|
Cập nhật hóa khoa
học:
Cholesterol và bệnh
tim
Nguyễn Văn Tuấn
Vài thập niên trở lại đây,
giới y tế thường khuyên quần chúng nên t́m cách giảm lượng cholesterol (thường
được báo chí Việt ngữ đề cập đến một cách thiếu chính xác là “mỡ trong máu”) để
bảo vệ trái tim. Ngày nay, với vài bằng chứng mới, một số nhà khoa học và bác
sĩ nghĩ lời khuyên đó thiếu cơ sở khoa học …
Mối liên quan giữa cholesterol trong máu
và nguy cơ bị bệnh tim gần như không hiện hữu. Không chỉ thế, nếu bạn chưa từng
bị bệnh tim, giảm lượng cholesterol trong máu sẽ chẳng làm cho bạn sống lâu
hơn. Sau cùng, thuốc statins (một loại thuốc làm giảm cholesterol bán chạy nhất
hiện nay mà giới y tế khuyến khích dùng) chẳng có hiệu quả ǵ đối với phụ nữ.
Trên đây chỉ là một vài phát biểu “động
trời” của một nhóm khoa học gia thường được biết đến như là những người hoài
nghi giả thuyết về mối liên hệ giữa cholesterol và bệnh tim. Nhóm này tự gọi là
“The International Network of Cholesterol Skeptics”, hay viết tắt là THINGS.
Nhóm khoa học gia này trực tiếp thách thức một thuyết có thể nói là một trong
những nền tảng của nền y học hiện đại và chính sách y tế công cộng ở Tây
phương. Nói một cách ngắn gọn, thuyết này cho rằng
chất béo làm tăng cholesterol; cholesterol làm nghẽn động mạch; nghẽn động mạch
dẫn đến bệnh xơ vữa động mạch, đau tim, và hậu quả là chúng ta chết yểu. Thành
ra, mấy thập niên qua (và thậm
chí ngày nay), chỉ cần hỏi chuyện vài bác sĩ gia đ́nh về vấn đề cholesterol, họ
sẽ cho bạn biết rằng nếu lượng cholesterol trong máu của bạn cao hơn 5
millimoles/L, bạn nên t́m biện pháp giảm nó, và một trong những biện pháp đó là
uống thuốc statins.
Tuy nhiên, theo các nhà khoa học hoài
nghi thuyết cholesterol (sẽ gọi tắt là THINGS) hậu quả của những lời khuyên đại
loại như thế không những chẳng đem lại lợi ích ǵ cho những đàn ông đă từng bị
bệnh tim, mà c̣n làm tăng ngân sách y tế của nhà nước. Sự hoài nghi của THINGS
có cơ sở khoa học hay không?
Câu trả lời là có. Chẳng hạn như cho
đến nay, chúng ta vẫn chưa có một bằng chứng thuyết phục nào để phát biểu rằng
những người t́m cách giảm lượng cholesterol trong máu (qua dùng thuốc hay chế độ
ăn uống) có tuổi thọ cao hơn những người không dùng thuốc. Kết quả của một số
nghiên cứu lâm sàng cho thấy trên b́nh diện quần chúng, dùng thuốc như statins
có thể giảm lượng cholesterol và giảm số tử vong v́ bệnh tim chút ít, nhưng lại
làm tăng số tử vong v́ các nguyên nhân khác!
Cuối năm ngoái, trên tạp san y học của
Anh, British Medical Journal, Rebecca Warburton, một giáo sư y khoa tại
Đại học Victoria ở Canada, sau khi điểm qua những nghiên cứu về hiệu quả của
statins, đă đi đến kết luận: Dùng statins trên qui mô lớn (tức cả dân số) không
làm giảm tỉ lệ mắc bệnh nhồi máu cơ tim hay bệnh đột quị. Các nghiên cứu khác
phát hiện một sự thật quan trọng hơn: Đối với những người 50 tuổi trở lên có
lượng cholesterol trong máu bị giảm, tỉ lệ tử vong cũng tăng cao hơn trung b́nh.
Giáo sư Joel Kauffman (Đại học
Philadelphia) cũng làm một nghiên cứu tổng hợp về hiệu quả của statins, và cũng
đi đến kết luận tương tự: Một khi điều chỉnh cho độ tuổi, không có mối liên hệ
nào giữa
lượng
cholesterol và bệnh tim.
Trên b́nh diện toàn cầu, mối liên hệ
giữa cholesterol và bệnh tim c̣n mong manh hơn nữa. Ở Nga, tỉ lệ dân số bị bệnh
tim tăng một cách nhanh chóng trong vài năm gần đây, trong khi đó lượng
cholesterol trong người Nga thấp hơn nhiều so với người Mĩ và Anh. Thực ra, người
Nga thường có lượng “cholesterol tốt” (HDL)
cao và lượng “cholestrol xấu” (LDL) thấp hơn, so với
người Anh và Mĩ. Ấy thế mà tỉ lệ người
bị bệnh tim trong người Nga lại cao hơn người Anh và Mĩ!
Giả thuyết về mối liên hệ giữa
cholesterol và bệnh tim ra đời hơn 50 năm trước đây. Kể từ thập niên 50 và 60s
trong thế kỉ 20 cho đến nay, giới y tế nghĩ rằng làm giảm lượng cholesterol bằng
chế độ ăn uống ít mỡ sẽ đem lại lợi ích cho người dân. Nhưng quan niệm này đă
và đang bị chất vấn gắt gao. Chẳng hạn như, ngày nay chúng ta có nhiều bằng
chứng cho thấy chỉ có 50% những người bị bệnh tim có lượng cholesterol cao; phần
50% c̣n lại có lượng cholestrol b́nh thường hay thấp. Một nghiên cứu qui mô
khác vừa công bố trên Tập san British Medical Journal vào năm 2001 không
phát hiện một mối liên hệ nào giữa lượng mỡ trong thức ăn và nguy cơ bị bệnh
tim. Nói cách khác, lượng cholesterol trong máu không giải thích được tại sao
người ta bị bệnh tim, hay nếu quả thật cholesterol có ảnh hưởng đến bệnh tim th́
ảnh hưởng đó rất khiêm tốn.
Sự thách thức của giới khoa học gia
THINGS có ư nghĩa thời sự, bởi v́ hiện nay, chính phủ các nước giàu có (như Anh,
Mĩ và Úc) và giới y khoa cùng kĩ nghệ dược phẩm nhất trí trong việc trợ cấp cho
những người dùng thuốc giảm cholesterol. Họ tin rằng một chính sách như thế sẽ
làm giảm tỉ lệ tử vong trong dân chúng và qua đó làm tăng tuổi thọ cùng năng
suất kinh tế cho quốc gia. Niềm tin này dựa vào một nghiên cứu cho thấy số
người bị chết v́ bệnh tim giảm sau khi thuốc statins được đưa vào thị trường.
Tập san y học New England Journal of
Medicine vừa công bố một nghiên cứu quan trọng, mà trong đó các nhà nghiên
cứu tính toán rằng chỉ cần giảm lượng cholestrol trong máu khoảng 2 millimoles/L
cũng có thể làm giảm nguy cơ bị bệnh tim và đột quị khoảng 16%. Một trong những
loại thuốc dùng để giảm cholesterol là Lipitor, với thị trường toàn cầu lên đến
16 tỉ Mĩ kim. Cái thông điệp của nghiên cứu này là: giảm cholestrol càng nhanh
càng tốt.
Thế th́ tại sao không dùng thuốc để giảm
cholesterol trong quần chúng? Ở đây, chúng ta cần phải phân biệt hai hệ thống y
tế. Một là y tế ở b́nh diện cộng đồng (primary care), tức là khi bác sĩ
gia đ́nh của bạn cảm thấy bạn có nguy cơ bị bệnh tim bác sĩ sẽ ra toa thuốc để
hi vọng giảm cholesterol. Thứ hai là secondary care, tức là khi bạn đă
bị bệnh tim, và mục đích của điều trị là ngăn ngừa sao cho bạn không bị bệnh tim
một lần nữa. Giới khoa học THINGS đồng ư rằng dùng statins sau khi bạn
bị bệnh tim có hiệu quả làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim lần thứ hai. Nhưng điều
đó không có nghĩa rằng dùng statins trong primary care, trong những người chưa
từng bị bệnh tim, sẽ làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim. Thực ra, chúng ta chưa có
bằng chứng nào để nói như thế.
Thế c̣n một nghiên cứu gần đây cho thấy
những người t́nh nguyện dùng statins trong cộng đồng có tỉ lệ bị bệnh tim và đột
quị giảm 25% th́ sao? Con số này thoạt mới nghe qua th́ rất ấn tượng, nhưng đó
chỉ là một thủ thuật thống kê thiếu thành thực. Nên nhớ rằng trong những người
khoẻ mạnh, bệnh tim là bệnh khá hiếm. Công tŕnh nghiên cứu này cho thấy số
người dùng statins bị bệnh tim là 3%, và số người không dùng statins bị bệnh tim
là 4%. Dùng con số phần trăm, đó là một giảm thiểu 25% (1 – ¾), nhưng thực tế,
nó chỉ giảm 1% (tức 3% – 4%) mà thôi. Ở Thụy Điển, người ta chỉ dùng statins
trong môi trường secondary care.
Nhiều bác sĩ gia đ́nh kêu gọi bệnh nhân
ḿnh t́m cách giảm cholesterol cũng không biết rơ câu chuyện phức tạp về mối
liên hệ giữa cholesterol và bệnh tim. Tuy nhiên, những bác sĩ chuyên khoa có
kiến thức sâu khi được chất vấn nghiêm chỉnh, họ thú nhận rằng lợi ích của việc
giảm cholesterol trong phụ nữ không mấy rơ ràng. Phụ nữ nói chung có lượng
cholesterol cao hơn đàn ông, nhưng phụ nữ thường bị bệnh tim từ 15 đến 20 năm
sau đàn ông. Ngày nay, càng ngày càng có nhiều bác sĩ khuyến khích phụ nữ đă
măn kinh nên dùng statins thay cho HRT (hormone replacement therapy) v́ HRT đă
được chứng minh là có hại cho tim. Khuyến khích này có cơ sở khoa học không?
Câu trả lời từ một phân tích kết quả của
5 nghiên cứu lâm sàng là: “dứt khoát không”. Các nhà nghiên cứu thuộc Đại học
British Columbia (UBC) ở Canada công bố bản phân tích của họ năm ngoái, mà trong
đó họ kết luận rằng “Kết quả nghiên cứu của chúng tôi không ủng hộ việc khuyến
khích phụ nữ
chưa
từng bị bệnh tim dùng statins.”
Các nhà nghiên cứu ở UBC c̣n nêu vấn đề
“ảnh hưởng phụ” (side-effect) của statins. Statins thường được mô tả là một
loại thuốc an toàn và có hiệu nghiệm. Song, các nhà nghiên cứu ở UBC kết luận
rằng dù bệnh nhân dùng statins có nguy cơ bị bệnh tim thấp hơn nhóm đối chứng
khoảng 1,4%, nhưng những bệnh nhân dùng statins lại bị ảnh hưởng phụ nhiều hơn
nhóm đối chứng khoảng 1,8%. Nói là “ảnh hưởng phụ”, nhưng thực ra là những ảnh
hưởng nghiêm trọng, kể cả ung thư. Nhưng con số 1,8% cũng là một ước tính thấp,
bởi v́ chỉ có 2 trong số 5 nghiên cứu cung cấp số liệu về tỉ lệ ảnh hưởng phụ.
Khi các nhà nghiên cứu yêu cầu các công ti dược cung cấp số liệu ảnh hưởng phụ
của 3 nghiên cứu kia, họ không được trả lời!
Đối với người ngoài cuộc, những tranh
luận này có vẻ lạ lùng bởi v́ cả hai phe (ủng hộ và hoài nghi thuyết cholestrol)
đều sử dụng cùng một nguồn số liệu để lí giải, để thuyết phục quan điểm của họ.
Sự khác biệt nằm ở cách diễn dịch số liệu. Nhưng hai phát triển gần đây đă cung
cấp cho phe hoài nghi một trọng lượng đáng kể hơn. Thứ nhất là sự phổ biến của
chế độ ăn uống Atkins (c̣n gọi là “Atkins diet”, do Bác sĩ Atkins phát triển).
Kết quả nghiên cứu trong thời gian qua cho thấy một chế độ ăn uống với nhiều
chất béo không hẳn làm tăng cholesterol trong máu. Kết quả này đi ngược lại 180
độ với thuyết cholesterol hiện nay. Bác sĩ Atkins (và những người ủng hộ ông)
cho rằng một chế độ ăn uống nhiều chất sợi (carbohydrates), nhất là đường, mới
là thủ phạm làm thương tổn đến mạch tim về lâu về dài.
Theo THINGS, một yếu tố chính trong quá
tŕnh mắc bệnh tim là viêm. Đây là một phản ứng tự vệ của cơ thể khi cơ thể cảm
thấy bị tấn công. Theo đó, chỉ một chỗ nhỏ trên động mạch bị viêm cũng có thể
làm cho động mạch bị nghẽn.
