|
Suy ngẫm qua một chuyến về
Nguyên Tường
Trước ngày tôi ra đi, đúng hơn là một năm trước đó, một ông thầy Tử Vi ở Hà nội
đoán rằng: “Số cậu đă không đi nước ngoài th́ thôi, mà đă đi là đi dài, đi lâu”.
Chậc lưỡi nghĩ rằng ừ th́ lâu cũng dăm ba năm là cùng. Ấy thế mà lần này ông
thầy Tử Vi lại đúng – dĩ nhiên, một vài lần khác nữa thầy cũng không phải là
sai, nhưng đó là chuyện khác, có dịp sẽ kể sau. Tôi làm một chuyến biền biệt bảy
năm trời. Bảy năm lưu viễn đối với nhiều người có thể là c̣n ngắn, nhưng đối với
tôi đă đủ dài. Chính v́ lẽ đó, chuyến về quê của tôi kỳ này thật nhiều háo hức.
Háo hức hồi hập nhưng lại quá ngắn, chỉ gói gọn có bốn tuần, mà phải chia sẻ dăm
ba nơi: đến TP HCM, về quê ở tận miền cao nguyên Trung phần, về quê nội ở B́nh
định, đi Hà nội mà nơi tôi nhận là quê hương thứ hai của ḿnh. Chừng đó nơi với
bấy nhiêu thời gian là không đủ, không đủ để có thể nhận dạng được mọi thứ cũng
như những biến đổi mang tính đặc thù, nhưng những ǵ tai nghe mắt thấy cũng có
thể để rồi suy ngẫm và hứa hẹn sẽ có cái kể lại để làm quà cho bạn bè khi gặp
nhau. Thôi th́ cứ nhớ đâu nói đó, vui kể theo vui, buồn kể theo buồn…
Thói cửa
quyền
Bên hải ngoại, ai cũng phải nhàm tai v́ lúc nào trên đài, báo Việt ngữ cũng ra
rả cán bộ cộng sản Việt Nam hống hách, cửa quyền, hiếp đáp dân chúng. Đến nỗi
tôi cũng chột dạ, nhớ lại ngày c̣n ở trong nước, tụi tôi có nghe qua câu vè:
Hải quan, Thuế vụ, Kiểm lâm.
Trong ba thằng ấy phải đâm thằng nào?
Bác nghe, ngẫm nghĩ lắc đầu.
Trong ba thằng ấy, thằng nào cũng đâm!
Chuyện tai
nghe không bằng mắt thấy.
Qua Hải
quan
Phi trường Tân sơn nhất hôm nay không c̣n một chỗ để thở. Hăm sáu Tết! Một đợt
bảy phi cơ quốc tế từ từ đáp xuống phi đạo cách nhau thời gian có thể tính bằng
đơn vị. Gia đ́nh tôi như ch́m khuất trong ḍng thác của hàng ngh́n người đổ ra
từ các lối dẫn, hàng ngh́n người chờ đợi ở các vành đai nhận hàng. Chúng tôi
cũng nằm trong số phận đó. Khi chuẩn bị hành lư về quê chúng tôi đă có suy nghĩ,
lần về này hẳn sẽ đông đúc và phức tạp, tốt nhất là đừng để những chuyện đáng
tiếc xảy ra với Hải quan ở nhà. Chúng tôi chỉ đem đồ tuỳ thân, quà cho gia đ́nh
bạn bè chỉ là những món đồ kỷ niệm đơn giản. Hai cuốn sách để đọc nhưng đă được
“kiểm duyệt” kỹ càng. Và món “bửu bối” cuối cùng khi bất khả kháng là 3 số điện
thoại “nóng” - 8446257, 8457113 và 8451538 - để liên lạc nếu gặp phải t́nh trạng
sách nhiễu của Hải quan do ông Nguyễn Trường Nhân, Chi cục trưởng Hải quan TP
HCM đưa ra.
Chuyến bay từ Bangkok về TP HCM khá thuận lợi và theo dự tính. Cũng chỉ mất hơn
30 phút ǵ đó chúng tôi đă thu gom được đầy đủ hành lư cả túi xách tay tất thảy
7 kiện, gói. Trước khi check-in để lên máy bay ở Thái, chúng tôi đă được nhân
viên hàng không Thái đến phát cho mẫu khai hải quan, gọi là tờ khai màu vàng.
Cẩn thận hơn không, tôi nhận 4 phiếu, cho chúng tôi và cho hai cháu nhỏ, 7 và 5
tuổi. Đọc kỹ và điền đầy đủ từng chi tiết. Và như thế khi lên máy bay, 1 giờ 10
phút bay, chúng tôi chỉ có phải thưởng thức món ăn Thái và chuẩn bị tư thế về
nhà. Sau khi thu gom hành lư, di chuyển theo đoàn hành khách đi ra lối làm thủ
tục nhập cảnh. Trước lối dẫn vào chỗ làm thủ tục, một hàng rào tạm được giăng
bằng dây, nhiều nhân viên Hàng không (hay Hải quan?) lại phát cho hành khách mỗi
người một tờ khai nữa, đọc ra đó là tờ khai về sức khoẻ. Cứ như lần trước, cho
chắc ăn tôi xin hẳn 4 tờ, và lặng lẽ t́m một góc ngồi kê khai. Cái ǵ chứ khai
giấy tờ tôi được cái nhanh chóng, nên trong nháy mắt, 4 tờ khai đă được hoàn
tất. Những người khác th́ chạy đi chạy lại, nhốn nháo hỏi han, bao nhiêu tờ, ai
phải khai, ai không phải khai, đă khai một tờ trước rồi bây giờ có phải khai nữa
không. Quang cảnh trở nên ồn ào và náo nhiệt hơn. Có lẽ tôi đă quen với các kiểu
giấy tờ kê khai với nhà nước rồi nên tôi chỉ cứ việc tuân thủ, thừa hơn thiếu,
không phải hỏi cho mất thời gian nên chúng tôi rất chóng vánh đến sắp hàng để
qua Hải quan. Đón tiếp chúng tôi là một anh nhân viên hải quan trẻ. Chúng tôi
chào anh, anh chào lại bằng mắt, nhưng không đến nỗi không thân thiện. Anh kiểm
tra hộ chiếu, gọi từng người đi qua trước quầy, đối chiếu người, tất cả thủ tục
mất chừng 5 phút. Ở đoạn này được thấy phân chia từng khu vực, khu vực nhập cư
cho người có hộ chiếu ngoại quốc và khu vực nhập cư cho người có hộ chiếu Việt
Nam . Trong khoảng 5 phút chờ kiểm tra đó, tôi đảo mắt nh́n vào các bàn quày làm
việc khác. Nhịp độ làm việc hầu như là khẩn trương tất bật v́ số lượng khách
xuống đông quá. Không có ǵ trục trặc, hai tấm hộ chiếu được trả lại và chúng
tôi được đi qua. Không có một câu hỏi, chