WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 06/2004

NHỮNG BÀI THƠ VỀ PHẬT CỦA RILKE 

Thông thường có người nghĩ h́nh như Tây phương thường đến với Phật giáo qua đường lư trí hơn là t́nh cảm, qua đường triết lư hơn là nghệ thuật.  Một trong những duyên quả hạnh ngộ Tây Đông đó là Kinh Milinda Panha mà Chuyển Luân có nói qua trong số trước. Ấn tượng thông thường ấy cũng chưa phải là đúng hẳn.  

Thật vậy, Phật giáo quả đă xuất hiện ở cuối đường lư trí của tư tưởng Tây phương.  Điều đáng ghi nhận là Phật giáo không xuất hiện như một thứ Ngu Dân chủ nghĩa được ngụy trang bằng những danh từ hào nhoáng như Tín Lư, như Thần Học, hoặc là giải pháp cho một con bạc cùng đường như Pascal với lập luận đen đỏ kiểu: Trong chiếu bạc Cứu Rỗi, dại ǵ mà không đặt tiền vào Thượng Đế? Nếu Thượng Đế không có th́ huề, nếu Thượng Đế có mà ḿnh không đặt tiền th́ có uổng không?!  Phật giáo giúp kẻ cùng đường khỏi phải đầu hàng Đức Tin, khỏi phải trở thành nô lệ thần học, hoặc giúp kẻ không dám liều qua cơn bối rối.  Phật giáo giúp kẻ cùng đường phục hồi ḷng tự hào tự chủ với chính ḿnh.  

Ḷng tự hào tự chủ đó là cốt lơi của sáng tạo nghệ thuật.  Một trong những thành quả tao ngộ tiên khởi đó là những h́nh tượng Phật do những Phật tử Tây phương sáng tạo khi họ t́m gặp Phật giáo và có vẻ như đă đi ngược với tinh thần sắc tức thị không, không tức thị sắc.   

Rainer Maria Rilke trong hậu bán thế kỷ 19 đă trở lại con đường của những Phật tử Tây phương thời nguyên thủy không phải bằng h́nh tượng mà là bằng những bài thơ.  

Thái Kim Lan đă thấy ǵ qua mối giao cảm nghệ thuật uyên nguyên đó?

Chuyển Luân

Đọc ba bài thơ về Đức Phật của Rainer Maria Rilke

Nhân mùa Phật Đản 2548

 Thái Kim Lan

 

Vài nét về tác giả

 Rainer Maria Rilke (1875 – 1926) người Áo, sinh tại Praha, đă theo học triết học, nghê thuật và văn chương tại Praha, München và Berlin, nhưng không hoàn tất. Từ 1897 ông phiêu lưu qua nhiều nước Âu châu: Nga (nơi ông đă gặp L.N.Tolstoi mà ông ca ngợi), Worpswede (Đức) (1900), Paris (1903) và những nước khác trong và sau thời thế chiến thứ nhất (Thụy Sĩ, Ư…). Ông mất tại dưỡng viện Val-Mont v́ bệnh hoại huyết. 

R. M.Rilke là một trong những thi hào quan trọng nhất của dân tộc Đức. Trong số các tư tưởng gia và thi nhân Đức, tên tuổi ông đứng bên cạnh các đại thi hào Goethe, Schiller, Hölderlin. Cũng như những nhà thơ này, Rilke đă khai phá cho ngôn ngữ Đức một thể văn tinh vi sâu sắc và từ đó mở ra một chiều không gian mới cho cảm nhận sáng tạo và mỹ quan thi ca trong văn chương Đức từ thời tân tiến cho đến ngày hôm nay. Sống trong một thời đại chấn động tư duy Tây phương với những tư tưởng triết lư đảo ngược và nghệ thuật toàn diện của Nietzsche, Schopenhauer, R. Wagner… cùng với sự gặp gỡ  những nền tư tưởng đông phương như Phật giáo, Hồi giáo, Rilke đă trải nghiệm qua chính bản thân sự trốc rễ của con người ra khỏi niềm tin, dân tộc, tổ quốc. Cuộc đời trôi nổi thăng trầm của một kẻ viễn du xa quê hương và gia đ́nh trở nên một thứ định mệnh đọa đày của hiện sinh thi nhân mà Rilke đă sống và không t́m được câu trả lời cho câu hỏi về ư nghĩa đời người trong giáo điều Thiên chúa. Theo Rilke tôn giáo phải khai mở cho con người một con đường t́m chân lư bằng những bước chân trên cơi trần chứ không phản bội và bán rẻ con người cho thần linh tối cao trên cơi trời, tôn giáo không phải là tín lư, bổn phận, giới chế áp dụng cho con người đối với đấng tối cao mà là một đột biến tâm cảm, một „sự xúc động trong ṿng hiện sinh“, là „điều ǵ đơn giản vô cùng, đơn sơ vô cùng“, trong „sự rộng mở toàn diện của vũ trụ: nó là chiều hướng của trái tim“. (Brief vom 28. 12.1921, Thư ngày 28 12. 1921). Thái độ từ khước tôn giáo Thiên chúa bắt nguồn từ cảm nhận ấy và cuộc đời của ông có thể được xem là một cuộc hành hương cho thân phận hiện sinh của con người về đất mới của trái tim nhất thể hội nhập, chính những kinh nghiệm này là một trong những khởi điểm của triết lư hiện sinh do Heidegger chủ xướng về sau. 

