|
NHỮNG BÀI THƠ VỀ
PHẬT CỦA RILKE
Thông thường có người nghĩ h́nh
như Tây phương thường đến với Phật giáo qua đường lư trí hơn là t́nh cảm, qua
đường triết lư hơn là nghệ thuật. Một trong những duyên quả hạnh ngộ Tây Đông
đó là Kinh Milinda Panha mà Chuyển Luân có nói qua trong số trước. Ấn tượng
thông thường ấy cũng chưa phải là đúng hẳn.
Thật vậy, Phật giáo quả đă xuất
hiện ở cuối đường lư trí của tư tưởng Tây phương. Điều đáng ghi nhận là Phật
giáo không xuất hiện như một thứ Ngu Dân chủ nghĩa được ngụy trang bằng những
danh từ hào nhoáng như Tín Lư, như Thần Học, hoặc là giải pháp cho một con bạc
cùng đường như Pascal với lập luận đen đỏ kiểu: Trong chiếu bạc Cứu Rỗi, dại ǵ
mà không đặt tiền vào Thượng Đế? Nếu Thượng Đế không có th́ huề, nếu Thượng Đế
có mà ḿnh không đặt tiền th́ có uổng không?! Phật giáo giúp kẻ cùng đường khỏi
phải đầu hàng Đức Tin, khỏi phải trở thành nô lệ thần học, hoặc giúp kẻ không
dám liều qua cơn bối rối. Phật giáo giúp kẻ cùng đường phục hồi ḷng tự hào tự
chủ với chính ḿnh.
Ḷng tự hào tự chủ đó là cốt lơi
của sáng tạo nghệ thuật. Một trong những thành quả tao ngộ tiên khởi đó là
những h́nh tượng Phật do những Phật tử Tây phương sáng tạo khi họ t́m gặp Phật
giáo và có vẻ như đă đi ngược với tinh thần sắc tức thị không, không tức thị
sắc.
Rainer Maria Rilke trong hậu bán
thế kỷ 19 đă trở lại con đường của những Phật tử Tây phương thời nguyên thủy
không phải bằng h́nh tượng mà là bằng những bài thơ.
Thái Kim Lan
đă thấy ǵ qua mối giao cảm nghệ thuật uyên nguyên đó?
Chuyển Luân
Đọc ba bài thơ về Đức Phật của Rainer Maria Rilke
Nhân mùa Phật Đản 2548
Thái Kim Lan
Vài nét
về tác giả
Rainer
Maria Rilke (1875 – 1926) người Áo, sinh tại Praha, đă theo học triết học, nghê
thuật và văn chương tại Praha, München và Berlin, nhưng không hoàn tất. Từ 1897
ông phiêu lưu qua nhiều nước Âu châu: Nga (nơi ông đă gặp L.N.Tolstoi mà ông ca
ngợi), Worpswede (Đức) (1900), Paris (1903) và những nước khác trong và sau thời
thế chiến thứ nhất (Thụy Sĩ, Ư…). Ông mất tại dưỡng viện Val-Mont v́ bệnh hoại
huyết.
R. M.Rilke là một trong những thi hào quan trọng nhất của dân
tộc Đức. Trong số các tư tưởng gia và thi nhân Đức, tên tuổi ông đứng bên cạnh
các đại thi hào Goethe, Schiller, Hölderlin. Cũng như những nhà thơ này, Rilke
đă khai phá cho ngôn ngữ Đức một thể văn tinh vi sâu sắc và từ đó mở ra một
chiều không gian mới cho cảm nhận sáng tạo và mỹ quan thi ca trong văn chương
Đức từ thời tân tiến cho đến ngày hôm nay. Sống trong một thời đại chấn động tư
duy Tây phương với những tư tưởng triết lư đảo ngược và nghệ thuật toàn diện của
Nietzsche, Schopenhauer, R. Wagner… cùng với sự gặp gỡ những nền tư tưởng đông
phương như Phật giáo, Hồi giáo, Rilke đă trải nghiệm qua chính bản thân sự trốc
rễ của con người ra khỏi niềm tin, dân tộc, tổ quốc. Cuộc đời trôi nổi thăng
trầm của một kẻ viễn du xa quê hương và gia đ́nh trở nên một thứ định mệnh đọa
đày của hiện sinh thi nhân mà Rilke đă sống và không t́m được câu trả lời cho
câu hỏi về ư nghĩa đời người trong giáo điều Thiên chúa. Theo Rilke tôn giáo
phải khai mở cho con người một con đường t́m chân lư bằng những bước chân trên
cơi trần chứ không phản bội và bán rẻ con người cho thần linh tối cao trên cơi
trời, tôn giáo không phải là tín lư, bổn phận, giới chế áp dụng cho con người
đối với đấng tối cao mà là một đột biến tâm cảm, một „sự xúc động trong ṿng
hiện sinh“, là „điều ǵ đơn giản vô cùng, đơn sơ vô cùng“, trong „sự rộng mở
toàn diện của vũ trụ: nó là chiều hướng của trái tim“. (Brief vom 28. 12.1921,
Thư ngày 28 12. 1921). Thái độ từ khước tôn giáo Thiên chúa bắt nguồn từ cảm
nhận ấy và cuộc đời của ông có thể được xem là một cuộc hành hương cho thân phận
hiện sinh của con người về đất mới của trái tim nhất thể hội nhập, chính những
kinh nghiệm này là một trong những khởi điểm của triết lư hiện sinh do Heidegger
chủ xướng về sau.
Trong lúc các tác phẩm thi ca, bi kịch và văn xuôi của thời trẻ
c̣n lưỡng lự giữa các khuynh hướng của trường phái duy thiên nhiên, Jugendstil
và tân lăng mạn, với tập thơ Mir zur Feier (Cho tôi
buổi liên hoan) Rilke đă chuyển sang khuynh hướng ấn tượng với tác phẩm
Stunden-Buch (Sách từng giờ) (1905), Buch der Bilder (1902 và
1906) (Sách h́nh ảnh) và sưu tập Neue Gedichte (Những bài thơ mới) (1907
đến 1908).
Từ những bài thơ ấn tượng đầy nhạc điệu và âm thanh phong phú R.
M. Rilke đă vượt khỏi giai đoạn duy ấn tượng đế tiến đến thể cách „thơ- vật thể“
(Dinggedicht). Thay v́ những ngoại diện mau biến đổi được nắm bắt một cách chủ
quan duy ấn tượng, Rilke đi t́m thực thể bên trong của đối tượng vượt khỏi chính
đối tượng đă được hàm thụ rơ rệt trong trực kiến khách quan (Anschauen) từ khi
ông gặp nhà điêu khắc Rodin ở Paris. Bởi v́ chỉ có trực quan thực thể
(Wesenschau) mới có thể cho phép ông chuyển tải những đối tượng phù du biến đổi
vào trong sự tồn lưu chữ nghĩa (Wortdauer) qua những sáng tạo mới. Những bài thơ
nổi tiếng đă được sáng tác trong khuynh hướng này như „Der Panther“ (Con beo),
„Die Treppen der Orangerie“ (Các bậc cấp vườn cam), „Römische Fontäne“ (Bể phun
La Mă), „Das Karussell“ (Ṿng quay ngựa), „Spanische Tänzerin“ (Vũ nữ Tây Ban
Nha),v.v.
Từ lối nh́n ấn tượng trong Sách h́nh ảnh đến cái nh́n
trực quan thực thề hiện tượng học trong Những bài thơ mới Rilke đă đưa
sáng tác của ông tiến xa hơn đến lănh vực „ảo kiến huyền thoại“ (mystische
Vision) với Duineser Elegien (Bi ca tại Duino) (1923). Trong thể cách này
Rilke muốn đạt được lối diễn tả các đối tượng phù du bằng một ngôn ngữ đam mê
cùng tận đến nỗi thực thể nội tại của chúng được hoá thân và tái tạo trở nên
những thực thể mới mẻ. Với những bài thơ sáng tác trong khuynh hướng mới này như
„Ausgesetzt auf den Berg des Herzens“ („Trần thân trên đỉnh tâm sơn“) Rilke muốn
thực hiện một cuộc huyễn hoá không gian bên trong của vũ trụ, nhưng chính ngay ở
đây Rilke nhận ra được giới hạn của ngôn ngữ, ngay cả ngôn ngữ thi ca sáng tạo,
từ đó với Rilke thi ca mang một ủy nhiệm khám phá không ngừng cơi bờ bên kia của
ngôn ngữ và thi nhân là người viễn du trên nhịp sóng chữ nghĩa như Rilke đă lênh
đênh một thời.
Về 3 bài thơ „Đức Phật “ [1], „Đức Phật“ [2] và „Đức Phật trong
hào quang“ của R. M. Rilke
Cũng như những tác phẩm của H. Hesse, những bài thơ về Đức Phật
của R. M. Rilke đă được giới Phật tử trên thế giới truyền tụng từ lâu. Trong các
thập niên 30,40, 50,60 và về sau, văn chương của Rilke được giới thức giả Việt
Nam biết đến qua những tác phẩm dịch từ tiếng Pháp.
Với các bài thơ về Đức Phật, Rilke đă xuất hiện trước giới trí
thức Phật tử Việt Nam thời ấy như một „người Đức trầm lặng“, nhạy cảm, tế nhị và
khiêm cung. H́nh như chưa có một bắt tay, nhưng ánh mắt và nụ cười đă sẵn, và
thơ của Rilke đến,… có một tiếng reo mừng chưa thoát ra khỏi cổ, c̣n ngập ngừng
trong tim,- và đă dừng lại không cần -, có rất nhiều hồi hộp ḍ xem ư lạ của một
người chưa quen, có cảm giác ngạc nhiên thú vị như vừa được nếm chất ngọt một
miếng bánh ga-tô Tây, có một vài vấp ngă trật chân qua ngưỡng cửa chữ nghĩa, rồi
chưa kịp lấy hơi, niềm vui được ngồi chung với người „đồng thanh tương ứng“ bỗng
chan ḥa…Đó là những mảnh hoài niệm đọc thơ của Rilke về Đức Phật.
R. M. Rilke không phải là Phật tử, ông cảm hứng làm thơ về Phật.
Đọc 3 bài thơ về Phật, thoạt tiên ta có cảm giác ông đang đứng xa nh́n về một
biểu tượng tôn giáo. Ông nh́n Phật như một người lạ hay một người „hành hương xa
lạ“ (Buddha [2]), cách xa, thoáng chút nghi hoặc, ngập ngừng, ṭ ṃ ḍ dẫm, c̣n
thế tục, như thái độ t́m hiểu của một người Tây phương tầm thường, rồi chưa đầy
một thoáng quay người, bỗng nhiên người ấy biến mất mà chỉ c̣n thi nhân đứng đó,
tràn ngập cảm xúc và rung động của con tim trí tuệ: Rilke đă hiểu Phật, thấy,
ngộ, lần theo „hướng của con tim“ (Rilke,Thư, đă dẫn). Rilke gặp Phật trong tự
tính sâu xa và hồn nhiên của ư niệm chân lư toàn diện nhân bản tại thế ấy. Chính
thể nghiệm thi ca „tâm truyền tâm“ này đă làm cho R.M. Rilke trở thành một khám
phá mới cho sự liễu tri kinh nghiệm chứng ngộ trong Thiền học đối với các nhà
Phật học Tây phương.
Rilke đă trước tác những bài thơ này trong giai đoạn thi ca của
ông đang ở trong trào lưu duy ấn tượng. Ta biết về h́nh thức, phái ấn tượng chú
trọng thái độ quan sát, thụ động của tác giả, sự khám phá những từ ngữ chuẩn
đích và tinh vi, sự sắp đặt các lời phát biểu và sự làm tối nghĩa qua các đại
danh từ trung tính vô định (ví dụ: nó, người ta, cái ấy) cũng như qua phép đồng
giác (Synästhesie) và phép phản thể (Oxymoron).
Về nội dung tác giả của trường phái này t́m kiếm những ấn tượng
khoảnh khắc bắt gặp được trong thoáng chốc (kairo), sự giao thoa giữa hiện tượng
phù du ảo ảnh và thể tính thường c̣n, sự khải ngộ chân lư trong giờ phút tương
phùng với thần linh…
Trong „Đức Phật“ [1], „Đức Phật“ [2], „Đức Phật trong hào
quang“, người đọc t́m thấy các yếu tố nói trên được Rilke ứng dụng trong ngôn
ngữ Đức một cách tài t́nh điêu luyện, đầy chất thơ. Và đây chính là điểm khó
khăn vô cùng cho người dịch, nhất là dịch Việt.
Trong ngôn ngữ Việt những bài ca tụng Phật đă có một truyền
thống thơ văn kinh kệ tụng phong phú, ngôn ngữ trùng trùng điệp điệp có thể nâng
ta lên b́nh diện hội nhập tâm linh. Với Rilke, người dịch có cảm tuởng phải
ngưng thần, dừng lại, quay về với từng chữ đơn, mộc, cụ thể như từng ấn tượng
một của mỗi giác quan: „sự lắng nghe“ (Buddha), „cảm nhận“ (Tượng Phật), vị giác
„thịt của trái cây“ (Phật trong hào quang), với những trạng từ vô định và cú
pháp điều kiện ảo (irreal): diễn tả trạng thái tâm lư gặp gỡ một siêu nhân cao
cả: „dường như“ („als ob“ trong Buddha), nếu như, ví như („wenn…dann“ trong
Buddha), rồi th́ („dann“, Budda), v́ („denn“, Buddha in der Glorie) và nhất là
chữ „và“ („und“, trong cả ba bài thơ). Rilke sử dụng chữ „và“ như một dấu nhấn
cho từng ấn tượng một, để làm „tṛn“ ấn tượng ấy trước khi đưa một ấn tượng kế
tiếp theo sau. Ta biết trong ngôn ngữ Việt, những chữ này có thể đem đến vấp ngă
trong câu thơ.
Cũng thế, rất duy ấn tượng, Rilke đă dùng những đại danh từ ngôi
thứ ba hay thứ hai để nói về Phật hay Phật tính: „ER“, „ihm“ (trong Buddha),
„alles“ (tất cả) „das, was“ (cái ấy) và không đả động một danh hiệu nào của
Phật, trong lúc danh hiệu Phật được sử dụng có đến 10: Ứng Cúng, Chánh Biến Tri,
Minh Hạnh Túc, Thượng Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư,
Phật Thế Tôn, và NHƯ LAI...
1. Đức Phật [1]
Không sử dụng một danh hiệu Phật ngoài đề tựa BUDDHA, Rilke –
không có ǵ hơn - trong trường hợp này hoàn toàn giao phó cho ấn tượng giác
quan và cảm xúc sáng tạo của chính ḿnh: Phật đối với ông là „sự tĩnh lặng“ rất
xa nhưng lại là một „v́ sao“ mắt trần có thể thấy được – và đây là ư niệm khác
với ư niệm Thượng đế trừu tượng như một „trái cây đă bị hút hết nước ngọt“
(Brief vom 17.12.1912, Thư ngày 17. 12. 1912) mà Rilke từ chối – so với những v́
sao mà con người không thấy được trên những tầng trời cao hơn, ngôi sao Phật tuy
„xa“ mà lại „gần“, v́ „gần“ cho nên ngôi sao này là điểm giữa của tất cả những
sao vô h́nh của vũ trụ, một ngôi sao „nhân“ bản và „nhân loại“ trong ư nghĩa
thập loại chúng sinh, cho nên Phật được cảm nhận như „v́ sao“ mà cũng như con
thú uể oải (Đức Phật [1]), một tượng vàng ṛng (Đức Phật [2]), một hạt hạnh nhân
ngọt ngào (Phật trong hào quang)… Nhưng Phật là „tất cả“ và là một „tất cả như
thật“ nguồn suối năng động của sự trở thành Phật trong ức kiếp luân hồi.
Giữa những ấn tượng đơn lẻ về Phật và ư niệm Đức Phật như một
Toàn thể ta đă tưởng có một bước nhảy hẫng hụt từ h́nh ảnh qua ư niệm, nhưng
Rilke đă đưa cho ta một chiếc cầu – nói như Hakuin – một chiếc cầu đang trôi-
và là một chiếc cầu vô niệm chảy qua bằng phản thể (Oxymoron) của tác động hay
chủ từ tác động (Ta dừng lại, không c̣n nghe im lắng, „Đức Phật“ [1]), những
tương phản giữa thật và ảo, giữa tàn phai và bất diệt, giữa có và không…Sự
chuyển tiếp không xảy ra một chiều mà luân lưu trong câu thơ, tạo nên một thức
tĩnh sống động bằng những tra vấn, nghi ngờ như những lá cửa mở ra rồi sập đóng,
thôi thúc t́m kiếm nhận mặt và từ đó khi những ngọn gió đùa ngừng lại, người đọc
gặp được như cùng một lúc với Rilke một Đức Phật sống động đến gần ta từ hướng
con tim…
Trong bài thơ „Đức Phật [1]“, từ một thế ngồi giả định „Als ob“
(h́nh như) của Phật, tĩnh lặng xa xôi bất động, Rilke đă sử dụng phép phản thể
(Oxymoron) gấp đôi trong câu thứ hai: kẻ chiêm ngưỡng Phật vừa „dừng lại và
không nghe tĩnh lặng nữa“, có một sự bất ngờ trong câu thơ, người đọc đă tưởng
dừng lại để nghe tĩnh lặng, nhưng không, Rilke không tĩnh lặng, Rilke bắt đầu
nh́n „thấy“. Chữ „không“ đă biến đổi tư thế của người chiêm ngưỡng. Không phải
là Đức Phật ở xa kia mà chính sự quay lại „không nghe“của người chiêm ngưỡng là
sự khởi đầu bài thơ về Phật, trờ về vạn hữu muôn vẻ để t́m nhân diện Phật.
Những nét ấn tượng tiếp theo là những kinh nghiệm đơn lẻ cụ thể:
sao trời, con thú, ư niệm toàn diện, hạnh từ bi, hạnh tự tại và rốt cùng thực
chứng về „CÁI ẤY“ „das, was“, và Phật không được gọi tên xác định mà chỉ là một
hoá thân của ư niệm giải phóng chúng sinh toàn diện.
Trong đoạn cuối của bài thơ người dịch đă phải sử dụng hai danh
hiệu của Phật thay đại danh từ „ER“ để chuyển tải nội dung mà Rilke muốn diễn
tả: „Thế Gian Giải“ người hiểu
rơ thế gian và „Như Lai“ „người đến như thế trên thế gian“ với
hi vọng không phá vỡ ư nghĩa của bài thơ và ngược lại làm rơ chủ ư của bài thơ.
Trong ngôn ngữ Phật giáo ta thường gặp chữ „NHƯ“ (Sosein), diễn tả thực tại
thường nghiệm cũng như chân lư trong thể tính tự tại của nó. Trong tinh thần
chứng ngộ từ kinh nghiệm cụ thề của chữ „như“ viết nhỏ như là một phần của chữ
NHƯ viết lớn hiểu là toàn diện thể tính (Sein) hay cái „Tất cả“, có thể hiểu
Rilke đă cấu trúc bài thơ bằng chuỗi hạt ấn tượng của „như“ để khi chuỗi hạt
h́nh thành, ta lượm được một h́nh ảnh NHƯ LAI toàn vẹn. Trong mỗi đoạn của bài
dịch chữ „như“ cũng đă được sử dụng với dụng ư như trên, cho nên ư niệm NHƯ LAI
và Thế Gian Giải được dùng với hi vọng không phản.
Với h́nh ảnh „Phật“ là kẻ „từng trải“ qua vạn kiếp trong câu thơ
cuối, Rilke đă trả lời cho h́nh ảnh „ngồi lặng yên“ trong câu thơ mở đầu và khép
tṛn ư niệm Đức Phật „bất động và giải phóng“. Có thể nói không quá đáng, Rilke
đă đạt được sự thi hóa trí tuệ bát nhă trong vô niệm sáng tạo của thi ca, ở đó
Rilke cho ta đến gần nhất với Phật hơn một bài giảng đạo nào.
2. Đức Phật trong hào quang
Có những may mắn hay rủi ro bất ngờ khi hai ngôn ngữ gặp nhau.
Thật là một sự may mắn đầy thú vị khi Rilke dùng h́nh ảnh hạt hay quả „Mandel“
(hạnh nhân) để diễn tả ư niệm Phật là trung tâm của tất cả trung tâm, hạt nhân
của tất cả hạt nhân, trong bài „Đức Phật trong hào quang“. Từ „Mandel“ tiếng
Hán Việt là „hạnh nhân“, đây là một t́nh cờ may mắn có thể chuyển tải ư thơ của
Rilke về Đức Phật bằng một ví dụ tuyệt hảo như thế: do đấy „hạnh nhân“ được
người dịch sử dụng theo lối chơi chữ phóng khoáng của ngôn ngữ Việt: „người
trồng cây hạnh mà chơi, ta trồng cây đức để đời về sau“ nhưng đồng thời cũng
diễn tả được ư niệm „bất tử“ của Đức Phật mà Rilke muốn chuyển đạt.
Đọc „Đức Phật trong hào quang“, trước tiên người đọc bỡ ngỡ
không t́m thấy một ánh hào quang chói lọi nào. H́nh tượng ánh sáng duy nhất
trong thơ là „mặt trời số nhiều“ (die Sonnen) làm chín quả hạnh nhân, nhưng tất
cả mặt trời của thái dương hệ „sáng ngời và hực nóng“ cũng có lần xuống núi
khuất đi, chỉ có mầm „nhân“ trong quả „hạnh“ là sự trỗi dậy bất tử, vượt qua mọi
hào quang phù du biến đổi không ngừng. Từ bỡ ngỡ với „hào quang tắt bóng“ mà
Rilke diễn tả rất tượng h́nh „umgedreht“ (lật ngược lại) người đọc kinh ngạc cảm
nhận một thứ ánh sáng mới trong bài thơ, như một cú chớp, một đột biến của con
tim, một thứ „satori“mới, một „giác ngộ thi ca“ mà Rilke trao tặng khi dùng h́nh
ảnh quả „hạnh nhân“ để diễn tả. T́nh cờ hay trực giác - có lẽ cả hai - thi nhân
– và có lẽ chỉ có thể là thi nhân như Rilke – đă thâu tóm cả nhân sinh quan Phật
giáo từ thuyết vô thường cho đến thập nhị nhân duyên và „bất tử“ theo ư nghĩa
„vượt trên sống chết“ bằng một hạt hạnh nhân vừa chín tới, một quả hạnh nhân xác
thịt, sắc thân („Fruchtfleisch“) ân huệ của thiên nhiên, nhưng trong vô cùng của
nó là rỗng không („Schale“) như một lớp vỏ mỏng manh,
không có ǵ vướng bận, thảnh thơi, một rỗng
không „vô danh thiên địa chi thủy“. Với h́nh ảnh đơn sơ mộc mạc
và nhạc điệu đầy tượng h́nh Rilke có thể nói lên „điều không thể nói“ (das
Unsagbare) trong lúc thiên kinh vạn quyển đă được viết ra và c̣n đuợc viết về
„điều ấy“.
Trong ánh sáng của „giác ngộ thi ca“ thơ Rilke như một ngón tay
chỉ „hướng về con tim“, là nơi Phật ở trong tâm, bất diệt, như một niềm hỉ lạc
thực chứng, khởi đầu của giác ngộ giải phóng.
3. Đức Phật [2]
Trong bài thơ „Đức Phật“ [2], Rilke đổ dồn mọi ấn tượng của
người chiêm bái tượng Phật trong suốt bài thơ mà không rút ra một nhận xét lư
thuyết như trong đoạn kết của hai bài thơ trên: từ đàng xa đến gần, lạ lùng, lầm
tưởng, phát hoảng, thán phục, đi chung quanh, nhận ra tất cả chỉ là vật liệu của
một pho tượng bằng vàng hay sơn son thếp vàng nhưng lại thấy „KHÁC“: làm thế nào
để diễn tả „CÁI KHÁC“ của Phật, của tượng Phật với những chất liệu làm nên
tượng? Ngoài cách nói so sánh „KHÁC HƠN“? Rilke đă dùng phương pháp so sánh ấy,
nhưng thi nhân đă đi xa hơn bờ ngôn ngữ giới hạn của nhị nguyên „cái này khác
cái kia“, bằng cách trở về chính „ấn tượng“ để làm SỐNG „tượng Phật“, trả lại
thể tính uyên nguyên của Phật. Cuối bài thơ Rilke dùng chữ „berührend“ (đụng,
chạm, sờ) một tác động gây ấn tượng, như ch́a khóa mở vào một chiều không gian
mới. Trong chiều không gian ấy, ấn tượng vừa thụ động mà vừa tác động tạo nên
một khoảnh khắc hiện sinh nhất thể hội nhập, bởi lẽ lần này chủ thể „sờ“ không
phài là kẻ chiêm bái mà là chính pho tượng và pho tượng lại không „sờ“ ai cả mà
sờ „không gian“, „sờ“ cả thế giới trong thế ngổi tṛn trịa trên toà sen. Nhưng
đụng chạm mà không động, không phá vỡ, ngược lại hoà b́nh và yên ổn vây quanh và
tỏa khắp bởi v́ không gian và Phật không khác, thế giới và Phật không hai. Ta
biết trong lư thuyết Phật khái niệm „đụng chạm, cảm xúc“ là một trong 12 thập
nhị nhân duyên gây nghiệp sân hận tham ái chiến tranh, tạo ra luân hồi truyền
kiếp. Rilke đă lật ngược khái niệm này và trao nó vào tay pho tượng đang ngồi.
Dùng khái niệm „berührend“ để tạo nên nét sống động của một pho tượng ngồi im,
bằng cảm xúc thi ca, Rilke đă làm nỗi bật thể tính đồng nhất ḥa hợp của Đức
Phật, cả toàn thân và toàn tâm „không tranh căi với thế gian“. Âm hưởng câu thơ
cuối cùng như tiếng của một mái chèo vừa khuấy nước và tiếng sóng lan xa, làm
cho người đọc như được cảm nhận hơn một lần Rilke đang vượt bờ giới hạn của ngôn
ngữ để đưa thi ca và giác ngộ ḥa nhập trong nguồn suối sáng tạo không ngừng.
Từ đó dịch thơ Rilke, là một niềm hỉ lạc nhưng cũng là một khổ
nạn bị giam lỏng trong mấy lần giới hạn. Ư thức điều đó nên người dịch chỉ biết
cố gắng trung thực tối đa với nỗi áy náy mong được là „lời quê góp nhặt“.
München 01. 06. 2004
Phật Đản 2548
*
Thơ Rainer Maria Rilke –
Thái Kim
Lan dịch
Đức Phật
Dường như Ngài đang lắng nghe. Tĩnh lặng: cơi xa…
Ta dừng lại và không c̣n nghe im lắng
Và Ngài là v́ sao. Và những sao trời khác lạ,
mờ mịt mắt trần, lũ lượt về quanh tinh đẩu sáng.
Ôi, Ngài là tất cả. Chân như đó, có phải ta chờ
Ngài thấy ta? hay Ngài cần phải thấy?
Thảng như nơi đây ta phủ phục trước Ngài,
Ngài vẫn như con thú uể oải trầm sâu tự tại.
Từ ức kiếp luân lưu trong thân Thế Giải
Mầm thiện duyên thúc giục đến bên Ngài
Như Lai, kẻ xả bỏ những ǵ con người từng trải.
Và kẻ „từng trải“ những điều khuyên người lầm lạc bỏ mê.
Cuối năm 1905.
(Buddha
Als ob er
horchte. Stille: eine Ferne…
Wir halten
ein und hören sie nicht mehr
die wir
nicht sehen, stehen um ihn her.
O er ist
alles. Wirklich, warten wir,
daß er uns
sähe? Sollte er bedürfen?
Und wenn wir
ihn hier vor ihm niederwürfen,
er bliebe
tief und träge wie ein Tier.
Dann das,
was uns zu seinen Füßen reißt,
das kreist
in ihm seit Millionen Jahren
Er, der
vergisst, was wir erfahren,
und der
erfährt, was uns verweist.
Ende 1905)
*
Đức Phật
Từ đàng xa,
rụt rè, lạ lẫm,
kẻ hành
hương cảm nhận
tượng đâu mà
vàng chảy thành ḍng
như thử có
các nhà giàu hối lỗi ăn năn
đem hết của
giấu kín chất lên thành đống.
Nhưng lại
gần hơn, y bỗng phát điên
Trước vẻ cao
cả của nét mày thanh thoát
Đây chẳng
thấy bộ tách trà quí tộc
Cũng không
hoa tai trang sức quí phu nhân
Nào có ai biết nói giùm cho,
hiện vật ǵ đă được bỏ vào nung chảy,
để bức tượng này trên đài hoa ấy
được dựng lên: lặng lẽ hơn, vàng dịu êm hơn
một pho tượng vàng ṛng và toàn thể chu thân
(cũng) sờ nhẹ không gian như thoa nhẹ chính ḿnh.
19.7.1906,
Paris
(Buddha
Schon von
ferne fühlt der fremde scheue
Pilger, wie
es golden von ihm träuft:
So als hätte
Reiche voller Reue
Ihre
Heimlichkeiten aufgehäuft.
Als näher
kommend wird er irre
Vor der
Hoheit dieser Augenbraun:
Denn das
sind nicht ihre Trinkgeschirre
Und die
Ohrgehänge ihrer Fraun.
Wüßte einer
denn zu sagen,
welche Dinge
eingeschmolzen wurden, um
dieses Bild
auf diesem Blumenkelche
aufzurichten:
stummer, ruhiggelber
als ein
goldenes und rundherum
auch den
Raum berührend wie sich selber.
19.7.1906, Paris)
*
Đức Phật trong hào quang
Tâm của toàn Tâm, Nhân của Nhân
Quả Hạnh Nhân - vừa viên thành, thấm ngọt
Cái TẤT CẢ ấy vút đến sao trời muôn một
Là xác thịt quả nhân: xin chào hân hạnh!
Hăy xem! Nơi thân này c̣n chi vướng bận,
trong vô cùng là lớp vỏ ngoại thân
và nơi đó mật dâng đầy tràn ứ
và bên ngoài ấp ủ ánh hồng quang
Bởi lẽ trên tận đỉnh cao kia, tṛn đầy hực nóng
Vầng thái dương đang chuyển bóng tà dương
Nhưng „quả thật“ chính từ trong trái hạnh
đă trỗi mầm nhân
vượt qua mọi vầng dương .
(Buddha
in der Glorie
Mitte aller
Mitte, Kern der Kerne
Mandel, die
sich einschließt und versüßt
Dieses Alles
bis an alle Sterne
Ist dein
Fruchtfleisch: sei gegrüßt
Sieh, du
fühlst, wie nichts mehr an dir hängt
und dort
steht der starke Saft und drängt
Und von
außen hilft ihm ein Gestrahle.
Denn ganz
oben werden deine Sonnen
Voll und
glühend umgedreht
Doch in dir
ist schon begonnen,
was die
Sonnen übersteht.)
(Bài đă
có gửi đăng ở trang nhà Khuông Việt)
|