|
Nội thù thoát lưới
Nguyễn
Văn
Liên quan đến t́nh h́nh chiến sự ở Iraq, ba cuốn
sách mới xuất bản trong tháng qua cho chúng ta thấy rơ hơn những suy nghĩ của
giới cầm cán cân chiến tranh ở Nhà Trắng. Cuốn thứ nhất, Plan of Attach
(Kế hoạch tấn công) của Bob Woodward, kí giả và tác giả của cuốn sách bán chạy
một thời gian, Bush at War. Plan of Attack (1), cũng như Bush
at War, là một tập tài liệu nội bộ của bộ máy chiến tranh trong chính phủ
Bush liên quan đến 16 tháng trước khi Mĩ bắt đầu dội bom xuống Iraq. Qua tiết
lộ của Woodward trong sách, ông Bush đă có ư định tấn công Iraq từ sau vụ khủng
bố 11/9/01. Ngày 21/11/01, tức chỉ 72 ngày sau vụ khủng bố, ông Bush đă ra chỉ
thị cho Bộ trưởng quốc pḥng Donald Rumsfeld (và tướng Tommy Franks) lên kế
hoạch tấn công Iraq. Ư định này được giữ kín đến nổi chỉ có Phó tổng thống Dick
Cheney (người được xem là chủ chiến nhất trong cánh diều hâu ở Nhà Trắng) được
biết tin này; những người bị “bỏ rơi” là George Tenet (Giám đốc trung tâm t́nh
báo CIA), Condoleezza Rice (Cố vấn an ninh quốc gia), và thậm chí Colin Powell
(Bộ trưởng ngoại giao).
Woodward c̣n cho biết những sự kiện phía sau hậu
trường như mối bất ḥa giữa Colin Powell và Dick Cheney, đến nỗi hai người có
lúc không thèm nói chuyện với nhau. Ông Powell cho rằng ông Cheney quá bận tâm
đến việc đánh Iraq, và muốn chứng minh rằng Iraq có dính dáng đến vụ khủng bố
hôm 11/9/01, mà Powell cho là một bận tâm “kém lành mạnh”. Woodward nói một
cách ví von rằng “Powell thought Cheney had the fever” – “Powell nghĩ rằng
Cheney bị sốt”.
Trong sách, Woodward cho thấy ông
Bush là một người rất sùng đạo. Ông Bush cho biết ông cầu Chúa sau khi ra lệnh
tấn công Iraq. Có lẽ một câu nói bộc lộ nhất của Bush là: “Tôi chắc chắn không
lấy Thượng đế để biện minh cho chiến tranh, nhưng tôi cầu nguyện, xin Chúa cho
làm một sứ giả của Ngài”.
Khi được hỏi lịch sử sẽ phán xét ông như thế
nào, Bush trả lời: “Lịch sử? Chúng ta không biết. Lúc đó th́ chúng ta đều chết
cả rồi.” Khi được hỏi ông có tham vấn ông bố (Bush cha) không, th́ George W.
cho biết: “Anh biết không, ông ấy là một người cha nhầm … tôi có một người cha
cao hơn mà tôi phải cầu khẩn.”
Trong The Price of Loyalty (tạm dịch: (Cái
giá của ḷng trung thành) của Ron Suskind, một kí giả từng đoạt giải
Pulitzer, tác giả đă cung cấp cho chúng ta cơ chế vận hành trong bộ máy chiến
tranh, cũng như các chính sách đă được h́nh thành như thế nào trong nội các của
Tổng thống George W. Bush. Thực ra, The Price of Loyalty (2) là câu
chuyện của Paul O’Neill, một “cận thần” của chính phủ Bush trong vai tṛ Bộ
trưởng kinh tế (Secretary of the treasury). Trước khi tham gia chính phủ Bush,
O’Neill là sếp của đại công ti Alcoa; và trước đó, O’Neill từng giữ những trọng
trách trong chính phủ của Richard Nixon, Gerald Ford. Nhưng đến thời Bush, chỉ
sau một thời gian ngắn trong vai tṛ Bộ trưởng kinh tế, O’Neill bị sa thải. Lí
do? V́ O’Neill dám cả gan nói thật những ǵ ḿnh nghĩ với Tổng thống Bush.
Theo Suskind, O’Neill đă vi phạm một nguyên tắc của Bush. Nguyên tắc đó là phải
tuyệt đối trung thành với ngài tổng thống.
Trong thời gian 18 tháng tại chức
trong chính phủ Bush, O’Neill tham gia vào hầu hết các cuộc thảo luận quan trọng
liên quan đến chính sách đối nội và đối ngoại của Nhà Trắng. O’Neill là một
người tự lập, rất nổi tiếng trong giới thương gia và chính khách là người chịu
khó lắng nghe ư kiến người khác, và dùng lí trí để giải quyết vấn đề. Khuynh
hướng dùng lí trí của O’Neill là một mâu thuẫn trực tiếp với George W. Bush,
người được xem là xử sự theo cảm tính, và bị chi phối bởi hai vấn đề: chiến
tranh pḥng ngừa (pre-emptive war) và giảm thuế. Trong sách, Suskind trích dẫn
câu nói nổi tiếng của O’Neill: “Ideology is easier, because you don’t have to
know anything or search for anything. You already know the answer to
everything. It’s not penetrable by facts. It’s absolutism” (tạm dịch: “Có
được ư thức hệ là điều khá dễ, bởi v́ người ta không cần phải biết điều ǵ hay
phải mất công t́m kiếm cái ǵ. Sự thật không xâm nhập vào ư thức hệ được. Ư
thức hệ là một sự chuyên chế.”
Một điều trớ trêu là O’Neill chính
là bạn thân của Dick Cheney (Phó tổng thống) và Donald Rumsfeld (Bộ trưởng quốc
pḥng), hai trong những người diều hâu nhất trong chính phủ Bush. Thế nhưng
O’Neill không thể nào đồng t́nh với đường hướng pha trộn giữa theo đuổi ư thức
hệ và chính trị quần chúng. Chỉ một thời gian làm việc trong chính phủ Bush,
O’Neill biết rằng ḿnh đang ở trong t́nh trạng “đồng sàng dị mộng” với những
người như Karl Rove và Karen Hughes. (Rove là chiến lược gia cho Bush trong
thời vận động tranh cử tổng thống, và Hughes là giám đốc truyền thông cho
Bush). O’Neill cho rằng Bush đang bị quay quần với một nhóm “pháp quan” hay
nịnh thần gồm có Cheney, Rove, Hughes, và thỉnh thoảng kể cả Cố vấn an ninh quốc
gia Condoleezza Rice.
Trong sách, Suskind viết về hành
tŕnh của O’Neill ngay từ lúc mới đặt chân cho đến lúc rời Nhà Trắng. Khi
Suskind t́m đến O’Neill để viết cuốn sách này, O’Neill sẵn sàng cung cấp tài
liệu cho ông. Trong số tài liệu này có cả một cuốn nhật kí gồm 7630 mục từ và
một CD-ROM với hàng ngàn tài liệu của Bộ kinh tế. Sau đó, Suskind c̣n dành ra
hàng trăm giờ để phỏng vấn O’Neill và nhân viên của O’Neill. Khi xong bản thảo,
Suskind c̣n cho O’Neill xem lại và sửa chữa những chỗ nào không chính xác. Do
đó, cuốn sách này, cùng với cuốn Bush At War (của Bob Woodward) là một
tài liệu có giá trị về cơ chế làm việc của chính phủ Bush.
Có thể trích dẫn trong sách hai nhận
xét nổi tiếng (và có thể nói là ấn tượng) nhất. Thứ nhất là câu nói của Cheney
(trả lời nhận xét của O’Neill rằng giảm thuế có thể làm thiếu hụt ngân sách):
“Reagan proved deficits don’t matter” (Ông Reagan từng chứng minh rằng thâm
thủng [ngân sách] không phải là vấn đề). Thứ hai là nhận xét của O’Neill về
Tổng thống Bush trong pḥng họp của Nhà Trắng như là một người mù trong một
pḥng gồm toàn những người điếc (“a blind man in a room full of deaf people”).
O’Neill cảm thấy lo lắng v́ các cuộc họp như thế không có những tranh luận, hay
thảo luận, mà chỉ là những báo cáo đă được nhân viên Nhà Trắng chuẩn bị từ
trước. Các bộ trưởng trong nội các đều nhận được tài liệu trước mà trong đó họ
được khuyên là nên nói hay làm ǵ, nói bao lâu, và nói vào lúc nào. O’Neill c̣n
cho biết trong các cuộc họp với ông, Bush thường không đặt câu hỏi nào với ông.
O’Neill cho biết ông rất ngạc nhiên
là chính sách lật đổ chế độ Saddam Hussein đă từng được đưa lên thành chương
tŕnh nghị sự ngay trong tuần lễ đầu khi Bush mới nắm chính phủ. Nhiều tháng
trước ngày 11/9/01, kế hoạch đánh chiếm Iraq đă được đưa ra bàn thảo tại Nhà
Trắng. Dù O’Neill đă bị Bush sa thải vài tháng trước khi Mĩ xâm lăng Iraq, khi
Bush bắt đầu huy động quân đội, O’Neill nói với Suskind rằng: “Tin tôi đi, họ
chưa suy nghĩ đến nơi đến chốn đâu.” Những diễn tiến trong vài tháng qua ở Iraq
cho thấy nhận xét của O’Neill hoàn toàn có cơ sở.
Tổng thống George W. Bush và những
người thân cận ông thường hay tự hào rằng Chính phủ họ là chính phủ chống khủng
bố. Cụm từ “War on Terror” đă trở thành một thứ lời nói cửa miệng ngày nay.
Thế nhưng, trong cuốn Against All Enemies (Chống tất cả kẻ thù
(3)) Richard A. Clarke lại cho chúng ta một h́nh ảnh hoàn toàn khác. Clarke cho
rằng chính phủ Clinton, chứ không phải chính phủ Bush, mới là chính phủ chống
khủng bố.
Năm 2001, Clarke cho rằng chính phủ
George W. Bush sao lăng mối đe dọa của al-Qaeda. Họ (chính phủ Bush) bác bỏ bất
cứ cái ǵ mà Clinton ủng hộ; Condoleezza Rice th́ chú tâm vào chuyện tên lửa
chống tên lửa đạn đạo (anti-ballistic missile); Cheney, Rumsfeld và Paul
Wolfowitz th́ nhất định t́m cách lật đổ Saddam Hussein ở Iraq. Chính phủ Bush
bỏ ngoài tai những cảnh báo về mối đe dọa của al-Qaeda. Cho đến ngày 11/9/2001
và sau đó th́ họ lại đổ thừa cho chính phủ của Clinton là đă coi nhẹ vấn đề
al-Qaeda. Nhưng Clarke chứng minh rằng đó là một sự chạy tội, bởi v́ chính
Clinton đă tăng ngân sách chống khủng bố và chính Clinton phê chuẩn bất cứ đề
nghị chống khủng bố nào mà Clarke và cộng sự viên đưa ra.
Trong sách, Clarke chứng minh một
cách thuyết phục
rằng vào cuối thập niên 1990s, chính phủ của
Bill Clinton và Albert Gore có thái độ “rất diều hâu” trong việc chống khủng
bố. Thời đó, Clinton và Gore hạ quyết tâm tiêu diệt al-Qaeda. Nhưng họ bị CIA
và Lầu Năm Góc (Pentagon) ngăn cản v́ CIA cho rằng biện pháp của Clinton và Gore
quá nguy hiểm.
Nhưng Clarke không phải là người tả
khuynh. Ngược lại là đằng khác. Clarke chống al-Qaeda từ lâu, và muốn hạ bệ
Saddam Hussein từ cuộc chiến vùng Vịnh lần đầu (1990-1991). Clarke ủng hộ và đề
nghị FBI có thêm quyền lực. Clarke chống lại Ṭa án h́nh sự quốc tế, và chống
lại Nghị định Kyoto. Có thể nói Richard Clarke là một dân diều hâu, nhưng ngay
cả diều hâu Clarke cũng cảm thấy khó phục vụ cho Bush.
Against All Enemies c̣n là
một cuốn sách viết về lịch sử 25 năm chống khủng bố, bắt đầu từ cuộc cách mạng ở
Iran và cuộc xâm lăng vào A Phú Hăn của Liên Xô trong thập niên 1980s. Đọc nó,
người ta có cảm tưởng như du hành vào một thế giới chằng chịt của mạng lưới
khủng bố al-Qaeda và đồng minh của họ, cùng những câu chuyện li ḱ trong giới
phản gián.
Trong sách, có một đoạn liên quan
đến Úc và vẫn c̣n mang tính thời sự. Vào năm 1991, trong khi cuộc chiến vùng
Vịnh diễn ra, Clarke báo cáo cho Dick Cheney (lúc đó là Bộ trưởng quốc pḥng)
biết rằng chính phủ Úc quyết định gửi một chiến đấu cơ F-111, Cheney dơ tay lên
trời trong thái độ thất vọng và nói: “We don’t have room for any more
allies. Stop asking them.” (dịch: “Chúng ta không c̣n chỗ cho đồng minh
nữa đâu. Đừng đ̣i hỏi họ nữa.”) Clarke cho biết thái độ của Cheney là Mĩ có
thể đương đầu với Iraq mà chẳng cần đến đồng minh nào cả, đồng minh chỉ đem thêm
rắc rối cho Mĩ mà thôi. Ấy thế mà ngày nay, giới chính khách Úc ồn ào tranh căi
có nên rút 250 quân Úc (đang phụ trách hậu cần và kĩ thuật) ra khỏi Iraq hay
không; Úc làm như là Mĩ cần họ lắm vậy! Trong khi đó, chúng ta thấy Mĩ chẳng
cần đến quân đội Úc bao giờ.
Khi cuốn sách mới xuất bản, giới
chức trong Nhà Trắng tấn công và phê phán Clarke kịch liệt. Trong những người
tấn công Clarke, Condoleezza Rice nói rằng “Clarke chẳng biết ông ta nói cái
ǵ,” v́ ông chưa bao giờ nằm trong guồng máy chống khủng bố! Nhưng điều này
không đúng với thực tế, v́ trong sách Clarke trưng bài rất nhiều tài liệu cho
thấy ông là một trong những nhân vật quan trọng trong chiến dịch diệt trừ khủng
bố. Thực vậy, kể từ thời Ronald Reagan, Clarke phục vụ trong tất cả các chính
phủ Mĩ trong vai tṛ trọng yếu là chống khủng bố. Trong chính phủ Clinton và
Bush, Clarke là “sếp” về phản gián và chống khủng bố. Ngày 11/9/2001, trong lúc
Tổng thống George W. Bush bị thuyên chuyển ṿng quanh Mĩ, Clarke là cánh tay
phải của Phó tổng thống Dick Cheney tại Nhà Trắng. Thế mới biết bà Rice mới
chính là người không biết ḿnh nói cái ǵ.
Tariq Ali, một nhà văn nổi tiếng
người Anh gốc Ả Rập, từng tiên đoán rằng những chống đối chính sách phiêu lưu
của Mĩ sẽ không xuất phát từ những người tả khuynh mà chính từ những người hữu
khuynh trong chính phủ Mĩ. Richard Clarke và Paul O’Neill là những người như
thế, những người trong nội bộ chính phủ Bush, dám can đảm phản đối những người
đểu giả và những tên bất lương. C̣n ở Úc, chúng ta chưa có những người can đảm
như thế.
Chú thích:
(1) Plan of Attack của Bob Woodward, Nhà
xuất bản Simon & Schuster, 468 trang, chưa phát hành ở Úc nên không rơ giá ở Úc.
(2) The Price of Loyalty: George W. Bush.
The White House, and The Education of Paul O’Neill của Ron Suskind, Nhà
xuất bản Simon & Schuster, 348 trang, giá 42.95 Úc kim.
(3) Against All Enemies: Inside America’s
War on Terror, của Richard A. Clarke, Nhà xuất bản Simon & Schuster, 316
trang, giá 39.95 Úc kim.
|