|
Giới
thiệu sách:
SÁU THÁNG PHÁP NẠN 1963
của Minh Không Vũ Văn Mẫu
Minh Nguyện
Đây là hồi kư của cố Giáo sư Vũ văn Mẫu về những diễn biến
tại miền Nam Việt Nam từ vụ triệt hạ cờ Phật giáo tại Huế trong dịp Phật Đản
ngày 8/5/1963 đến ngày cách mạng 1/11/1963 lật đổ chế độ Ngô đ́nh Diệm. Ông sinh
năm 1914 tại Hà Đông, Bắc Việt Nam, tốt nghiệp Thạc sĩ Luật khoa Đại học Paris,
Pháp. Về nước ông làm giáo sư tại Đại học Luật khoa Sàig̣n và giữ chức vụ Bộ
trưởng Ngoại giao VNCH từ năm 1955 đến 1963. Sau đó ông là Đại sứ tại Anh, Bỉ và
Ḥa Lan từ 1964 dến 1972, trước khi đắc cử vào Thượng nghị viện Sàig̣n, liên
danh Hoa Sen. Hồi kư được in ronéo trong nước vào năm 1984, Giao Điểm in lại năm
2003 tại Hoa kỳ,- PO BOX 2188, Garden Grove, CA 92842, sách dày 505 trang.
Giáo sư Vũ văn
Mẫu đă gây tiếng vang lớn trong và ngoài nước khi cạo trọc đầu và đệ đơn từ chức
Bộ trưởng ngoại giao để phản đối hành động tấn công các chùa đêm 20/8/63 và xin
đi hành hương Phật tích tại Ấn Độ.
Trong lời nói
đầu, tác giả viết: “Mặc dù báo chí ngoại quốc và quốc nội đă đề cập sâu rộng đến
những vấn đề xoanh quanh 6 tháng Pháp nạn, nhưng có thể nói rằng một tấm màn bí
mật vẫn c̣n bao phủ nhiều biến cố quan trọng và bao nhiêu thắc mắc cùng hoài
nghi vẫn c̣n đè trĩu trên ḍng lịch sử…Dân tộc ta đă trăi qua một cơn ác mộng
hăi hùng. Chúng ta bị dồn đến bước hiểm nghèo mà may thay đă tránh được không sa
vào vực thẳm của sự chia rẽ tôn giáo. Sau phút hiểm họa, toàn dân vẫn đoàn kết,
triệu người như một, không phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng. Đó là một điều vinh
hạnh cao qúy cho nền văn minh dân tộc đă tiếp nối truyền thống tự ngàn xưa tôn
trọng quyền căn bản của con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng. Ghi chép
lại các biến cố trong Pháp nạn năm 1963, tác giả không ngoài ư nghĩ nêu lên một
vết xe đổ, để bước đường nguy hiểm không c̣n ai dẫm phải trong tương lai”.
Trong Chương
1, tác giả đề cập đến chính sách thiên vị Thiên chúa giáo của chế độ Ngô đ́nh
Diệm trên phương diện pháp lư và tinh thần (Dụ số 10, Hiến pháp 1956) cũng như
trong các lănh vực hành chánh, xă hội và kinh tế (chương tŕnh di cư và định cư,
chương tŕnh Dinh diền và Khu trù mật, quốc sách Ấp chiến lược).
Trong chương
2, tác giả đă đưa ra những tài liệu khác nhau về vụ triệt hạ cờ Phật giáo tại
Huế và thảm sát tại đài Phát thanh Huế đêm 8/5/63, về quan điểm của Tổng Hội
Phật Giáo Việt Nam được tŕnh bày trong Tâm thư ngày 9/5/63, bản Tuyên ngôn ngày
10/5/63 và các bản Phụ đính; quan điểm của chính quyền được phản ảnh trong hai
tài liệu đề ngày 9/5/63 trong Thông cáo của Ṭa Hành chánh tỉnh Thừa Thiên và
bản phúc tŕnh của ông Ngô Ganh, quản đốc đài Phát thanh Huế. Sau khi phân tích
các lời tường thuật của các nhân chứng như Tổng giám mục Ngô đ́nh Thục, bác sĩ
Erich Wulff, Linh mục Cao văn Luận (Viện trưởng viện Đại học Huế), ông Nguyễn
khắc Từ, một huynh trưởng Gia đ́nh Phật tử, tác giả đă nêu ra câu hỏi: Đâu là sự
thực? Thực sự ai là người có trách nhiệm chính trong việc gây ra vụ thảm sát.
Tác giả đă đưa ra chứng từ của ông Trần hữu Thế (nguyên Bộ trưởng Giáo dục) về
trách nhiệm của TGM Thục như sau:
“Chính tối hôm
Phật đản cũng đă có một bữa tiệc tại nhà Ngô đ́nh Cẩn với sự hiện diện của TGM
Thục, một số Bộ trưởng và nhiều nhân vật cao cấp trong chính phủ. Đang giữa bữa
ăn th́ Tỉnh trưởng Nguyễn văn Đẳng và Phó Tỉnh trưởng Đặng Sĩ hốt hoảng xin vào
tŕnh bày t́nh h́nh rất căng thẳng v́ mấy ngàn Phật tử đang tụ họp trước Đài
Phát thanh. V́ phụ trách các vấn đề an ninh, Thiếu tá Đặng Sĩ xin chỉ thị để đối
phó.
Ngô đ́nh Cẩn
ngồi yên không nói ǵ, hay không muốn nói có lẻ v́ đă đoán trước được ư kiến của
ông anh Ngô đ́nh Thục thế nào cũng chống đối thái độ ḥa hoăn của ông ta trong
vụ này. Sau báo cáo của Đặng Sĩ, TGM Ngô đ́nh Thục đang ăn bổng ngưng lại, giơ
tay ra hiệu cho Thiếu tá Đặng Sĩ “Dẹp…!”. Tỉnh trưởng và Phó Tỉnh trưởng lănh
chỉ thị lui ra. Sau đó th́ các sự việc xăy ra như bác sĩ Erich Wulff đă tường
thuật rơ ràng các điều mắt thấy tai nghe tại chỗ” (tr.215-216).
Trong chương
3, tác giả đề cập đến cuộc tranh đấu của Phật giáo và sự thành lập Ủy ban Liên
phái, ngọn lửa Bồ tát Thích Quảng Đức và việc kư Thông cáo chung ngày 16/6/63.
Về việc này, tác giả cho biết (tr. 278-279): “1 giờ 30 sáng ngày 16/6/63, sau
khi bản Thông cáo chung được kư kết, v́ đă lấy chữ kư của Ḥa thượng Thích Tịnh
Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Phó Tổng thống Nguyễn ngọc Thơ đem
ngay vào dinh Gia Long để lấy chữ kư của Tổng thống Ngô đ́nh Diệm th́ một khó
khăn bất ngờ khiến ông Nguyễn ngọc Thơ phải thất vọng. Đọc đi đọc lại bản Thông
cáo mà chính ông trước đây đă chấp thuận từng điểm trong mỗi giai đoạn thương
thuyết, ông Diệm, chẳng hiểu chuyện ǵ đă xăy ra trong thâm tâm, bổng không chịu
kư nữa. Đến 5 giờ sáng, ông Diệm nói với ông Nguyễn ngọc Thơ cứ để hồ sơ lại rồi
về nhà nghỉ.
Sau khi ông
Thơ ra về, trong dinh Gia Long đă có một ‘hội đồng gia tộc’ bàn về vấn đề này
gồm có ông Diệm và hai vợ chồng ông Nhu. Cuối cùng, sau khi cả gia đ́nh suy tính
kỹ, bà Nhu đă khuyên ông Tổng thống: ‘Không kư ngang hàng với Ḥa thượng Thích
Tịnh Khiết mà kư ngay ở trên góc trái, ngay trang đầu của bản Thông cáo chung và
thêm vào một câu trên chữ kư: ‘Những điều được ghi trong Thông cáo chung này th́
đă được tôi chấp thuận nguyên tắc ngay từ đầu’. Ông Diệm đă nghe theo lời khuyên
này và kư ở trang đầu của bản Thông cáo với câu ghi trên.
Tại sao bà Ngô
đ́nh Nhu lại có quyết định như vậy. Theo ư kiến của bà Nhu, kư ở trên đầu trang
là tỏ rằng Tổng thống Diệm ở trên hết. C̣n câu ghi trên đây có hai ư nghĩa: theo
nghĩa đen, câu đó tỏ rằng các nguyện vọng của Phật giáo không có chủ đích, v́
đều đă được Tổng thống chấp thuận nguyên tắc ngay từ đầu; nhưng theo nghĩa bóng,
th́ bản Thông cáo chung sẽ không được thực thi v́ Tổng thống chỉ chấp nhận
nguyên tắc mà thôi. Hậu ư phá hoại việc thi hành bản Thông cáo chung ngày
16/6/63 đă nẩy ra trong thâm tâm vợ chồng Ngô đ́nh Nhu ngay từ lúc chữ kư của
Tổng thống Diệm trên bản Thông cáo chung c̣n chưa ráo mực”.
Trong Chương
4, tác giả đề cập những diễn biến từ lúc bản Thông cáo chung được công bố cho
đến vụ tấn công các chùa đêm 20/8/63 và các hậu quả sau đó. Tác giả cho biết
trong Tiết 1, dưới sự điều động của vợ chồng Ngô đ́nh Nhu, nhà cầm quyền đă tổ
chức một Tổng hội Phật giáo Cổ sơn môn để chống lại phong trào đấu tranh của
Phật tử, dùng đoàn thể Thương phế binh giả và Thanh niên Cộng ḥa để yêu cầu
duyệt lại bản Thông cáo chung cũng như kế hoạch tiêu diệt Phật giáo đến tận gốc
của Ngô đ́nh Nhu (kế hoạch Nước Lũ, kế hoạch đảo chánh giả). Trong Tiết 2, tác
giả ghi lại hai giai đoạn sôi nổi nhất vào dịp kỷ niệm một tháng ngày kư Thông
cáo chung và Lễ Chung Thất (49 ngày) của HT Thích Quảng Đức. Trong tiết 3, tác
giả nhắc lại các biến cố tại Huế sau cuộc tự thiêu của TT Thích Tiêu Diêu, việc
các Giáo sư Đại học Huế từ chức để phản đối LM Cao văn Luận bị cách chức Viện
trưởng.
Thuật lại buổi
bàn giao chức vụ cho tân Viện trưởng là ông Trần hữu Thế, tác giả cho biết (tr.
386-387): “Linh mục Cao văn Luận nói: ‘Lúc này, muốn làm văn hóa đắc lực, người
lănh đạo Viện Đại học phải là người có cái THẾ chính trị. Về phương diện này,
thiết tưởng không ai hơn ông tân Viện trưởng Trần hữu Thế, là người như tên đă
định, có thế hơn ai hết, vừa có thế của Tổng thống tức là thế của chính phủ, vừa
có thế của Tổng Giám mục Huế tức là thế của mấy trăm ngàn giáo dân, Viện Đại học
Huế nhờ vậy sẽ có một tương lai vô cùng tốt đẹp!’. Ông Thế mặt tái xanh, nhưng
cũng gượng đứng dậy đáp từ cho biết đă cố gắng xây dựng ngay từ khi c̣n làm Bộ
trưởng Giáo dục (trước ông Nguyễn quang Tŕnh)…
Sau buổi lễ
bàn giao, ông Trần hữu Thế đă thấy bị đặt vào một t́nh thế vô cùng khó khăn. Ông
đă nhờ người đưa đi thăm chùa Từ Đàm và đă được chứng kiến tinh thần tranh đấu
của Phật tử rất cao, ông càng hoảng sợ. Ngày 19/8, khi ông Trần hữu Thế đến Viện
Đại học, tất cả sinh viên đă tề tựu, đứng chờ đợi im lặng trong sân. Bác sĩ Lê
khắc Quyến, đại diện giáo sư Đại học, vào pḥng Viện trưởng đưa cho ông Thế đơn
từ chức của các giáo sư Đại học. Sau đó, một đại diện sinh viên tŕnh ông Thế
một bức Tâm thư yêu cầu ông Thế từ chối chức vụ Tân Viện trưởng Viện Đại học
Huế. Ông Thế đáp: ‘Tôi xin nhận thư này và tôi sẽ chuyển lên cấp trên’. Sau đó,
quá hoảng sợ, ông Thế đă muốn rút lui bằng ngơ sau. Nhưng ông Âu ngọc Hồ, Tổng
thư kư Viện khuyên ông nên đi ngơ trước để giữ thể diện Viện trưởng. Ông đành
nghe theo và sinh viên đă rẽ ra để dành đường cho ông rời khỏi Viện. Sau đó, ông
Trần hữu Thế hiểu rơ không thể nào tuân theo lệnh ông Ngô đ́nh Thục để giữ chức
Viện Trưởng tại Huế, đă lẻn về Sài g̣n và đến cầu cứu tôi xin chiếu khán xuất
ngoại để trở về ngay Manille, không dám lại cáo biệt cả Tổng thống Ngô đ́nh
Diệm.”
Sau khi đề cập
vụ tấn công chùa Xá lợi và các chùa khác trong đêm 20/8/63, tác giả đă thuật lại
phiên họp Nội các lúc 5 giờ rưỡi sáng ngày 21/8/63 và quyết định từ chức như
sau: “Đúng 11 giờ sáng ngày 22/8/63, tại Dinh Gia Long đă diễn ra lễ tŕnh Ủy
nhiệm thư của Đại sứ Anh. Tôi đứng cạnh Tổng thống Diệm trong buổi lễ một cách
điềm nhiên, không một ai có thể đoán được sau buổi lễ này, trưa hôm ấy, tôi sẽ
cạo đầu và từ chức vào buổi chiều. Tôi đă nhận thấy cần phải từ chức vào ngay
chiều ngày 22/8/63, trước khi tân Đại sứ Hoa kỳ Cabot Lodge tới, anh em ông Diệm
sẽ xuyên tạc sự thật và tuyên truyền rằng tôi chỉ là một con bài của Mỹ và sự từ
chức của tôi là do Mỹ xúi, có tính cách hoàn toàn chính trị chứ không phải v́
vấn đề bảo về Đạo pháp.”
Tác giả cho
biết (tr. 408-409): “Từ chức là một quyết định đă đến với tôi từ sáng ngày 21/8,
sau buổi họp hội đồng nội các. Nhưng tôi đă suy nghĩ về một vấn đề tế nhị: cần
từ chức dưới một h́nh thức nào để vượt các khó khăn về sau.
a. Tổng thống
Diệm có rất nhiều cảm t́nh đối với tôi, là nhân viên cũ duy nhất c̣n lại trong
Chính phủ sau bao nhiêu lần thay đổi Nội các trong chín năm vừa qua. Trong cơn
khủng khoảng chính trị đang diễn ra vào tháng 8 này, chắc chắn Tổng thống Diệm
càng kiếm cách giữ tôi lại để vượt qua những phút khó khăn do vụ tấn công chùa
chiền gây ra.
b. Cần phải
t́m một h́nh thức từ chức thế nào để có thể nói rơ lên được mục đích là để bảo
vệ Phật Pháp và phản đối chính sách kỳ thị và đàn áp Phật giáo. Cần cho dư luận
trong nước và dư luận quốc tế không bị Chính phủ Ngô đ́nh Diệm lừa dối bằng cách
xuyên tạc mục đích của sự từ chức với các mánh khóe gian xảo trăm khôn ngh́n
khéo!
May thay, ngọn
lửa thiêng của Đạo Pháp soi sáng tâm trí của tôi trong giờ phút nghiêm trọng và
gấp rút này, để nh́n thấy ngay h́nh thức từ chức tốt nhất: Chỉ có cách cạo đầu
từ chức, đi hành hương tại Ấn Độ để nguyện cầu cho Đạo Pháp, cho tự do tín
ngưỡng và dân tộc đoàn kết.
Ba giờ rưỡi
chiều, tôi đến tiệm hớt tóc để cạo đầu. Sau khi ở tiệm hớt tóc về Bộ, tôi đă
thảo đơn từ chức gửi đến Tổng thống Ngô đ́nh Diệm.”
Sau khi tiếp
các Đại sứ các nước Phật giáo châu Á, tác giả đă họp toàn thể nhân viên trong Bộ
Ngoại giao cũng để giải thích về ư nghĩa quyết định từ chức. Tin tác giả cạo đầu
từ chức đă bay khắp Sàig̣n như làn gió mạnh. Nguyên cả tối 22/8, nhiều nhân viên
cao cấp của chính quyền và ngay chính ông Ngô đ́nh Diệm đă điện thoại để cố
thuyết phục tác giả không từ chức hay ít nhất hoăn vài tháng. Sáng thứ bảy ngày
24/8, sinh viên hội họp tại trường Luật để tiếp đón tác giả. Vào lúc 9 giờ, GS
Vũ văn Mẫu vừa bước xuống xe hơi là được sinh viên công kênh lên vai. Trong sân
trường đại học, sinh viên ngồi xúm xít dưới đất để nghe Ông nói: “Tôi đến đây
với các anh em không nhân danh là Bộ trưởng Ngoại giao v́ chức vụ đó tôi đă chấm
dứt bằng cái cạo trọc đầu của tôi rồi. Tôi đến đây nhân danh là một người bạn để
cùng với các anh em khơi nguồn lửa thiêng chiến đấu, bảo vệ những quyền thiêng
liêng nhất của con người...” Ngay trưa hôm đó, tác giả đă bị giam lỏng tại nhà
và ông Ngô đ́nh Nhu gọi điện thoại với giọng hằn học và doạ nạt, khuyên nên ở
nhà, không được ra trường Luật nữa.
Chiều ngày
26/8, tác giả đă bị chận lại không cho ra phi trường để lấy máy bay sang Ấn Độ
hành hương. Sau này tác giả mới biết được lư do như sau (tr. 420-421): “Măi đến
năm 1964, khi tôi làm Đại sứ Việt Nam tại Anh quốc, tôi có dịp được tiếp Tổng
Giám mục Asta – vào năm 1963 giữ chức Khâm Mạng đại diện Ṭa thánh Vatican tại
Sàig̣n - Tổng Giám mục mới cho biết những việc đă xăy ra chiều ngày 26/8/63.
Nguyên ngày hôm nay đó, biết được tin tôi lên đường, ngoại giao đoàn đă tới đông
đủ tại phi cảng Tân sơn nhất để tiễn tôi đi hành hương sang Ấn Độ, nhưng chờ măi
đến giờ phi cơ cất cánh mà cũng vẫn không thấy tôi tới, đột nhiên, có một phóng
viên ngoại quốc từ Sài g̣n đến phi cảng và cho biết tin tôi bị bắt đưa đi đâu
không biết. Ngoại giao đoàn khi đó rất xúc động và đồng ư cử niên trưởng là ông
Vương Tử Kiện (Yuen Tse Kien), Đại sứ của Trung Hoa Dân Quốc, đến gặp Tổng thống
Diệm để thỉnh cầu trả lại tự do cho tôi. Khi ấy, TGM Asta đă lanh lẹ đề nghị
nhận trách nhiệm tế nhị này thay cho ông Niên trưởng Viên Tử Kiên. Ngoại giao
đoàn đồng ư v́ TGM Asta là đại diện của Giáo hoàng, lời thỉnh cầu chắc chắn có
hiệu quả hơn đối với một người ngoan đạo như Tổng thống Diệm. TGM Asta đă trở về
Dinh Gia Long và gặp ngay Tổng thống Diệm. Và chính nhờ cuộc gặp gỡ với TGM
Asta, tôi mới hiểu rơ tại sao tôi được trả tự do nhanh chóng như vậy”.
Sau đó tác giả
được loan báo là có thể khởi hành cùng với gia đ́nh sang Ấn Độ bằng chuyến máy
bay Air France chiều ngày 29/8. Trước khi rời đất nước, tác giả đă đến cáo biệt
Tổng thống Diệm và Cố vấn Ngô đ́nh Nhu: “Gặp Ngô đ́nh Nhu, tôi vẫn giữ vẻ thản
nhiên, chỉ chào từ biệt mà không nhắc ǵ đến việc cảnh sát đă bắt đưa tôi về
trại Lê văn Duyệt hôm 26/8, nhưng Ngô đ́nh Nhu đă không dấu được sự ngượng ngập,
và chính Nhu đă nói đến vấn đề này, như xin lỗi một cách gián tiếp: ‘Câu chuyện
xẩy ra hôm 26/8 là do một sự hiểu lầm. Người ta đă báo cáo lên Tổng thống rằng
anh xuất ngoại mà không có chiếu khán xuất cảnh’…Trong cuộc yết kiến Tổng thống
Diệm, ông Diệm không dấu được sự xúc động, lấy tày áo quẹt mắt rớm lệ và nói:
‘Xin đừng quên nhau’. Rồi tôi đến chào Phó Tổng thống Nguyễn ngọc Thơ. Ông Thơ
lắc đầu nói, xin đừng quên nhau, ông Già nói chi mà gở vậy! Anh nhớ hôm lễ Song
Thất 7/7/63, lễ kỷ niệm ngày ông Diệm về chấp chánh, ông Già cũng nói những câu
gở không? Tôi cũng chợt nhớ lại câu ông Diệm nói hôm đó làm hai chúng tôi rất
ngạc nhiên: ‘Chẳng lẽ công tŕnh xây dựng trong bao lâu, bổng chốc biến thành
mây khói!’ Tôi bắt tay ông Thơ ra về, cả hai ngậm ngùi. Kẻ ở người đi, chưa biết
khi nào sẽ có dịp tái ngộ.”
Ngày 29/8/63,
GS Vũ văn Mẫu đáp chuyến bay Air France tại Tân sơn Nhất để đi hành hương. Cùng
đi chuyến bay này có GS Bửu Hội, được nhân viên chính phủ tiễn đưa sang Mỹ để
bênh vực trước Liên hiệp quốc về lập trường của chính phủ Ngô đ́nh Diệm trong
vấn đề đàn áp Phật giáo. Một chuyến tàu, hai con đường khác… Tại Ấn Độ, GS Vũ
văn Mẫu đă được tiếp đón trọng thể và nồng hậu, có các cuộc hội kiến với Tổng
thống Ấn Độ Radhakrishnan, Thủ tướng Nehru và Bộ trưởng Ngoại giao bà Lakshmi
Menon. Sau đó một chương tŕnh hành hương các thánh địa Phật giáo đă được hoạch
định như Bénarès, Sarnath, Bodhigaya, Sanchi, Ajanta, Ellora… Tác giả bày tỏ nỗi
vui mừng khôn tả khi đến Bồ đề đạo tràng (Bodhigaya) nơi Đức Thế Tôn thành đạo
dưới gốc Bồ Đề. Tại đấy, bất ngờ tác giả lại được hạnh ngộ với các Thượng tọa
Thích Minh Châu, Thích Thiện Châu và Thích Huyền Vi khi ấy đang ở Ấn Độ. (Xin
xem bài tường thuật của TT Thích Thiện Châu được tác giả trích đăng lại trong
hồi kư từ tr. 428-436 và trang nhà Khuông Việt số 8, mừng Xuân Giáp Thân phổ
biến lại theo địa chỉ
www.khuongviet.com). Ngày chủ nhật 15/9/63, sau khi hoàn tất cuộc hành
hương, tác giả rời Ấn Độ sang Pháp. Trước khi rời Ấn Độ, tác giả đă gửi thư về
cho Tổng thống Diệm xác định dứt khoát quyết tâm từ chức. Nội dung bức thư như
sau:
“New Delhi,
ngày 15 tháng 9 năm 1963.
Vũ văn Mẫu, Bộ
trưởng Ngoại giao hiện nghỉ phép.
Kính đệ Tổng
thống Việt Nam Cộng Ḥa, Sàig̣n.
Kính thưa Tổng
thống,
Sau khi đi
hành hương chiêm bái các nơi Phật tích ở Ấn Độ và thấu hiểu thêm được đạo lư,
chúng tôi trân trọng xin Tổng thống chấp thuận cho chúng tôi từ nay được từ
chức. Chúng tôi lúc nào cũng cầu nguyện cho toàn dân được ḥa b́nh và nhất trí
đoàn kết. Chúng tôi xin Tổng thống nhận nơi đây ḷng thành kính của chúng tôi.
Kư tên: Vũ văn
Mẫu”.
Trong Chương
5, tác giả đề cập đến dư luận và ủng hộ của Ṭa thánh Vatican, của các nước theo
Phật giáo và các chính phủ Âu Mỹ. Trong chương cuối, tác giả tổng kết như sau
(tr. 489-491): “Ba nhân tố chính yếu đă đưa chế độ đến sự suy tàn:
-
Ngô đ́nh Diệm đă quá nhu nhược
trước các hành động thao túng của gia đ́nh, từ Ngô đ́nh Thục đến vợ chồng Ngô
đ́nh Nhu và Ngô đ́nh Cẩn, dung túng gia đ́nh lạm dụng quyền thế, bóc lột tài
nguyên quốc gia, đàn áp tàn bạo những phần tử yêu nước phản đối các hành vi
bất chính.
-
Ngô đ́nh Thục quá thiết tha
với tham vọng làm Hồng Y giáo chủ và mang ảo vọng muốn biến Việt Nam thành một
nước hoàn toàn theo Thiên Chúa giáo.
-
Vợ chồng Ngô đ́nh Nhu nung nấu
tham vọng kế vị Ngô đ́nh Diệm và không sờn ḷng lùi bước trước bất cứ hành vi
và mưu kế tàn bạo nào để thực hiện cho được mưu đồ ấy.
Thu thập một số tài liệu lịch sử trong vụ Pháp Nạn này, từ
nguyên nhân đến quả báo, chúng tôi nhắm một mục đích duy nhất: Nêu lên một cây
tiêu để đánh dấu vết xe đổ và tha thiết ước mong – như chúng tôi đă cầu nguyện
20 năm trước tại Bồ Đề đạo tràng trước Đài Kim Cương, nơi Đức Thế Tôn thành đạo,
rằng trong tương lai không bao giờ c̣n có một chính phủ nào nghĩ đến sự đàn áp
tôn giáo, và không bao giờ quốc dân c̣n bị chia rẽ v́ tôn giáo. Tôn trọng các
tôn giáo trên căn bản tự do tín ngưỡng và công bằng xă hội là tôn trọng các
quyền linh thiêng nhất của con người mà bản tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế của tổ
chức Liên hiệp quốc đă xác nhận. Vi phạm vào các quyền này là chà đạp lên nhân
phẩm, dấn thân vào con đường phân hóa quốc dân và phản bội lại truyền thống cao
quư của dân tộc.
Bến Nghé,
ngày Khánh Đản
15/4 năm 2525 Phật lịch (15/5/1984),
Minh Không Vũ
văn Mẫu.”
Trong lời giới
thiệu cuốn hồi kư, Hoà thượng Thích Măn Giác, Los Angeles, Hoa kỳ viết về Giáo
sư Vũ văn Mẫu như sau: “Trong mắt tôi, ông là một kẻ sĩ khí phách hiếm hoi của
miền Nam, một người làm chính trị chân thực và có ḷng, một nhà mô phạm chừng
mực và trong sáng, một Phật tử hộ Đạo thiết tha. Toàn thể con người đó ảnh hiện
trong lời trong chữ của tập sách cuối đời phản ảnh một giai đoạn trầm trọng của
sự nghiệp riêng và của đất nước chung.”
Hoà thượng
cũng cho biết thêm rằng, năm 1988, trước khi rời Việt Nam đi Pháp, Giáo sư Vũ
văn Mẫu đă đích thân mang tặng Hoà thượng Thiện Siêu ở chùa Từ Đàm Huế một tập
với lời dặn ḍ “xin Chùa tuỳ nghi sử dụng trong việc giữ ǵn và phổ biến tác
phẩm nầy cho thế hệ tương lai”. Với bản in này được phổ biến rộng răi tại hăi
ngoại, thiết nghĩ ư nguyện đó của Giáo sư được thực hiện trọn vẹn. Xin trân
trọng giới thiệu đến quư vị độc giả gần xa.
Minh Nguyện
Tháng
1/2004.
|
|