Trong lúc các tác phẩm thi ca, bi kịch và văn xuôi của thời trẻ c̣n lưỡng lự giữa các khuynh hướng của trường phái duy thiên nhiên, Jugendstil và tân lăng mạn, với tập thơ Mir zur Feier (Cho tôi buổi liên hoan) Rilke đă chuyển sang khuynh hướng ấn tượng với tác phẩm Stunden-Buch (Sách từng giờ) (1905), Buch der Bilder (1902 và 1906) (Sách h́nh ảnh) và sưu tập Neue Gedichte (Những bài thơ mới) (1907 đến 1908).

Từ những bài thơ ấn tượng đầy nhạc điệu và âm thanh phong phú R. M. Rilke đă vượt khỏi giai đoạn duy ấn tượng đế tiến đến thể cách „thơ- vật thể“ (Dinggedicht). Thay v́ những ngoại diện mau biến đổi được nắm bắt một cách chủ quan duy ấn tượng, Rilke đi t́m thực thể bên trong của đối tượng vượt khỏi chính đối tượng đă được hàm thụ rơ rệt trong trực kiến khách quan (Anschauen) từ khi ông gặp nhà điêu khắc Rodin ở Paris. Bởi v́ chỉ có trực quan thực thể (Wesenschau) mới có thể cho phép ông chuyển tải những đối tượng phù du biến đổi vào trong sự tồn lưu chữ nghĩa (Wortdauer) qua những sáng tạo mới. Những bài thơ nổi tiếng đă được sáng tác trong khuynh hướng này như „Der Panther“ (Con beo), „Die Treppen der Orangerie“ (Các bậc cấp vườn cam), „Römische Fontäne“ (Bể  phun La Mă), „Das Karussell“ (Ṿng quay ngựa), „Spanische Tänzerin“ (Vũ nữ Tây Ban Nha),v.v. 

Từ lối nh́n ấn tượng trong Sách h́nh ảnh đến cái nh́n trực quan thực thề hiện tượng học trong Những bài thơ mới Rilke đă đưa sáng tác của ông tiến xa hơn đến lănh vực „ảo kiến huyền thoại“ (mystische Vision) với Duineser Elegien (Bi ca tại Duino) (1923). Trong thể cách này Rilke muốn đạt được lối diễn tả các đối tượng phù du bằng một ngôn ngữ đam mê cùng tận đến nỗi thực thể nội tại của chúng được hoá thân và tái tạo trở nên những thực thể mới mẻ. Với những bài thơ sáng tác trong khuynh hướng mới này như „Ausgesetzt auf den Berg des Herzens“ („Trần thân trên đỉnh tâm sơn“) Rilke muốn thực hiện một cuộc huyễn hoá không gian bên trong của vũ trụ, nhưng chính ngay ở đây Rilke nhận ra được giới hạn của ngôn ngữ, ngay cả ngôn ngữ thi ca sáng tạo, từ đó với Rilke thi ca mang một ủy nhiệm khám phá không ngừng cơi bờ bên kia của ngôn ngữ và thi nhân là người viễn du trên nhịp sóng chữ nghĩa như Rilke đă lênh đênh một thời.

 

Về 3 bài thơ „Đức Phật “ [1], „Đức Phật“ [2] và „Đức Phật trong hào quang“ của R. M. Rilke  

Cũng như những tác phẩm của H. Hesse, những bài thơ về Đức Phật của R. M. Rilke đă được giới Phật tử trên thế giới truyền tụng từ lâu. Trong các thập niên 30,40, 50,60 và về sau, văn chương của Rilke được giới thức giả Việt Nam biết đến qua những tác phẩm dịch từ tiếng Pháp.  

Với các bài thơ về Đức Phật, Rilke đă xuất hiện trước giới trí thức Phật tử Việt Nam thời ấy như một „người Đức trầm lặng“, nhạy cảm, tế nhị và khiêm cung. H́nh như chưa có một bắt tay, nhưng ánh mắt và nụ cười đă sẵn, và thơ của Rilke đến,… có một tiếng reo mừng chưa thoát ra khỏi cổ, c̣n ngập ngừng trong tim,- và đă dừng lại không cần -, có rất nhiều hồi hộp ḍ xem ư lạ của một người chưa quen, có cảm giác ngạc nhiên thú vị như vừa được nếm chất ngọt một miếng bánh ga-tô Tây, có một vài vấp ngă trật chân qua ngưỡng cửa chữ nghĩa, rồi chưa kịp lấy hơi, niềm vui được ngồi chung với người „đồng thanh tương ứng“ bỗng chan ḥa…Đó là những mảnh hoài niệm đọc thơ của Rilke về Đức Phật. 

R. M. Rilke không phải là Phật tử, ông cảm hứng làm thơ về Phật. Đọc 3 bài thơ về Phật, thoạt tiên ta có cảm giác ông đang đứng xa nh́n về một biểu tượng tôn giáo. Ông nh́n Phật như một người lạ hay một người „hành hương xa lạ“ (Buddha [2]), cách xa, thoáng chút nghi hoặc, ngập ngừng, ṭ ṃ ḍ dẫm, c̣n thế tục, như thái độ t́m hiểu của một người Tây phương tầm thường, rồi chưa đầy một thoáng quay người, bỗng nhiên người ấy biến mất mà chỉ c̣n thi nhân đứng đó, tràn ngập cảm xúc và rung động của con tim trí tuệ: Rilke đă hiểu Phật, thấy, ngộ, lần theo „hướng của con tim“ (Rilke,Thư, đă dẫn). Rilke gặp Phật trong tự tính sâu xa và hồn nhiên của ư niệm chân lư toàn diện nhân bản tại thế ấy. Chính thể nghiệm thi ca „tâm truyền tâm“ này đă làm cho R.M. Rilke trở thành một khám phá mới cho sự liễu tri kinh nghiệm chứng ngộ trong Thiền học đối với các nhà Phật học Tây phương. 

Rilke đă trước tác những bài thơ này trong giai đoạn thi ca của ông đang ở trong trào lưu duy ấn tượng. Ta biết về h́nh thức, phái ấn tượng chú trọng thái độ quan sát, thụ động của tác giả, sự khám phá những từ ngữ chuẩn đích và tinh vi, sự sắp đặt các lời phát biểu và sự làm tối nghĩa qua các đại danh từ trung tính vô định (ví dụ: nó, người ta, cái ấy) cũng như qua phép đồng giác (Synästhesie) và phép phản thể (Oxymoron). 

Về nội dung tác giả của trường phái này t́m kiếm những ấn tượng khoảnh khắc bắt gặp được trong thoáng chốc (kairo), sự giao thoa giữa hiện tượng phù du ảo ảnh và thể tính thường c̣n, sự khải ngộ chân lư trong giờ phút tương phùng với thần linh… 

Trong „Đức Phật“ [1], „Đức Phật“ [2], „Đức Phật trong hào quang“, người đọc t́m thấy các yếu tố nói trên được Rilke ứng dụng trong ngôn ngữ Đức một cách tài t́nh điêu luyện, đầy chất thơ. Và đây chính là điểm khó khăn vô cùng cho người dịch, nhất là dịch Việt.

Trong ngôn ngữ Việt những bài ca tụng Phật đă có một truyền thống thơ văn kinh kệ tụng phong phú, ngôn ngữ trùng trùng điệp điệp có thể nâng ta lên b́nh diện hội nhập tâm linh. Với Rilke, người dịch có cảm tuởng phải ngưng thần, dừng lại, quay về với từng chữ đơn, mộc, cụ thể như từng ấn tượng một của mỗi giác quan: „sự lắng nghe“ (Buddha), „cảm nhận“ (Tượng Phật), vị giác „thịt của trái cây“ (Phật trong hào quang), với những trạng từ vô định và cú pháp điều kiện ảo (irreal): diễn tả trạng thái tâm lư gặp gỡ một siêu nhân cao cả: „dường như“ („als ob“ trong Buddha), nếu như, ví như („wenn…dann“ trong Buddha), rồi th́ („dann“, Budda), v́ („denn“, Buddha in der Glorie) và nhất là chữ „và“ („und“, trong cả ba bài thơ). Rilke sử dụng chữ „và“ như một dấu nhấn cho từng ấn tượng một, để làm „tṛn“ ấn tượng ấy trước khi đưa một ấn tượng kế tiếp theo sau. Ta biết trong ngôn ngữ Việt, những chữ này có thể đem đến vấp ngă trong câu thơ.

