|
Chính Đạo là
một trong hai bút danh của Vũ Ngự Chiêu. Bút danh kia là Nguyên Vũ, rất nổi
tiếng ở Miền Nam trước năm 1975. Trước 1975, Vũ Ngự Chiêu phục vụ trong binh
chủng Pháo Binh Dù, QLVNCH, và đă có hơn 20 tác phẩm xuất bản. Sau khi ra hải
ngoại, ông vừa tiếp tục cầm bút vừa đeo đuổi việc học. Tốt nghiệp Tiến Sĩ Sử tại
Đại Học Wisconsin-Madison năm 1984, sau khi cùng gia đ́nh di chuyển về Houston,
ông là Giám Đốc nhà xuất bản Văn Hóa và tốt nghiệp Tiến Sĩ Luật tại Đại Học
Houston năm 1999.
Những tác phẩm
của Vũ Ngự Chiêu xuất hiện trước năm 1975 dưới bút danh Nguyên Vũ gồm có Đời
Pháo Thủ (bút kư), Những Cái Chết Vô Danh (tập truyện), Trở Về Từ Cơi Chết
(truyện), Ṿng Tay Lửa (trường thiên), Thềm Địa Ngục (truyện), Đêm Hưu Chiến
(truyện), Sau Bảy Năm Ở Lính (bút kư), Đêm Da Vàng (trường thiên), v.v. Tại hải
ngoại, Vũ Ngự Chiêu đă in thêm các tập Xuân buồn thảm: Cuộc Sụp Đổ của Nam Việt
Nam (bút kư), Trận Chiến Chưa Tàn (truyện), Giặc Cờ Đỏ (trường thiên), cùng hai
tâm bút Paris: Xuân 1996, và Ngàn Năm Soi Mặt.
Về nghiên cứu
sử học, ông đă in ba tác phẩm bằng tiếng Anh dưới tên thực, và 10 biên khảo bằng
Việt ngữ với bút danh Chính Đạo. Biên khảo duy nhất bằng Việt ngữ kư tên thực
của ông là bộ Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945, gồm ba tập. Những tác phẩm kư
tên Chính Đạo thường được viết cho độc giả không chuyên môn, dễ đọc hơn, không
quá khô khan như các biên khảo đúng yêu sách bác học.
Ông vừa xuất bản tác
phẩm mới nhất với tựa đề Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng, 1945-1975, tập I, gồm 5
phần: Sơ lược tiểu sử Tổng thống Jean Baptiste Ngô Đ́nh Diệm (1897-1963); Từ
Điện Biên Phủ tới Geneva; Cuộc truất phế Bảo Đại; Mùa Phật Đản đẫm máu (1963);
và “Phiến Cộng” trong Dinh Gia Long.
Sau năm 1975 ở
hải ngoại, có những ḍng thác ngụy tạo ngụy biện nhằm vặn méo sử kiện để chạy
tội và biện minh cho sự vô minh của ḿnh, Vũ Ngự Chiêu đă dần dần xuất hiện như
một nhà sử học khai sáng và can trường. Giá trị tinh thần của người trí thức
không chỉ là tôn trọng sự thật mà c̣n nói lên sự thật và chấp nhận hậu quả của
quyết định can trường đó. Đó là một sự đổi đời tâm linh có ư nghĩa đă h́nh thành
nơi Vũ Ngự Chiêu. Huyền thoại và huyễn mị lịch sử đă làm cho người Việt xa nhau,
chỉ có sự thật mới làm cho người Việt gần lại với nhau, trong t́nh dân tộc,
nghĩa đồng bào. Những tác phẩm mới của Vũ Ngự Chiêu là một đóng góp sáng giá và
có ư nghĩa trong chiều hướng đó.
Chuyển Luân xin giới thiệu bạn
đọc bài phỏng vấn dưới đây do Nguyễn Vĩnh Châu thực hiện.
NÓI CHUYỆN VỚI NHÀ SỬ HỌC CHÍNH ĐẠO
Nguyễn Vĩnh Châu
Xin ông nói qua đôi lời về
tác phẩm mới nhất của ông. Tại sao ông gọi "thánh chiến"?
Sau gần ba thập niên nghiên cứu
tài liệu văn khố, tôi đi đến kết luận là cuộc chiến Việt Nam, trên cả hai mặt
quốc tế và quốc nội, đều mang sắc thái một cuộc "thánh chiến." Chẳng phải vô
t́nh mà Thủ Tướng Charles de Gaulle bổ nhiệm Linh mục/Đô Đốc Georges Thierry
d'Argenlieu làm cao ủy năm 1945 để cầm đầu cuộc tái chiếm Việt Nam, với sự ban
phép lành của Ṭa Thánh Vatican cùng Tổng Giám mục Antonin Drapier. Tại Mỹ,
chúng ta chưa quên bài diễn văn "Bức Màn Sắt" của Thủ Tướng Anh Winston
Churchill năm 1946, hay phong trào McCarthyism "thấy đâu cũng Đỏ cảû" và "Tố
Cộng xả láng" vào đầu thập niên 1950. V́ thế, cuộc tái xâm lăng Việt Nam của
Pháp được biến hóa dần thành "chống Cộng."
Tại nội địa, ṇng cốt của cuộc
chiến là đảng Cộng Sản Đông Dương, và các giáo sĩ cùng giai tầng trung gian bản
xứ sót lại từ thời Pháp thuộc. Các đảng phái chống cộng không chịu sự chi phối
của Giáo Hội Ki-tô đều bị loại ra ngoài, bắt buộc phải đứng bên lề, trong khi
đại đa số dân Việt của cả hai miền bị biến thành những con chốt qua sông, quay
cuồng trong những cơn băo cát khói lửa và bạo lực. Đặc biệt là từ sau năm 1954.
Thí dụ như các hệ phái Đại Việt miền Bắc, miền Trung, Việt Nam Quốc Dân Đảng hay
Cao Đài, Ḥa Hảo, v.v. Tôi vẫn c̣n nhớ măi lời cố Tổng Thống Diệm mỉa mai ông
Nguyễn Xuân Tiếu và các lănh tụ Đại Việt Quốc Xă là "chuyên viên thất nghiệp."
Sở dĩ ông Tiếu và các thành viên của đảng này bị gán ghép cho bảng hiệu chẳng
mấy tốt đẹp trên là nhờ "ân sủng" của chính chế độ ông Diệm—họ bị phũ phàng gạt
bỏ khỏi đời sống b́nh thường, luôn luôn sống trong những mắt nh́n đa nghi, e
ngại. Chẳng khác ǵ cảnh các Linh mục Ki-tô cùng giai tầng trung gian bản xứ và
con cháu họ mỉa mai các nhà Nho dưới thời Pháp thuộc là "chuyên viên thất
nghiệp."
Ông vừa nói chủ đề Chương 5 là
"Phiến Cộng trong Dinh Gia Long"?
Vâng, Chương 5 tôi tŕnh bày về
hành động và âm mưu ve văn Hà Nội của gia đ́nh Tổng Thống Diệm. Không ai có thể
chối căi việc anh em họ Ngô tiếp xúc với cộng sản.
Nếu thời điểm họ Ngô bắt đầu ve
văn cộng sản c̣n gây nhiều bàn căi, đầu mối bằng xương, bằng thịt (Maneli, đại
diện Poland trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Đ́nh Chiến) xuất hiện tại ngay chính
Dinh Gia Long ngày 2/9/1963. Ngô Đ́nh Nhu c̣n tuyên bố với viên chức t́nh báo
Mỹ, và các tướng miền Nam, nhiều lần, rằng ông ta từng tiếp xúc Việt Cộng và có
triển vọng nói chuyện với Thủ Tướng Phạm Văn Đồng. Theo ông Trần Văn Dĩnh, cố
vấn Ṭa Đại Sứ VNCH tại Mỹ, th́ đích thân Tổng Thống Diệm c̣n cho lệnh ông ta
tiếp xúc đại diện cao cấp của Bắc Việt tại New Dehli vào trung tuần tháng
11/1963.
Trong khi đó, từ tháng 3/1963, vợ
chồng Ngô Đ́nh Nhu bắt đầu mở chiến dịch chống Mỹ, và xa gần đ̣i Mỹ giảm bớt số
cố vấn; bí mật nhờ Pháp môi giới nói chuyện với Hà Nội. Việc ve văn cộng sản
này, không những đi ngược lại chính sách của Mỹ khi quyết định yểm trợ ông Diệm
"vô điều kiện" từ năm 1954-1955, mà c̣n vi phạm luật lệ đương thời và quốc sách
chống cộng của Việt Nam Cộng Ḥa. Mưu mẹo "không ăn được th́ đạp đổ" này dẫn đến
cuộc đảo chính 1/11/1963 và cuộc hành quyết ba anh em họ Ngô của các tướng tá và
quân nhân VNCH theo đúng luật pháp và quốc sách của miền Nam.
