|
Hầu chuyện giáo
sư Trần Văn Khê
TTCN - Tôi đă mê say nghe giáo sư Trần Văn Khê
nói bằng giọng rất truyền cảm, khi bằng tiếng Pháp, khi bằng tiếng Việt, khi
bằng tiếng Anh về đề tài âm nhạc truyền thống VN, nhă nhạc và về cuốn sách sắp
in của giáo sư: Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam.
Từ lâu, khi c̣n ở trong nước, tôi đă nghe nói
đến giáo sư tiên sĩ Trần Văn Khê, một nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc có tiếng,
một nhà sư phạm đă từng đi giảng bài, nói chuyện ở hầu khắp các nước.
Khi sang công tác tại Paris, tôi định bụng phải
t́m mọi cách để tiếp xúc với giáo sư. Và cơ may đă đến: nhân dịp nhă nhạc Huế
được UNESCO công bố là kiệt tác di sản phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại,
Đoàn nhă nhạc Huế đă sang biểu diễn tại châu Âu vào đầu năm nay, giáo sư đă
không quản tuổi cao, sức yếu nhận lời mời đến dự các buổi tŕnh diễn và đă giới
thiệu về nhă nhạc một cách sinh động, đầy sức cuốn hút, góp phần đáng kể vào
thành công của các buổi diễn.
Sau đó, tôi đă quen «thân» với giáo sư và vào
một ngày đầu xuân, chúng tôi đă đến thăm giáo sư tại nhà riêng ở thành phố Vitry
sur Seine, ngoại ô Paris.
Khác với sự tưởng tượng của tôi, giáo sư sống
trong một căn hộ khiêm tốn nằm tận trên tầng chín của một khu nhà với giá thuê
rẻ. Thay vào những tiện nghi của cuộc sống hiện đại là ngổn ngang những sách,
tài liệu, băng, đĩa nhạc, các loại nhạc cụ cổ truyền xếp đầy các giá sách, tủ
sách, trên bàn, trên ghế và cả dưới sàn. Khắp căn hộ, pḥng nào cũng vậy, sách,
tài liệu, băng đĩa nhạc... lấn hết chỗ, chỉ c̣n một chỗ nằm của giáo sư trong
pḥng ngủ.
Sự giản dị trong sinh hoạt đến mức khó tưởng
tượng nổi của vị giáo sư nổi tiếng sống trên đất Paris hoa lệ khiến tôi chợt nhớ
lại cách đây khoảng hơn 20 năm, tôi có dịp cùng một nhà báo Pháp đến gặp nhà văn
hóa Nguyễn Khắc Viện tại nhà riêng ở Hà Nội. Ông bà Nguyễn Khắc Viện sống trong
một căn pḥng vừa là pḥng khách vừa là pḥng ngủ. Đồ đạc không có ǵ mà cũng
chỉ thấy toàn sách, báo.
Trước mặt tôi là một người mảnh khảnh, mặc
chiếc quần kaki với cái áo sơmi cộc tay đă bạc màu. Ông niềm nở mời chúng tôi
ngồi xuống mấy cái ghế gỗ cũ kỹ đă tróc gần hết vécni và mời chúng tôi uống nước
bằng bộ ấm chén cũng thật đặc biệt, ấm th́ sứt ṿi, c̣n chén th́ mỗi cái một
kiểu... Nhưng ông đă lôi cuốn khách suốt từ đầu đến cuối với sự uyên bác, cách
nói say sưa đầy thuyết phục, bằng một thứ tiếng Pháp “c̣n hay hơn cả người Pháp”
như lời ông nhà báo đă nói với tôi sau cuộc gặp ấy. Sự giản dị trong cách sống
tỉ lệ nghịch với vốn kiến thức sâu rộng, phong cách lịch lăm và sự tinh tế trong
ứng xử của ông đă gây ấn tượng mạnh cho tôi và ông nhà báo Pháp.
Giáo sư Trần Văn Khê cũng cho tôi cảm tưởng như
vậy. Tôi đă mê say nghe giáo sư nói bằng giọng rất truyền cảm, khi bằng tiếng
Pháp, khi bằng tiếng Việt, khi bằng tiếng Anh, đến mức không để ư ǵ đến thời
gian trôi qua. Câu chuyện xoay quanh đề tài âm nhạc truyền thống VN, nhă nhạc và
về cuốn sách sắp in của giáo sư: Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt
Nam.
|
 |
|
GS Trần Văn
Khê Ảnh: Huỳnh Ngọc Dân |
* Thưa giáo sư, nhân duyên nào hoặc duyên nợ
đặc biệt nào đă khiến giáo sư gắn bó cả cuộc đời với âm nhạc truyền thống VN và
nhă nhạc?
- Tôi gắn bó cả cuộc đời với âm nhạc truyền
thống do một “thiên duyên”.
Nhờ trời tôi được sinh ra trong một gia đ́nh, hai bên nội ngoại đến tôi bốn đời
đều là nhạc sĩ. Lúc tôi c̣n ở trong bụng mẹ đă được cậu Năm tôi thổi sáo cho
nghe mỗi ngày. Vừa mở mắt chào đời đă được nghe tiếng sáo của cậu Năm tôi. Từ
nhỏ đến lớn, khi biết nói là biết ca. Từ 6 tuổi đă biết đờn c̣ (đàn nhị), đờn
ḱm (đàn nguyệt), 12 tuổi đờn tranh, 7 tuổi đă theo gánh hát cải lương của cô Ba
tôi là bà Trần Ngọc Viện lập ra. Do đó, việc tôi gắn bó với âm nhạc truyền
thống đúng là nhờ “duyên trời” vậy.
Tôi đến với nhă nhạc Huế như tôi đă đến với ca
trù, chầu văn miền Bắc, hát bội miền Nam, nhạc Phật giáo ba miền - những bộ môn
đó gặp khó khăn do những thay đổi về mặt chính trị, kinh tế, xă hội tại VN và có
thể bị ch́m vào quên lăng. Khi đă thấy các bộ môn ấy thật sự có những giá trị
nghệ thuật nhưng chưa được đông đảo quần chúng và các cơ quan hữu trách nhận
thức, tôi đă kiên tŕ phân tích, đúc kết và nêu ra những ưu điểm của các bộ môn
ấy bằng những bài viết và những buổi nói chuyện.
Tôi cũng t́m đủ cơ hội để giới thiệu những bộ
môn ấy với người nước ngoài bằng đĩa hát, băng từ, băng video để họ có dịp
thưởng thức, phê b́nh, đánh giá. Lần lần những bộ môn ấy đă được hồi sinh.
* Trong cuốn sách Du ngoạn trong âm nhạc
truyền thống Việt Nam sắp ra mắt bạn đọc của giáo sư, “du ngoạn” có thể
hiểu như thế nào?
- Từ khi tôi có dịp nói chuyện âm nhạc truyền
thống VN cho đồng bào trong nước, tôi thường được nghe thính giả hỏi: «Chẳng
biết âm nhạc truyền thống VN có những ǵ và tại sao giáo sư có thể dành cả cuộc
đời ḿnh để t́m hiểu, giới thiệu và giảng dạy nó ở nhiều nơi?”.
Quyển sách sắp xuất bản trong mùa hè tới đây là
câu trả lời của tôi, và tôi viết cho quảng đại quần chúng. Không đi sâu vào lư
thuyết, không phân tích về thang âm điệu thức, tôi chỉ muốn làm một hướng dẫn
viên cho đa số người Việt đi dạo chơi, ngao du trong vườn nhạc của dân tộc Việt,
để thưởng ngoạn, nh́n qua một số hoa thơm cỏ lạ.
Tôi chỉ gợi ư cho các bạn thấy trong vườn hoa
âm nhạc truyền thống của VN có trăm hương ngàn sắc, mỗi loại có vẻ đẹp độc đáo
đặc thù, một nét duyên dáng riêng để các bạn làm quen với những loại chưa quen,
t́m hiểu những điểm chưa hiểu, và sau đó sẽ quí yêu thêm những ǵ cha ông chúng
ta truyền từ đời này qua đời nọ, và để lại cho chúng ta một di sản văn hóa rất
lớn, rồi… bỏ bớt ḷng tự ti mặc cảm và thêm chút ít tự hào dân tộc.
Du ngoạn là như vậy đó. Lúc nào khỏe đi lâu,
lúc nào mệt th́ dừng chân. Không ai bắt buộc các bạn phải vào cửa này, ra ngơ
kia. Các bạn tự do du ngoạn. Cuộc du ngoạn trong âm nhạc truyền thống VN sẽ theo
con đường đời của một con người trong xă hội VN từ lúc sơ sinh đến lúc trở về
cơi vĩnh hằng.
Trong sách, chúng tôi có nhấn mạnh rằng tiếng
hát ru là bài giáo dục âm nhạc đầu tiên người mẹ truyền sang đứa con. Lớn lên,
dù không học trong các trường nhạc hay nhạc viện, nhưng nhờ dựa vào cấu trúc câu
hát ru được ghi vào tiềm thức của ḿnh lúc c̣n là đứa bé nằm trong cánh tay êm
ấm của bà mẹ mà chàng thanh niên hay cô thiếu nữ đă tạo ra những câu ḥ điệu lư
rất hay.
Trong quyển sách này, chúng tôi chỉ đưa các bạn
đi du ngoạn trong truyền thống âm nhạc của người Kinh để nhận diện và biết qua
những ǵ cha ông chúng ta đă để lại, và hẹn có những chuyến khác, không phải chỉ
dạo qua mà dừng chân lâu hơn để có đủ th́ giờ nhận thức được những cái hay,
những nét đẹp kín đáo của mỗi bộ môn, và sẽ nhờ những hướng dẫn viên khác đưa
các bạn đi xem những bông hoa c̣n ẩn núp trong chôn núi rừng ở các miền cao.