 

Cũng thế, rất duy ấn tượng, Rilke đă dùng những đại danh từ ngôi thứ ba hay thứ hai để nói về Phật hay Phật tính: „ER“, „ihm“ (trong Buddha), „alles“ (tất cả) „das, was“ (cái ấy) và không đả động một danh hiệu nào của Phật, trong lúc danh hiệu Phật được sử dụng có đến 10: Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thượng Thệ, Thế Gian Giải, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn, và NHƯ LAI...

 

1. Đức Phật [1]

 

Không sử dụng một danh hiệu Phật ngoài đề tựa BUDDHA, Rilke – không có ǵ hơn -  trong trường hợp này hoàn toàn giao phó cho ấn tượng giác quan và cảm xúc sáng tạo của chính ḿnh: Phật đối với ông là „sự tĩnh lặng“ rất xa nhưng lại là một „v́ sao“ mắt trần có thể thấy được – và đây là ư niệm khác với ư niệm Thượng đế trừu tượng như một „trái cây đă bị hút hết nước ngọt“ (Brief vom 17.12.1912, Thư ngày 17. 12. 1912) mà Rilke từ chối – so với những v́ sao mà con người không thấy được trên những tầng trời cao hơn, ngôi sao Phật tuy „xa“ mà lại „gần“, v́ „gần“ cho nên ngôi sao này là điểm giữa của tất cả những sao vô h́nh của vũ trụ, một ngôi sao „nhân“ bản và „nhân loại“ trong ư nghĩa thập loại chúng sinh, cho nên Phật được cảm nhận như „v́ sao“ mà cũng như con thú uể oải (Đức Phật [1]), một tượng vàng ṛng (Đức Phật [2]), một hạt hạnh nhân ngọt ngào (Phật trong hào quang)… Nhưng Phật là „tất cả“ và là một „tất cả như thật“ nguồn suối năng động của sự trở thành Phật trong ức kiếp luân hồi.

 

Giữa những ấn tượng đơn lẻ về Phật và ư niệm Đức Phật như một Toàn thể ta đă tưởng có một bước nhảy hẫng hụt từ h́nh ảnh qua ư niệm, nhưng Rilke đă đưa cho ta một chiếc cầu – nói như Hakuin – một chiếc cầu đang trôi-  và là một chiếc cầu vô niệm chảy qua bằng phản thể (Oxymoron) của tác động hay chủ từ tác động (Ta dừng lại, không c̣n nghe im lắng, „Đức Phật“ [1]), những tương phản giữa thật và ảo, giữa tàn phai và bất diệt, giữa có và không…Sự chuyển tiếp không xảy ra một chiều mà luân lưu trong câu thơ, tạo nên một thức tĩnh sống động bằng những tra vấn, nghi ngờ như những lá cửa mở ra rồi sập đóng, thôi thúc t́m kiếm nhận mặt và từ đó khi những ngọn gió đùa ngừng lại, người đọc gặp được như cùng một lúc với Rilke một Đức Phật sống động đến gần ta từ hướng con tim…

 

Trong  bài thơ „Đức Phật [1]“, từ một thế ngồi giả định „Als ob“ (h́nh như) của Phật, tĩnh lặng xa xôi bất động, Rilke đă sử dụng phép phản thể (Oxymoron) gấp đôi trong câu thứ hai: kẻ chiêm ngưỡng Phật vừa „dừng lại và không nghe tĩnh lặng nữa“, có một sự bất ngờ trong câu thơ, người đọc đă tưởng dừng lại để nghe tĩnh lặng, nhưng không, Rilke không tĩnh lặng, Rilke  bắt đầu nh́n „thấy“. Chữ „không“ đă biến đổi tư thế của người chiêm ngưỡng. Không phải là Đức Phật ở xa kia mà chính sự quay lại „không nghe“của người chiêm ngưỡng là sự khởi đầu bài thơ về Phật, trờ về vạn hữu muôn vẻ để t́m nhân diện Phật.

 

Những nét ấn tượng tiếp theo là những kinh nghiệm đơn lẻ cụ thể: sao trời, con thú, ư niệm toàn diện, hạnh từ bi, hạnh tự tại và rốt cùng thực chứng về „CÁI ẤY“ „das, was“, và Phật không được gọi tên xác định mà chỉ là một hoá thân của ư niệm giải phóng chúng sinh toàn diện.

 

Trong đoạn cuối của bài thơ người dịch đă phải sử dụng hai danh hiệu của Phật thay đại danh từ „ER“ để chuyển tải nội dung mà Rilke muốn diễn tả: „Thế Gian Giải“ người hiểu

rơ thế gian và „Như Lai“ „người đến như thế trên thế gian“ với hi vọng không phá vỡ ư nghĩa của bài thơ và ngược lại làm rơ chủ ư của bài thơ. Trong ngôn ngữ Phật giáo ta thường gặp chữ „NHƯ“ (Sosein), diễn tả thực tại thường nghiệm cũng như chân lư trong thể tính tự tại của nó. Trong tinh thần chứng ngộ từ kinh nghiệm cụ thề của chữ „như“ viết nhỏ như là một phần của chữ NHƯ viết lớn hiểu là toàn diện thể tính (Sein) hay cái „Tất cả“, có thể hiểu Rilke đă cấu trúc bài thơ bằng chuỗi hạt ấn tượng của „như“ để khi chuỗi hạt h́nh thành, ta lượm được một h́nh ảnh NHƯ LAI toàn vẹn. Trong mỗi đoạn của bài dịch chữ „như“ cũng đă được sử dụng với dụng ư như trên, cho nên ư niệm NHƯ LAI và Thế Gian Giải được dùng với hi vọng không phản.

 

Với h́nh ảnh „Phật“ là kẻ „từng trải“ qua vạn kiếp trong câu thơ cuối, Rilke đă trả lời cho h́nh ảnh „ngồi lặng yên“ trong câu thơ mở đầu và khép tṛn ư niệm Đức Phật „bất động và giải phóng“. Có thể nói không quá đáng, Rilke đă đạt được sự thi hóa trí tuệ bát nhă trong vô niệm sáng tạo của thi ca, ở đó Rilke cho ta đến gần nhất với Phật hơn một bài giảng đạo nào.

 

2. Đức Phật trong hào quang

 

Có những may mắn hay rủi ro bất ngờ khi hai ngôn ngữ gặp nhau. Thật là một sự may mắn đầy thú vị khi Rilke dùng h́nh ảnh hạt hay quả „Mandel“ (hạnh nhân) để diễn tả ư niệm Phật là trung tâm của tất cả trung tâm, hạt nhân của tất cả hạt nhân, trong bài „Đức Phật trong hào quang“. Từ  „Mandel“ tiếng Hán Việt là „hạnh nhân“, đây là một t́nh cờ may mắn có thể chuyển tải ư thơ của Rilke về Đức Phật bằng một ví dụ tuyệt hảo như thế: do đấy „hạnh nhân“ được người dịch sử dụng theo lối chơi chữ phóng khoáng của ngôn ngữ Việt: „người trồng cây hạnh mà chơi, ta trồng cây đức để đời về sau“ nhưng đồng thời cũng diễn tả được ư niệm „bất tử“ của Đức Phật mà Rilke muốn chuyển đạt.

 

Đọc „Đức Phật trong hào quang“, trước tiên người đọc bỡ ngỡ không t́m thấy một ánh hào quang chói lọi nào. H́nh tượng ánh sáng duy nhất trong thơ là „mặt trời số nhiều“ (die Sonnen) làm chín quả hạnh nhân, nhưng tất cả mặt trời của  thái dương hệ „sáng ngời và hực nóng“ cũng có lần xuống núi khuất đi, chỉ có mầm „nhân“ trong quả „hạnh“ là sự trỗi dậy bất tử, vượt qua mọi hào quang phù du biến đổi không ngừng. Từ bỡ ngỡ với „hào quang tắt bóng“ mà Rilke diễn tả rất tượng h́nh „umgedreht“ (lật ngược lại) người đọc kinh ngạc cảm nhận một thứ ánh sáng mới trong bài thơ, như một cú chớp, một đột biến của con tim, một thứ „satori“mới, một „giác ngộ thi ca“ mà Rilke trao tặng khi dùng h́nh ảnh quả „hạnh nhân“ để diễn tả. T́nh cờ hay trực giác - có lẽ cả hai -  thi nhân – và có lẽ chỉ có thể là thi nhân như Rilke – đă thâu tóm cả nhân sinh quan Phật giáo từ thuyết vô thường cho đến thập nhị nhân duyên và „bất tử“ theo ư nghĩa „vượt trên sống chết“ bằng một hạt hạnh nhân vừa chín tới, một quả hạnh nhân xác thịt, sắc thân („Fruchtfleisch“) ân huệ của thiên nhiên, nhưng trong vô cùng của nó là rỗng không („Schale“) như một lớp vỏ mỏng manh[3], không có ǵ vướng bận, thảnh thơi, một rỗng

không „vô danh thiên địa chi thủy“. Với h́nh ảnh đơn sơ mộc mạc và nhạc điệu đầy tượng h́nh Rilke có thể nói lên „điều không thể nói“ (das Unsagbare) trong lúc thiên kinh vạn quyển đă được viết ra và c̣n đuợc viết về „điều ấy“.

 

Trong ánh sáng của „giác ngộ thi ca“ thơ Rilke như một ngón tay chỉ „hướng về con tim“, là nơi Phật ở trong tâm, bất diệt, như một niềm hỉ lạc thực chứng, khởi đầu của giác ngộ giải phóng.

 

3. Đức Phật [2]

 

Trong bài thơ „Đức Phật“ [2],  Rilke đổ dồn mọi ấn tượng của người chiêm bái tượng Phật trong suốt bài thơ mà không rút ra một nhận xét lư thuyết như trong đoạn kết của hai bài thơ trên: từ đàng xa đến gần, lạ lùng, lầm tưởng, phát hoảng, thán phục, đi chung quanh, nhận ra tất cả chỉ là vật liệu của một pho tượng bằng vàng hay sơn son thếp vàng nhưng lại thấy „KHÁC“: làm thế nào để diễn tả „CÁI KHÁC“ của Phật, của tượng Phật với những chất liệu làm nên tượng? Ngoài cách nói so sánh „KHÁC HƠN“? Rilke đă dùng phương pháp so sánh ấy, nhưng thi nhân đă đi xa hơn bờ ngôn ngữ giới hạn của nhị nguyên „cái này khác cái kia“, bằng cách trở về chính „ấn tượng“ để làm SỐNG „tượng Phật“, trả lại thể tính uyên nguyên của Phật. Cuối bài thơ Rilke dùng chữ „berührend“ (đụng, chạm, sờ) một tác động gây ấn tượng, như ch́a khóa mở vào một chiều không gian mới. Trong chiều không gian ấy, ấn tượng vừa thụ động mà vừa tác động tạo nên một khoảnh khắc hiện sinh nhất thể hội nhập, bởi lẽ lần này chủ thể „sờ“ không phài là kẻ chiêm bái mà là chính pho tượng và pho tượng lại không „sờ“ ai cả mà sờ „không gian“, „sờ“ cả thế giới trong thế ngổi tṛn trịa trên toà sen. Nhưng đụng chạm mà không động, không phá vỡ, ngược lại hoà b́nh và yên ổn vây quanh và tỏa khắp bởi v́ không gian và Phật không khác, thế giới và Phật không hai. Ta biết trong lư thuyết Phật khái niệm „đụng chạm, cảm xúc“ là một trong 12 thập nhị nhân duyên gây nghiệp sân hận tham ái chiến tranh, tạo ra luân hồi truyền kiếp. Rilke đă lật ngược khái niệm này và trao nó vào tay pho tượng đang ngồi. Dùng khái niệm „berührend“ để tạo nên nét sống động của một pho tượng ngồi im, bằng cảm xúc thi ca, Rilke đă làm nỗi bật thể tính đồng nhất ḥa hợp của Đức Phật, cả toàn thân và toàn tâm „không tranh căi với thế gian“. Âm hưởng câu thơ  cuối cùng như  tiếng của một mái chèo vừa khuấy nước và tiếng sóng lan xa, làm cho người đọc như được cảm nhận hơn một lần Rilke đang vượt bờ giới hạn của ngôn ngữ để đưa thi ca và giác ngộ ḥa nhập trong nguồn suối sáng tạo không ngừng.

 

Từ đó dịch thơ Rilke, là một niềm hỉ lạc nhưng cũng là một khổ nạn bị giam lỏng trong mấy lần giới hạn. Ư thức điều đó nên người dịch chỉ biết cố gắng trung thực tối đa với nỗi áy náy mong được là „lời quê góp nhặt“.

 

München 01. 06. 2004

Phật Đản 2548

 

*

 

Thơ Rainer Maria Rilke –

Thái Kim Lan dịch

 

Đức Phật

 

Dường như Ngài đang lắng nghe. Tĩnh lặng: cơi xa…

Ta dừng lại và không c̣n nghe im lắng

Và Ngài là v́ sao. Và những sao trời khác lạ,

mờ mịt mắt trần, lũ lượt về quanh tinh đẩu sáng. 

  

Ôi, Ngài là tất cả. Chân như đó, có phải ta chờ

Ngài thấy ta? hay Ngài cần phải thấy?

Thảng như nơi đây ta phủ phục trước Ngài,

Ngài vẫn như con thú uể oải trầm sâu tự tại.  

  

Từ ức kiếp luân lưu trong thân Thế Giải[4]

Mầm thiện duyên thúc giục đến bên Ngài

Như Lai, kẻ xả bỏ những ǵ con người từng trải.

Và kẻ „từng trải“ những điều khuyên người lầm lạc bỏ mê.

 

Cuối năm 1905.

 

 

(Buddha

 

Als ob er horchte. Stille: eine Ferne…

Wir halten ein und hören sie nicht mehr

Und er ist Stern. Und andere große Sterne,

die wir nicht sehen, stehen um ihn her.

 

O er ist alles. Wirklich, warten wir,

daß er uns sähe? Sollte er bedürfen?

Und wenn wir ihn hier vor ihm niederwürfen,

er bliebe tief und träge wie ein Tier.

 

Dann das, was uns zu seinen Füßen reißt,

das kreist in ihm seit Millionen Jahren

Er, der vergisst, was wir erfahren,

und der erfährt, was uns verweist.

 

Ende 1905)

 

*

 

Đức Phật

 

Từ đàng xa, rụt rè, lạ lẫm, 

kẻ hành hương cảm nhận

tượng đâu mà vàng chảy thành ḍng

như thử có các nhà giàu hối lỗi ăn năn

đem hết của giấu kín chất lên thành đống.

 

Nhưng lại gần hơn, y bỗng phát điên 

Trước vẻ cao cả của nét mày thanh thoát

Đây chẳng thấy bộ tách trà quí tộc  

Cũng không hoa tai trang sức quí phu nhân

 

Nào có ai biết nói giùm cho,

hiện vật ǵ đă được bỏ vào nung chảy,

để bức tượng này trên đài hoa ấy

 

được dựng lên: lặng lẽ hơn, vàng dịu êm hơn

một pho tượng vàng ṛng và toàn thể chu thân

(cũng) sờ nhẹ không gian như thoa nhẹ chính ḿnh.

 

19.7.1906, Paris

 

 

(Buddha

 

Schon von ferne fühlt der fremde scheue

Pilger, wie es golden von ihm träuft:

So als hätte Reiche voller Reue

Ihre Heimlichkeiten aufgehäuft.

 

Als näher kommend wird er irre

Vor der Hoheit dieser Augenbraun:

Denn das sind nicht ihre Trinkgeschirre

Und die Ohrgehänge ihrer Fraun.

 

Wüßte einer denn zu sagen,

welche Dinge eingeschmolzen wurden, um

dieses Bild auf diesem Blumenkelche

 

aufzurichten: stummer, ruhiggelber

als ein goldenes und rundherum

auch den Raum berührend wie sich selber.

 

19.7.1906, Paris)

 

*

 

Đức Phật trong hào quang

 

Tâm của toàn Tâm, Nhân của Nhân

Quả Hạnh Nhân - vừa viên thành, thấm ngọt

Cái TẤT CẢ ấy vút đến sao trời muôn một

Là xác thịt quả nhân: xin chào hân hạnh! 

 

Hăy xem! Nơi thân này c̣n chi vướng bận,

trong vô cùng là lớp vỏ ngoại thân

nơi đó mật dâng đầy tràn ứ

và bên ngoài ấp ủ ánh hồng quang

 

Bởi lẽ trên tận đỉnh cao kia, tṛn đầy hực nóng

Vầng thái dương đang chuyển bóng tà dương            

Nhưng „quả thật“  chính từ trong trái hạnh

đă trỗi mầm nhân vượt qua mọi vầng dương .

 

 

(Buddha in der Glorie

 

Mitte aller Mitte, Kern der Kerne

Mandel, die sich einschließt und versüßt

Dieses Alles bis an alle Sterne

Ist dein Fruchtfleisch: sei gegrüßt

 

Sieh, du fühlst, wie nichts mehr an dir hängt

Im Unendlichen ist deine Schale,

und dort steht der starke Saft und drängt

Und von außen hilft ihm ein Gestrahle.

 

Denn ganz oben werden deine Sonnen

Voll und glühend umgedreht

Doch in dir ist schon begonnen,

was die Sonnen übersteht.)

  

(Bài đă có gửi đăng ở trang nhà Khuông Việt)


[1]  ư niệm „sunyata“ của đạo Phật có từ gốc là „svi“: phồng lên, sunyata do đấy  nghĩa  là „cái ǵ như màn bọc ngoài được thổi phồng lên“ do đấy ở trong là rỗng , „svi“ có liên hệ nguồn gốc với  từ ngữ  Hy lạp  „thai nghén“ xuei^v -, hay theo Lăo tử phần trong của cái chén là rỗng , một t́nh cờ Rilke dùng chữ  „Schale“ là lớp vỏ  của quả hạnh nhân , và Schale cũng là cái chén theo nghĩa rỗng không của Lăo tử.

[2]Thế Giải: một danh xưng của Phật là: Thế Gian Giải: ng ư ời hi ểu r ơ th ế gian

10 danh xưng truy tặng cho Đức Phật là: Nh ư  Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,

Thi ện Thệ, Thế Gian Giải, V ô Th ư ợng s ĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

[3]  ư niệm „sunyata“ của đạo Phật có từ gốc là „svi“: phồng lên, sunyata do đấy  nghĩa  là „cái ǵ như màn bọc ngoài được thổi phồng lên“ do đấy ở trong là rỗng , „svi“ có liên hệ nguồn gốc với  từ ngữ  Hy lạp  „thai nghén“ xuei^v -, hay theo Lăo tử phần trong của cái chén là rỗng , một t́nh cờ Rilke dùng chữ  „Schale“ là lớp vỏ  của quả hạnh nhân , và Schale cũng là cái chén theo nghĩa rỗng không của Lăo tử.

[4]Thế Giải: một danh xưng của Phật là: Thế Gian Giải: ng ư ời hi ểu r ơ th ế gian

10 danh xưng truy tặng cho Đức Phật là: Nh ư  Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc,

Thi ện Thệ, Thế Gian Giải, V ô Th ư ợng s ĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn.

Bài trong tháng

Agent Orange: collateral damage
Ai cũng muốn đất nước phát triển
Cao Huy Thuần_Hai bài Kinh Bát Nhă
Cuộc sống mới ngược ḍng
Có phải Việt kiều là như thế?
Cảm nhận mùa thu
Festival Huế
GS Trần Văn Khê
Hiệp định phân định lănh hải
Hoàng hôn và Hôn hoàng
Hoàng Thành ở đâu
Hoạ sĩ Bửu Chỉ trước 75
Khiêu vũ và chóng mặt
Kế hoạch ném bom nguyên tử
Lưới trời ai dệt
Lời nhắn
Mùa thu xưa
Nguyên Tường_Số mệnh và Linh hồn
Nguyễn R_Tượng khóc ra máu
Người thi hoá Kinh Phật
Nh́n h́nh Iraq nhớ VietNam
Những kẻ nói láo
Những tấm h́nh cà chớn
Nước chảy mây trôi
Phỏng vấn Nguyễn Cao Kỳ_Tây nguyên
Quang Nguyen_A Destructive obsession
Regarding the Torture of Others
Thu buồn
Thái Kim Lan_Trần Thái Tông, nhân ảnh trong Thiền học VN
Thái Kim Lan_Đọc thơ Rilke viết về Phật
Thư Betz gửi Lâm Quang Thi
Thụ động thông tin
Thủ tướng chịu chơi
Trang thơ
Truyền thống tra tấn
Tuần lễ của những người khổng lồ
Tết Đoan Ngọ
Từ tăng lữ đến nhà hàng chay
Viết văn và trị liệu
Văn hóa nông nghiệp qua ca dao
Vĩnh biệt xe lôi
Xá lợi Phật
Ôi những tấm h́nh
Đọc sách: Nước chảy mây trôi
Đồ tắm đồ chơi

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE