|
Những kẻ nói láo hay nhất thế giới
(*)
Eduardo Galeano
Vài
lời giới thiệu:
Trước và trong lúc cuộc chiến Iraq vừa qua, Ahmed Chalabi là một đứa con cưng
của Pentagon. Trước khi Mĩ tấn công Iraq, Chalabi là người cung cấp cho
Pentagon những thông tin giả cho rằng Saddam Hussein có vũ khí tàn phá hàng
loạt, để Mĩ có cớ gây chiến tranh. Sau khi cuộc chiến tạm kết thúc, Chalabi
được Mĩ cho trở về Iraq sau hơn 30 năm lưu vong, với sự tiền hô hậu ủng của Mĩ,
và xuất hiện như một … người hùng! Nhưng cuộc đời có lúc lên voi xuống chó, và
Chalabi hiện đang trong thời đi xuống. Tin tức trong mấy ngày qua cho biết Mĩ
đang gạt Chalabi ra khỏi chính trường Iraq. Lí do? Mĩ không c̣n tin vào
Chalabi nữa, v́ họ cho rằng Chalabi và nhân viên của ông cung cấp thông tin
t́nh báo cho Iran. Sự nghiệp chính trị của một kẻ sống nhờ ngoại bang như
Chalabi được kết thúc một cách thê thảm, nhưng kể ra th́ Chalabi vẫn c̣n mạng
sống, tức là vẫn c̣n may mắn hơn Ngô Đ́nh Diệm nhiều. NV.
1.
Trong suốt 45 năm trời, Ahmad
Chalabi ăn bánh ḿ lưu vong. Để giải sầu, ông ta thành lập ngân hàng. Ngân
hàng có tên là Petra Bank, ở Jordan. Khi ngân hàng phá sản, Chalabi chuyển nơi
cư ngụ. Trên đường chuyển nhà, ông ta kiếm thêm 500 triệu Mĩ kim bằng cách cướp
tiền từ hàng ngàn cổ phần viên.
Năm 1992, Ṭa án Jordan xử Chalabi
phiếm diện và phạt 20 năm tù cùng với lao động khổ sai. Cũng năm đó, Đại hội
Quốc gia Iraq (Iraqi National Congress) ra đời ở London và Chalabi được phong
làm lănh tụ của phong trào dân chủ đối lập chống lại chế độ tàn bạo của Saddam
Hussein.
Những người trong ban hợp xướng
khắp thế giới tố cáo Chalabi làm việc cho, và lănh lương của, CIA. Một trong
những hành động đăng trí trong danh sách tội phạm của Chalabi là ông ta ăn cắp 4
triệu Mĩ kim.
Nhưng tất cả những tố cáo và tội
phạm này làm cho Chalabi mất chức vụ cố vấn cho các lực lượng xâm chiếm Iraq.
Sự cộng tác của Chalabi giúp cho những lực lượng này nói láo một cách thành thật
trong khi và sau cuộc tàn sát thường dân mà họ tiến hành. Và, Tổng thống Bush
khẳng định rằng Chalabi là một lựa chọn tốt. Xem chừng người đồng minh Chalabi
này cũng giống những người bạn của ông Bush trong công ti Enron.
Kể từ năm 1958, Chalabi chưa bao
giờ đặt chân xuống Iraq. Cuối cùng th́ ông cũng hồi hương. Ngày nay, ông là
một chiến lợi phẩm của liên quân xâm chiếm Iraq.
2.
Ở Afghanistan, chiến lợi phẩm mà
liên quân xâm chiếm ưa thích là Hamid Karzai, người đang giả bộ ḿnh là tổng
thống.
Trước Iraq, Afghanistan là một địa
điểm để dội bom trong trận chiến địa lí chống lại cái Ác vào đầu thiên niên.
Nhờ vào chiến thắng vang lừng của người xâm lăng, ngày nay Afghanistan có tự
do. Tự do cho những kẻ buôn bán á phiện.
Theo như nhiều tổ chức phi chính
phủ ở Âu châu và các cơ quan của Liên hiệp quốc, Afghanistan hiện nay là nguồn
cung cấp á phiện số 1 cho thị trường thế giới.
Theo ước tính của các cơ quan này,
trong năm đầu của cuộc giải phóng, sản lượng á phiện tăng gấp 18 lần (từ 185 tấn
đến 3,400 tấn, hay tương đương với 1.2 tỉ Mĩ kim). Và vẫn c̣n tăng trưởng.
Ngay cả Tony Blair cũng ghi nhận sự kiện này: 90 phần trăm á phiện đang tiêu thụ
ở Anh xuất phát từ Afghanistan.
Chính phủ của Hamid Karzai chỉ kiểm
soát chung quanh thành phố Kabul. Chính phủ này đang bị Washington buộc dây
chặt chẽ. Trong số 16 bộ trưởng của chính phủ của Karzai, 10 người mang hộ
chiếu Mĩ. Và, ngay cả Karzai cũng là một cựu nhân viên cho công ti dầu hỏa
Unocal của Mĩ. Karzai sống nhờ vào bảo vệ của lính Mĩ, những người ra lệnh cho
ông phải làm ǵ và quan sát từng bước đi và giấc ngủ của ông.
Kẻ xâm lăng đáng lẽ chỉ ở lại 2
tháng, nhưng cho đến nay họ vẫn c̣n ở đó. Đây là lí do tại sao: Các chiến sĩ
liêm khiết trong cuộc chiến á phiện đă thành lập hệ thống thương mại ở
Afghanistan để bảo đảm tự do trồng thuốc, tự do buôn bán, và tự do vượt biên
giới.
Trong công cuộc tái kiến thiết đất
nước điêu tàn này, ít ai nói đến cái tên Ahmed Karzai, người em của ngài tổng
thống ảo. Gần đây, ông em này than thở: “Họ [người Mĩ] đă làm ǵ cho chúng ta?
Một con số không. Dân chúng kiệt quệ và tôi không biết phải nói ǵ với họ.”
3.
Quĩ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân
hàng Thế giới (World Bank) không có tên lửa để phóng; họ có các vũ khí khác để
bỏ bom và chinh phục các xứ sở đă phá sản.
Sau khi rút ruột Argentina, hai tổ
chức này đầu năm nay gửi một phái đoàn đặc biệt để xem xét tài khoản của
Afghanistan. Một trong những thành viên của phái đoàn cảnh sát tài chính này,
Jorge Baca Campodonico, được giao cho trọng trách thuế vụ.
Ông ta là một chuyên gia về thuế vụ
và trốn thuế. Ở Peru quê ông, chính phủ có lệnh truy nă bắt ông v́ các tội
liên quan đến thuế má. Có lần ông ta vừa đặt chân đến phi trường Buenos Aires,
ông liền bị Interpol bắt giam ngay. Thế nhưng IMF nhảy vào can thiệp và tiêu ra
hàng triệu đô để kéo ông ra ngoài làm việc cho họ.
4.
FIFA, tổ chức bóng đá thế giới, là
một IMF của bóng đá: Tổ chức này giám sát sự công bằng và liêm chính trong bộ
môn thể thao số một này trên thế giới.
Ricardo Teixeira đem cái sứ mệnh
cao cả đó đến Brazil. Người quyết định sứ mệnh đó là Joao Havelange, từng là
vua của FIFA và c̣n là bố vợ của Teixeira. Brazil là nơi sản sinh ra những cầu
thủ cừ khôi thế giới, là mảnh đất cho các huấn luyện viên triệu phú, và các đội
banh thất bại.
Cuối năm 2001, sau nhiều năm điều
tra và 2,400 trang báo cáo của hai ủy ban kiểm tra, Thượng nghị viện Brazil yêu
cầu đưa Teixeira và 16 người khác ra ṭa. Thượng nghị sĩ Alvaro Dias tuyên bố:
“Liên đoàn bóng đá Brazil là một ổ tội phạm, vô tổ chức, hỗn loạn, bất tài, và
bất lương”.
Thế rồi Joseph Blatter, người mới
lên ngôi cai trị FIFA từ
Havelange, đe dọa đuổi Brazil ra khỏi Giải bóng đá 2002 nếu chính phủ Brazil cứ
tiếp tục can thiệp vào nội bộ của Liên đoàn bóng đá Brazil.
Ủy ban điều tra của Thượng nghị
viện Brazil tố cáo Teixeira biển thủ tiền bạc, chuyển tiền bất hợp pháp, trốn
thuế, giả tạo tài liệu, và 20 tội phạm khác. Thành công lớn nhất của Teixeira
là lèo lái nền bóng đá thành công nhất thế giới thành một nền bóng đá vào thời
ḱ báo động đỏ.
Teixeira vẫn là ông hoàng của bóng
đá Brazil. Hơn thế nữa, ông ta c̣n giữ một chức vụ rất quan trọng trong hệ
thống tổ chức của FIFA: Ông ta là thành viên của ủy ban công lí của FIFA.
5.
Giải thưởng thế giới mà nhiều người
thi nhau chiếm giải ở thị trấn Moncrabeau (Pháp) chẳng dính dáng ǵ đến bóng đá,
mà là một cuộc tranh tài xem ai là người nói láo hay nhất trên thế giới. Thí
sinh thề là họ chỉ nói láo, không ǵ khác hơn là nói láo.
Trong những thí sinh dự thi nói láo,
người ta không thấy ai nhắc đến cái tên Silvio Berlusconi của Ư hay Carlos Menem
của Argentina. Hai người này không đi tranh tài. Ai có thể thắng họ trong tṛ
nói láo. Cả hai chưa bao giờ nói thật, và làm nên sự nghiệp bằng nói láo, không
ǵ ngoài khác nói láo.
Để tránh khỏi mạng lưới pháp luật,
Menem chỉ đơn giản mua luật pháp: Ông ta mua luật pháp bằng tiền mà ông ta bán
Argentina cho IMF và Ngân hàng thế giới. C̣n Berlusconi th́ ông ta tự làm ra
luật và tự thông qua luật ḿnh làm ra: Ông ta hủy bỏ luật cũ và thay thế bằng
luật mới, y như là nhà may áo nổi danh người Ư.
Berlusconi vẫn c̣n tại quyền. Menem
th́ đang thất nghiệp.
Nhưng sớm hay
muộn th́ ông ta sẽ tái xuất hiện để phục vụ cho nhân loại, có thể phụ trách một
tổ chức thế giới nào đó chuyên chống tham nhũng hay buôn bán vũ khí hay á phiện.
Uy tín của ông th́ khỏi chê. Có ai có uy tín và kinh nghiệm như ông?
(*)
Nguyễn Văn lược dịch từ bài viết “The Greatest Liars” của Eduardo Galeano, đăng
trên tờ Z Managine, số ra ngày 14/8/2003. Eduardo Galeano là một nhà thơ và nhà
báo nổi tiếng của Uruguay.
|