Trong ṿng 2 năm qua, có 2 nghiên cứu
lớn về vai tṛ của viêm trong bệnh tim. Hai nghiên cứu này khám phá rằng độ
viêm trong cơ thể là một chỉ tiêu quan trọng hơn cholesterol trong việc tiên
đoán ai sẽ mắc, hay có nguy cơ mắc, bệnh tim. Chỉ số viêm được đo lường bằng
một protein gọi là C-reactive protein (thường viết tắt là CRP). Một số người
không ưa thuyết cholesterol cho rằng khám phá vai tṛ của CRP làm cho thuyết
cholesterol trở nên thừa. Thế th́ câu hỏi được đặt ra là: Nếu cholesterol chẳng
dính dáng ǵ đến bệnh tim th́ tại sao thuốc làm giảm cholesterol có thể làm giảm
(dù khiêm tốn) nguy cơ bệnh tim? Câu trả lời của THINGS là có thể những thuốc
làm giảm cholesterol trong thực tế cũng làm giảm mức độ viêm.
Cơ thể chúng ta sản xuất viêm qua một cơ
chế sinh học phức tạp dính dáng đến một “ch́a khóa phân tử” có tên là NFkB,
và vài nghiên cứu gần đây cho thấy statins rất hữu hiệu trong việc làm giảm NFkB.
Thực ra, đây cũng là cơ chế làm việc của phần lớn các thuốc và thức ăn làm giảm
cholesterol như aspirin và a-xít béo omega-3 trong cá, tỏi và sinh tố E.
Nếu quả thật đây là cơ chế, và nhiều
nghiên cứu hiện nay đang thử nghiệm giả thuyết này, th́ câu chuyện cholesterol
và bệnh tim sẽ là một câu chuyện lịch sử. Các biện pháp khác để giảm CRP là
ngưng hút thuốc, giảm cân, và tập thể dục thường xuyên.
Nhưng thuyết cholesterol có lẽ sẽ không
biến khỏi y học hiện đại trong một sớm một chiều, v́ những quyền lợi kinh tế
đằng sau nó. Một giả thiết được thử nghiệm một cách
nghiêm chỉnh hôm nay có thể là một tṛ cười cho ngày mai. Nhưng cuối cùng th́
một giả thiết đúng sẽ ra đời và tồn tại qua thử thách của thời gian.
Vấn đề mà những người hoài nghi thuyết
cholesterol đặt ra làm cho chúng ta phải thay đổi suy nghĩ về bệnh tim và
cholesterol. Như Karl Popper từng nói, “Sự phát triển của tri thức hoàn toàn
tùy thuộc vào những bất đồng ư kiến”, những vấn đề mà nhóm THINGS đặt ra cũng là
một cách đóng góp vào quá tŕnh phát triển y học hiện đại.
Tài liệu tham khảo và đọc thêm:
1. Shestov DB, Deev AD, Klimov AN, Davis CE, Tyroler HA.
Increased risk of coronary heart disease death in men with low total and
low-density lipoprotein cholesterol in the Russian Lipid Research Clinics
Prevalence Follow-up Study. Circulation. 1993; 88(3):846-53
2. Perova NV, Oganov RG, Williams DH, Irving SH, Abernathy
JR, Deev AD, Shestov DB, Zhukovsky GS, Davis CE, Tyroler HA. Association of
high-density-lipoprotein cholesterol with mortality and other risk factors for
major chronic noncommunicable diseases in samples of US and Russian men. Ann
Epidemiol. 1995; 5(3):179-85.
3. Anderson KM, Castelli WP, Levy D. Cholesterol and
mortality. 30 years of follow-up from the Framingham study. JAMA.
1987;257(16):2176-80.
4. Danesh J, Wheeler JG, Hirschfield GM, Eda S, Eiriksdottir
G, Rumley A, Lowe GD, Pepys MB, Gudnason V. C-reactive protein and other
circulating markers of inflammation in the prediction of coronary heart disease.
N Engl J Med. 2004;350(14):1387-97.
5. Edwards JE, Moore RA. Statins in hypercholesterolaemia: A
dose-specific meta-analysis of lipid changes in randomised, double blind trials.
BMC Fam Pract. 2003;4(1):18.
6. Warburton RN.
What do we gain from the sixth coronary heart disease drug? BMJ
2003;327:1237-1238.
7. Taubes G. The soft science of dietary fat. Science
8. Taubes G. The epidemic that wasn’t. Science 2001;
291:2540.
9. Taubes G. What if Americans ate less saturated fat?
Science 2001; 291:2538.
10. Taubes G. Studies of dietary fat and heart disease.
Science 2001; 295:1464-1465.
11. Ravnskov U. High cholesterol may protect against
infections and atherosclerosis. Q J Med 2003; 96:927-934.
12. Kauffman JM. Bias in recent papers on diets and drugs
in peer-reviewed medical journals. J Am Physicians and Surgeons 2004; 9:11-14.
13. Willet C. Dietary fat plays a major role in obesity:
No. Obesity Reviews 2002; 3:59-68.
|