Nơi ông có hai con người: một
là nhà văn Nguyên Vũ và mặt kia là nhà viết sử Chính Đạo Vũ Ngự Chiêu. Sự khác
nhau của hai con người đó như thế nào?
Tại Việt Nam, tôi viết kư sự
chiến trường và truyện ngắn, truyện dài với bút danh Nguyên Vũ, may mắn một thời
có sách bán chạy hàng đầu, nhưng xứng đáng được gọi là "nhà văn" hay chưa th́
xin để hậu thế phán xét. Viết "văn," đă hẳn, được thoải mái khi vẫy phóng ng̣i
bút diễn đạt tư tưởng ḿnh. Nghiên cứu và viết sử th́ khác, hoàn toàn khác, có
những nguyên tắc không thể vi phạm: Đó là phải có tài liệu khả tín, được phân
tích và lượng giá với phương pháp sử học, và dưới ánh sáng lương tâm nghề
nghiệp. Người học sử và viết sử phải biết tách rời khỏi sự yêu ghét hay quan
điểm chính trị, tôn giáo của ḿnh, tái dựng các dữ kiện một cách trung thực tối
đa. "Cái tôi" phải giảm xuống mức tối thiểu.
Đâu là những đặc điểm trong
cuốn Cuộc Thánh Chiến Chống Cộng?
Biên khảo sử học mới nhất này
nhằm giải đáp một số vấn nạn, nếu không phải nghi án, lịch sử cận đại. Dựa trên
tài liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Cộng, và Việt Nam cùng tài liệu nguyên bản
khác thu thập suốt gần ba thập niên qua, tôi hy vọng sẽ đóng góp phần nào cho
việc tái dựng lại những trang lịch sử trung thực nhất, không ngả nghiêng tà vạy
theo ư thức hệ, tôn giáo hay mục tiêu chính trị giai đoạn của các thế lực nào
đó.
Dĩ nhiên, với người không thuộc
giới nghiên cứu chuyên nghiệp, bất cứ tài liệu nào hợp với sở thích (như để suy
tôn, nhớ ơn hay đả kích, nhục mạ một tác nhân nào, và kêu gọi toàn dân Việt Nam
phải nhất tề đồng xướng họa với họ)ø, mới là "tài liệu thật và đúng." Người
nghiên cứu sử chuyên nghiệp th́ khác. Công tŕnh tái dựng lịch sử có những
phương pháp, triết lư và lương tâm nghề nghiệp không thể sao lăng. Thí dụ như
không ai được quyền hài ḷng với một tài liệu do ḿnh khám phá ra, hay dựa trên
sự hiểu biết hạn hẹp của ḿnh ở một góc nhỏ bé nào của lịch sử, hoặc niềm tin và
ước muốn riêng tư, rồi nhắm mắt lại để kết luận, tổng quát hóa cho toàn cảnh
(kiểu toàn dân ghi ơn Ngô Tổng Thống). Người nghiên cứu cũng chỉ có mục đích duy
nhất là tái dựng lịch sử bằng những tư liệu có trong tay, theo phương pháp sử
học, dưới sự soi sáng của lương tâm nghề nghiệp.
Sau gần 30 năm, Việt Nam được
gọi là thống nhất về phương diện địa lư, cộng sản đă toàn trị trên đất nước,
nhưng có thể vẫn c̣n một hố sâu chia cách giữa những người Việt ngay cả trong
nước. Vẫn c̣n nhiều chống đối, bất măn. Với tư cách là một nhà nghiên cứu sử,
xin ông cho biết ư kiến về vấn đề này và theo ông th́ làm thế nào để Việt Nam
tiến bộ, phát triển, giàu mạnh hơn?
Tôi thật buồn khi thấy dù đă 29
năm qua, người Việt vẫn chưa thể tự ḥa giải, san bằng những dị biệt để chung
sức tái dựng lại một quê hương chậm tiến, dân trí chưa cao, nghèo khó, kém phát
triển về kinh tế cũng như khoa học và kỹ thuật.
Một trong những lư do là sự chia
rẽ có sức tác hại của bệnh ung thư máu theo đường ranh ư thức hệ, tôn giáo, địa
phương, chủng tộc, ưu quyền và danh lợi cho đoàn thể hoặc cá nhân. Nói cách
khác, là chứng “cận thị lịch sử.” Để hóa giải được chứng bệnh trầm kha này, tôi
vẫn nghĩ, cần nghiền ngẫm lại những trang lịch sử trung thực của đất nước và dân
tộc Việt, rồi rút ra những bài học có thể ứng dụng cho tương lai. Người Việt vốn
rất thông minh, hiếu học, cần mẫn, lại rộng ḷng nhân từ. Chứng bệnh chia rẽ
hiện nay là hậu quả nền giáo dục "ngu dân" từ bao thế kỷ qua của các giới chức
cầm quyền hoặc các lănh tụ tôn giáo, nôm na gọi là "dân ngu dễ dạy."
Qua những diễn biến chính trị
trong thời gian qua tại Việt Nam, trong vùng Đông Nam Á cũng như thế giới và với
kiến thức của ông về lịch sử, ông nhận định thế nào về vận mệnh của dân tộc, đất
nước Việt Nam?
Đă gần ba thập niên chưa trở lại
Việt Nam, chỉ biết nước Việt và người Việt qua các tài liệu truyền thông và
nghiên cứu của đồng nghiệp, tôi mất đi thứ trực giác của người Việt về t́nh h́nh
đất nước ḿnh. Nhưng theo tôi, không hẳn quá lạc quan, Việt Nam có khả năng bước
vào thế kỷ 21 với nhiều triển vọng tích cực.
Nếu chính phủ Việt Nam có viễn
kiến, biết tận dụng cơ may hiện tại của chính trường quốc tế, t́m cách cân bằng
ảnh hưởng các cường quốc, sớm ḥa đồng và hội nhập vào cộng đồng Đông Nam Á-Thái
B́nh Dương với đầy nghị lực, can đảm thiết lập cho bằng được một chế độ pháp
trị, chân thành và nghiêm chỉnh thực thi những văn kiện quốc tế đă kư kết -như
Bản Hiến Chương Liên Hiệp Quốc và Tuyên Ngôn Nhân Quyền- Việt Nam sẽ có sự yểm
trợ của thế giới để vượt qua những khó khăn cứng đọng bấy lâu.
Một số học giả và chuyên viên về
Việt Nam cho rằng người Việt chỉ biết bắt chước, sao chép lại những kinh nghiệm
và túi khôn của nước ngoài, đặc biệt là Trung Quốc. Tôi không nghĩ vậy. Người
Việt ta rất thông minh. V́ chưa có hoàn cảnh và điều kiện để tri nghiệm và thực
thi một nền giáo dục khai phóng và thực nghiệm, các chính quyền xưa nay chưa đào
tạo được những nhân tài và lănh đạo cần thiết cho một nước Việt Nam tiến bộ và
hùng cường. Nếu lănh đạo Việt Nam thực tâm yêu nước, thương dân, con đường hiện
đại hóa của Việt Nam sẽ chẳng thua kém ǵ Thái Lan hay Nhật Bản.
Ông có thể cho biết dự định
tương lai của ông?
Đă trên 60 tuổi rồi, tôi chẳng có
nhiều dự định. Công việc đang làm và sẽ tiếp tục trong những năm tới là hoàn tất
một bộ sử Việt Nam cận và hiện đại bằng Mỹ ngữ. Tôi cùng một số anh em cũng đang
nỗ lực bắc nhịp cầu thông cảm giữa dân tộc Việt và dân tộc Mỹ, qua việc trao đổi
những kiến thức dĩ văng hầu xây dựng một nền tảng liên hệ mới, tốt đẹp hơn, dựa
trên b́nh quyền và t́nh thân hữu.
Một trong những việc muốn thực
hiện là nghiên cứu về khả năng cải cách luật pháp tại Việt Nam, hầu tiếp tay vào
việc giúp Việt Nam sớm thiết lập được một nền pháp trị hiến định. Sự đóng góp
của tôi cũng có thể từ một vị thế khác hơn một người học luật và học sử. Hy vọng
trong một tương lai gần tôi sẽ biết rơ ḿnh sẽ có con đường nào để đi. Chỉ biết
thật chắc rằng tôi vẫn hằng tâm niệm lời thề cùng vong hồn tử sĩ hơn 30 năm
trước: Đó là tha thiết và liên lũy phục vụ quyền lợi của quốc gia và dân tộc.
Danh lợi cá nhân, với tôi, chỉ tựa đất thó, mảnh sành.
(Trích Viet Mercury News,
19/3/2004)
|