* Trước tác động của nền kinh tế thị trường và
nguy cơ đồng nhất hóa các giá trị văn hóa, theo giáo sư, chúng ta phải làm ǵ để
ǵn giữ được bản sắc âm nhạc truyền thống nói chung và hát ru nói riêng, không
phải chỉ để biểu diễn trên sân khấu bởi các nghệ sĩ chuyên nghiệp mà c̣n trả lại
nó vào cuộc sống thường ngày, như có ai đó đă từng mơ ước: Bao giờ xóm ngơ
đổi đời/Để tôi nghe tiếng ru hời ngày xưa?
- Từ hơn 20 năm nay, tôi đă nhắc đi nhắc lại
không nên để tiếng ru tắt trên môi các bà mẹ. Cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đă tổ
chức liên hoan hát ru đầu tiên năm 1989, sáu tháng trước khi từ giă cơi đời và
bài ca cuối cùng của nhạc sĩ mang tên Lời ru chim Lạc.
Giữ ǵn tiếng hát ru cũng là bước đầu giữ ǵn
bản sắc dân tộc. Đă nhiều lần tôi nhận thấy rằng bản sắc dân tộc bị lu mờ, thanh
niên thích nghe nhạc nước ngoài hơn nhạc dân tộc là một căn bệnh măn tính. Muốn
trị bệnh ấy phải trị căn chứ không trị chứng. Và những phương thuốc tôi đề nghị
là:
+ Làm sống lại tiếng hát ru;
+ Tập trẻ em hát lại đồng dao hoặc những bài hát sáng tác theo truyền thống dân
tộc với nội dung phù hợp với trẻ;
+ Khuyến khích nông dân ḥ trong khi làm việc, hát trong lúc nghỉ ngơi;
+ Khuyến khích thanh niên hát những bài loại đối ca nam nữ;
+ Tổ chức những liên hoan dân ca cổ nhạc, những cuộc thi nhạc khí và tiếng ca
dân tộc;
+ Đem âm nhạc vào học đường, từ lớp mẫu giáo, tiểu học lên đến đại học;
+ Báo chí và các phương tiện truyền thông nên có nhiều bài viết, nhiều chương
tŕnh phát thanh, phát h́nh giới thiệu và giảng giải về âm nhạc dân tộc;
+ Tôn vinh những nghệ nhân cả đời phụng sự âm nhạc dân tộc.
Phải nghe thường mới thấm, phải học mới hiểu,
có hiểu mới thích, có thích mới thương, có thương mới muốn giữ ǵn, mới sẵn sàng
luyện tập biểu diễn và phổ biến. Như thế âm nhạc truyền thống mới thêm được sinh
lực và bản sắc dân tộc mới được giữ ǵn.
* Là người sống lâu năm ở nước ngoài, giáo sư
đánh giá thế nào về t́nh h́nh truyền bá văn hóa VN nói chung, âm nhạc cổ truyền
VN nói riêng đối với cộng đồng quốc tế thời gian qua? Chúng ta cần làm ǵ để làm
tốt hơn công tác này?
- Đến nay, theo tôi, chúng ta chưa làm thật tốt
công việc đó.
Chúng ta có thể truyền bá âm nhạc cổ truyền dưới nhiều dạng: đĩa hát, băng từ,
băng video, sách báo, chương tŕnh phát thanh, chương tŕnh truyền h́nh, chương
tŕnh trên mạng lưới Internet. Nhưng sống động và hiệu quả nhất là cho những
đoàn nghệ thuật dân tộc ra tŕnh diễn tại nước ngoài, với những chương tŕnh âm
nhạc dân tộc có chất lượng nghệ thuật, có lời giới thiệu khoa học, ngắn gọn mà
đầy đủ.
Chúng ta cần tạo điều kiện hơn nữa cho nghệ sĩ
đi dự liên hoan quốc tế, cho các nhà nghiên cứu đi dự hội nghị quốc tế về âm
nhạc, kịch nghệ. Văn hóa và âm nhạc của chúng ta được giới thiệu và thảo luận
trong các hội nghị quốc tế sẽ được có khi đến cả trăm nước tham dự hội nghị quan
tâm và thưởng thức.
* Xin cảm ơn giáo sư, chúc giáo sư luôn mạnh
khỏe để tiếp tục đóng góp nhiều hơn nữa cho việc ǵn giữ và phát huy âm nhạc
truyền thống của dân tộc.
VŨ ĐỨC TÂM (Đại sứ - đại diện thường trực VN
tại UNESCO)
Trích Tuổi trẻ online 29/05/04
|