́nh và xă hội, tạo nên những anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo, Phạm
Ngũ Lăo, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Tuệ Trung thượng sĩ, Trần Quang Khải,
những người thấm nhuần giáo lư Thiền tông, và đă thể hiện giáo lư ấy trong văn
nghiệp cũng như vơ công.
Khai đạo và đặt nền tảng cho một nếp sống đạo
đức Phật giáo Việt nam đă là công nghiệp dẫn đầu của vua Trần Thái Tông.
Trong hơn 40 năm chuyên cần cho đời và đạo, lấy
đạo và đức để dẫn dắt thiên hạ, „sĩ thứ trong nước ai nấy đ |