|
BẠN CÓ BIẾT?
Tác dụng của
KHẨU TRANG và MẶT NẠ BẢO VỆ
Nguyễn Đ́nh Nguyên
PHẦN III
và hết
KHẨU TRANG BẢO VỆ AI
VÀ AI PHẢI ĐEO KHẨU TRANG
Phải nói ngay rằng
mục tiêu xuyên suốt trong công tác pḥng chống nhiễm trùng là kiểm soát nguồn
bệnh tránh lây lan ra bên ngoài- môi trường bệnh viện, và ra ngoài cộng đồng nếu
là bệnh dịch. Như vậy đối tượng cần phải bảo vệ là nhân viên y tế, những người
chưa mắc bệnh, dân chúng bên ngoài. Ngoài các biện pháp như chẩn đoán sớm, cách
ly tốt, chế độ chăm sóc theo kỹ thuật cách ly tốt, điều trị đặc hiệu, tiệt trùng,
xử lư chất thải tốt th́ trong đó có một khâu nữa là thiết bị bảo vệ cá nhân,
trong đó một phần có khẩu trang, đó là nguyên tắc chung để kiểm soát nhiễm trùng.
Vậy ai là đối
tượng phải đeo khẩu trang:
Bất kỳ một nguyên
nhân gây bệnh nào có lây truyền theo đường không khí như Lao, th́ một cái ho hay
hắt x́ cũng có thể phóng thích nguồn bệnh này vào không khí, và người hít có thể
bị nhiễm.
Lấy một thí nghiệm
vật lư rất đơn giản, là dùng miệng thổi mạnh hoặc ho thật mạnh, một người trung
b́nh cũng có thể ho tắt một cây nến để xa cách miệng 1 mét. Nếu ta làm ngược lại,
tức là cũng dùng miệng để hút mạnh vào, có lẽ chúng ta chỉ bị cháy râu hoặc cháy
mũi mà cây nến cũng vẫn không hề ǵ. Thí nghiệm này cho ta thấy rằng, khả năng
người bệnh phóng thích ra vi trùng là mạnh hơn khả năng người bị hít phải vi
trùng. Vậy việc mang khẩu trang cho người bệnh là hoàn toàn hợp lư v́ ít ra cũng
giảm được lượng vi trùng gây bệnh vào môi trường xung quanh, ngoài các biện pháp
quản lư bệnh nhiễm trùng. Lấy thí dụ ở bệnh Lao nêu trên, con vi khuẩn Lao có
kích thước 0.5 x 3 micromet, màng lọc của mặt nạ n-95 có khả năng lọc được 95%
các phần tử có kích thước 0.3micromet, th́ khi bệnh nhân đeo khẩu trang, cũng có
thể ngăn ngừa khá tốt nguồn phóng thích vi trùng c̣n hoạt tính lây lan.
Thứ hai là những
người tiếp xúc gần bệnh nhân, trong môi trường kín như pḥng bệnh nhân lao vẫn
c̣n có khả năng lây lan- như nhân viên y tế, người nhà đến thăm, là những đối
tượng có nguy cơ phơi nhiễm lớn tiếp xúc cao, nên việc mang các thiết bị bảo vệ
cá nhân, tuỳ theo loại bệnh, mức độ lây lan mà có các yêu cầu mang các thiết bị
bảo vệ cá nhân (PPE, personal protective equipment) khác nhau chứ không chỉ đơn
thuần là cái khẩu trang, hay mặt nạ.
Ngược lại thí nghiệm
trên cũng cho ta thấy, khi hít vào th́ không khí đi vào trong đường mũi họng
không phải đi một con đường thẳng và đến từ nhiều hướng, nên việc hít phải một
mầm lây bệnh không phải là chuyện dễ dàng. Đó là chưa kể phải xác định: thời
gian tồn tại của tác nhân trong không khí, độc lực gây bệnh khi vào môi trường
như thế nào, mật độ tác nhân trong môi trường như thế nào, phải nhiễm bao nhiêu
mới bị, độ gần bao nhiêu mới nhiễm. C̣n đằng này ngoài công chúng việc chỉ đeo
mỗi cái khẩu trang hay mặt nạ không không những chẳng thể có tác dụng tốt hơn mà
có khi c̣n phản tác dụng.
Cũng theo một định
luật vật lư, định luật Bernulli áp suất sẽ tăng lên khi chất lỏng hay khí di
chuyển từ ḷng ống rộng sang ḷng ống có kích thước hẹp hơn. Chuyện áp dụng ở
đây rất dễ h́nh dung là gió lùa qua khe cửa, tốc độ càng nhanh, độ lùa mạnh khi
cửa càng hẹp. Nếu đem áp dụng vào cái khẩu trang, nếu ta đeo cái khẩu trang b́nh
thường th́ hằng hà các lỗ lưới trống, việc không khí tự do ra vào cũng chẳng
khác chi không mang; chứ đừng nói ǵ những khe “gió lùa” chết người là những
khoảng hở giữa khuôn mặt với chiếc khẩu trang. Nếu như trong không khí có những
vi rút có khả năng lây lan theo kiểu này th́ cái màng lọc của khẩu trang ấy
chẳng khác ǵ một cái cửa rộng mở cho những con vi rút bay ra bay vào tự do.
Mang mặt nạ? Có thể, v́ độ lọc của nó đạt đến kích thước 0.3micromet theo tiêu
chuẩn của NIOSH đánh giá cho loại N-95. Thế nhưng kích thước của con vi rút chỉ
được tính bằng đơn vị nanomet. Thí dụ con vi rút cúm influenza H1N1 có kích
thước từ 80-100nanomet th́ cái mặt nạ kín mít (v́ bệnh nhân bị khó thở đeo vào
có thể bị suy hô hấp nặng lên) ấy có mắt lưới lớn gấp ba lần con vi rút này.
Cũng cho là tạm, v́ nó quá kín, khớp chặt vào mặt nên yên tâm về mặt “gió lùa”.
Nhưng những khe “vi hở” trên khuôn mặt chúng ta sẽ đến từ các sợi râu, sợi lông
mặt. Râu chúng ta rất cứng, và có tốc độ mọc không dưới 10micromet/giờ. Như vậy
nếu nam giới cạo sạch mặt, đeo mặt na, sau một giờ sẽ có hàng hàng trăm khe vi
hở này với kích thước 10micromet, rộng gấp 100 lần con vi rút cúm H1N1 trên, và
với con Coronavirus nếu có là nguyên nhân chính thức của SARS th́ cái kẽ vi hở
đó cũng lớn không ít hơn 100 lần so với vi rút này (kích thước từ 80 đến
160nanomet)!
Đó là chưa kể việc
chúng ta không nắm hết được các nguyên tắc sử dụng khẩu trang và mặt nạ, th́
việc lợi bất cập hại, có khi chúng ta bị nhiễm bệnh v́ chính cái khẩu trang của
chúng ta có thể sẽ trở thành cái ổ chứa một vi trùng nào khác nữa cũng nên.
Chưa hết, đến việc
có thể các con đường lây truyền khác mà chúng ta chưa được biết, trong đó con
đường dính vào các chất dịch tiết là không thể loại trừ. Một khi tác nhân có khả
năng lây lan qua đường mũi họng th́ các đường khác như mắt qua niêm mạc mắt, tai
cũng khó mà loại trừ được.
Trong khi chúng ta
chỉ chăm chăm vào cái khẩu trang mà quên qúa nhiều các bộ phận phận khác trong
cơ thể chúng ta hoàn toàn trong t́nh trạng bị phơi nhiễm toàn bộ (total
exposure), mà cụ thể nhất là đôi tay. Chính đôi tay mới là cầu nối trung gian
trong việc đưa các tác nhân là dịch tiết rơi văi, đụng chạm vào trong cơ thể
nhanh nhất. Mang mặt nạ mà ở những vùng nhiệt đới hay cận nhiệt đới là chuyện
không đơn giản, chỉ cần 10 phút là đă ẩm ướt, khó chịu, một động tác đưa tay lên
găi, day trở cái khẩu trang/mặt nạ th́ cũng có thể đưa thẳng tác nhân gây bệnh
vào cơ thể chúng ta ngay tức khắc nếu tay chúng ta bị nhiễm loại vi rút có khả
năng lây lan theo đường sờ mó và qua mũi họng, niêm mạc mắt v..v…
Chỉ có một cách
“tránh phơi nhiễm tuyệt đối” (absolutely unexposed) với tác nhân gây bệnh qua
đường không khí với độc lực mạnh và khả năng lây cao là chúng ta phải mạng mặt
nạ cấp khí, đeo găng tay chống thấm, mặc quần áo như một nhà du hành vũ trụ.
C̣n cái khẩu trang
hay mặt nạ có tác dụng ǵ trong cộng đồng để tránh các bệnh lây nhiễm qua đường
không khí hay không, chúng ta tự cho ḿnh một kết luận hoặc có thể biện hộ theo
lư luận của ḿnh.
KHẨU TRANG và MẶT NẠ
VỚI HỘI CHỨNG HÔ HẤP CẤP TÍNH THỂ NẶNG (SARS)
Cho đến hiện nay,
khi bài này được viết th́ chúng ta vẫn chưa biết tác nhân gây SARS chính xác là
ǵ cả, ngoài việc thiên về một tác nhân thuộc họ Coronavirus, có thể là một loại
gây bệnh ở vật vượt rào cản chủng loại nhảy sang lây bệnh ở người, có thể là một
sự đột biến của vi rút thông thường có độc lực mạnh hơn. Nhưng v́ là bệnh mới
dấy lên nên mọi hiểu biết về bệnh vẫn chưa đầy đủ. Con đường lây truyền cho đến
nay cũng chưa rơ thêm hơn, ngoài một cách được thấy rơ là tiếp xúc thật gần với
các chất dịch tiết ra hoặc rơi văi của bệnh nhân mắc SARS [12].
Như vậy mọi sự bàn
luận thêm về SARS đều là mơ hồ, thiếu khoa học. Tuy nhiên, dù là tác nhân nào,
những phân tích về tác dụng của chiếc khẩu trang đối với bệnh lây lan theo đường
không khí trên đây đều chỉ dựa trên cơ sở của nguyên tắc pḥng chống bệnh nhiễm
trùng chung, cũng như những vận dụng cơ bản không liên quan ǵ đến SARS. Vàø có
lẽ nguyên nhân mới gây SARS cũng không là một sự ngoại lệ.
Cho đến nay
TCYTTG-một đại diện chuyên môn cao nhất thế giới vẫn không có thay đổi khuyến
cáo của ḿnh trong hướng dẫn quản lư bệnh nhân SARS là” Phải hạn chế di chuyển
bệnh nhân SARS đến mức tối đa. Trong trường hợp phải di chuyển th́ bệnh nhân
phải mang mặt nạ N-95, nếu bệnh nhân không mang được [v́ suy hô hấp] th́ nhân
viên di chuyển bệnh nhân phải mang” [13], cũng như các biện pháp bảo vệ cho
những nhân viên y tế chăm sóc, tiếp xúc, xử lư chất thải, bệnh phẩm của bệnh
nhân SARS, và thân nhân đến thăm. Chứ chưa có một khuyến cáo là người dân cần
phải đeo khẩu trang để pḥng chống SARS cả. Và hầu hết các khuyến cáo từ các tổ
chức chuyên môn cao nhất của các nước như Mỹ, Hồng Kông cũng đều khuyến cáo như
vậy [14, 15]
|
 |
|
Nguy cơ
SARS ở đây! |
Ấy thế mà, người dân
khắp nơi từ Mỹ đến Á đều nhất loạt bấu víu vào chỗ cứu cánh là từ chiếc khẩu
trang đến cái mặt nạ. Chỉ trong một ngày công ty AnyMask đă bán sạch 1000 hộp
mỗi hộp 50 chiếc khẩu trang qua internet; hay công ty 3M đă phải làm ca 24 giờ/ngày
v́ đơn đặt hàng khẩu trang lên đến hàng ngh́n [16]. Câu chuyện c̣n lên cơn sốt
hơn khi có nghi ngờ bệnh có khả năng lây lan qua đường không khí. Đă thế xem
cách thức sử dụng khẩu trang th́ có lẽ nguồn nguy cơ lây lan lại chính là chiếc
khẩu trang cũng nên. Ngoài ra cũng nhiều trường hợp c̣n làm chuyện qua loa cho
có là đi ngoài đường đưa tay bịt chặt lấy mũi miệng th́ không bàn cũng đă thấy
nguy cơ của việc nhiễm bệnh như thế nào, ngoài SARS. Chuyện đáng nói hơn là
không chỉ người dân thiếu kiến thức, thiếu thông tin, mà chính những cơ quan có
thẩm quyền cũng như cơ quan Y tế cũng có khuyến cáo cho dân chúng phải mang
khẩu trang. Một trang nhà của giới Bác sĩ Mỹ cũng có một phần về SARS , có giải
thích biện pháp pḥng chống SARS :” rửa tay thường xuyên, vứt bỏ khăn giấy sau
khi dùng để x́ mũi, lau mặt, ho đúng cách, tránh tiếp xúc giáp mặt với người
bệnh”, nhưng ngay dưới đó là Một quảng cáo “Để giảm nguy cơ SARS DoctorSolve chỉ
c̣n có giới hạn khẩu trang và găng tay mà thôi” [17], rất mơ hồ và hấp dẫn!. Đội
đặc nhiệm (Task Force) chống SARS của Viện Đại học Trung quốc ở H?ng Kông (CUHK)
đă ban hành chính sách “TẤT CẢ mọi người PHẢI đeo khẩu trang trong khuôn viên
CUHK [18].
|
 |
|
Không phải chú bé này dũng cảm, nhưng chú có thể hiểu rằng chẳng cần ǵ khẩu
trang! |
Quay trở lại những
điều đơn giản về cách thức giữ vệ sinh chung, như rửa tay sạch với xà pḥng b́nh
thường, giữ vệ sinh cá nhân như dùng khăn tay để x́ mũi, che miệng mũi khi hắt
hơi, giữ ǵn vệ sinh nơi công cộng, tắm rửa sạch khi về nhà là những phương thức
vệ sinh cổ xưa thông thường mà rất hiệu quả. Trong mùa dịch thông tin và khuyến
cáo của các tổ chức Y tế thẩm quyền cấp quốc tế là TCYTTG rất quan trọng, v́ ở
đó là nơi có thể tập hợp được các chuyên gia hàng đầu về y tế của thế giới, nên
những khuyến cáo đưa ra đều dựa trên cơ sở dữ liệu hiện hành và có bàn thảo kỹ
cũng như có tính khoa học.
C̣n về SARS hay bất
kỳ một nguyên nhân gây bệnh nào khác, cũng chỉ là một trong rất nhiều nguy cơ
cho sức khoẻ của mỗi người chúng ta. Các nguy cơ này không phân biệt đẳng cấp,
địa vị trong xă hội, biên giới địa lư, chỉ có điều khác nhau về loại nguy cơ và
tần suất nguy cơ mà thôi. Việc quá chú tâm vào một nguy cơ tưởng như “chết người”
có thể ta lại bị xao lăng các nguy cơ khác tưởng như vô hại, nhưng lại có thể
trở thành mối đe doạ ngay tức thời. Lo lắng quá mức, cũng là một nguy cơ cho sức
khoẻ. Một hơi thuốc lá sau một vài giờ “đánh vật” với chiếc khẩu trang có khi
lại là một nguy cơ cao hơn SARS cũng nên. Và người bị hít phải khói thuốc đó c̣n
có nguy cơ cao hơn hít phải bầu không khí ở Hồng Kông lúc này!
NĐN 06/04/2003
Bài liên hệ:
Khẩu trang phần I
Khẩu trang phần II
Tài liệu tham khảo:
1. Centers for
Disease Control and Prevention. Guidelines for preventing the transmission of
Mycobacterium tuberculosis in health care facilities,
1994. MMWR 1994;43(No. RR-13):1-132.
2. Wenger PN, Otten
J, Breeden A, Orfas D, Beck-Sague CM, Jarvis Wm. Control of nosocomial
transmission of multidrug-resistant Mycobacterium tuberculosis
among healthcare workers and HIV-infected patients. Lancet 1995;345:235-40.
3. Maloney S,
Pearson M, Gordon M, Del Castillo R, Boyle J, Jarvis WR. Nosocomial multidrug-resistant
tuberculosis revisited: assessing the efficacy of recommended control measures
in preventing transmission to patients and health care workers. Ann Intern Med
1995;122:90-5.
4. Dooley SW,
Jarvis WR, Snider DE. Mycobacterium tuberculosis. In:
Hospital epidemiology and infection control. Baltimore: Williams & Wilkins;
1996. p.1220.
5. Jarvis WR,
Bolyard EA, Bozzi CJ, et al. Respirators, recommendations, and regulations: the
controversy surrounding protection of health care workers from tuberculosis. Ann
Intern Med 1995;122:142-6.
6. Nettleman MD,
Frederickson M, Good NL, et al. Tuberculosis control strategies: the cost of
particulate respirators. Ann Intern Med 1994;121:37-40.
7. Kellerman S,
Tokars JI, Jarvis WR. The costs of complying with CDC tuberculosis guidelines at
hospitals with a history of multidrug-resistant Mycobacterium
tuberculosis outbreaks [abstract]. Infect Control Hosp Epidemiol
1996;17:17.
8. Fennelly KP.
Personal respiratory protection against mycobacterium tuberculosis. Clin Chest
Med 1997;18:1-17.
9. Woeltje KF.
Tuberculosis: What you don't know can hurt you. Infect Control Hosp
Epidemiol 1998;19:626-8
10.
Laura Gammaitoni and Maria Clara Nucci,
Using a Mathematical Model to Evaluate
the Efficacy of TB Control Measures.
http://www.cdc.gov/ncidod/eid/vol3no3/dl_nucci.htm
11. Xem các tin cập
nhật về SARS của Tổ chức Y tế thế giới www.who.int/en
13. Xem hướng dẫn
của TCYTTG về quản lư bệnh nhân SARS.
14. Xem thông tin
trang nhà của Trung tâm Kiểm soát và Pḥng chống Bệnh tật Mỹ (CDC) http://cdc.gov/ncidod/sars/infectioncontrol/en/,
truy nhập 05/04/2003.
15. Xem thông tin ở
trang nhà của chính phủ Hồng Kông: Aypical Pneumonia - Frequently Asked
Questions, http://www.info.gov.hk/dh/diseases/ap/english/faq.htm, và Wearing
Facemask, http://www.info.gov.hk/dh/diseases/ap/english/faq.htm, truy nhập
05/04/2003
16.
Sales of masks, air
filters soar as SARS spreads, USAToday
17. Xem trang nhà
của DoctorSolve, http://www.doctorsolve.com/sars.htmrl
18. Xem Chính sách
đeo khẩu trang trong khuôn viên CUHK http://cuhk.edu.hk/sars/policyonwearingmask.htmrl,
truy nhập 05/04/03
|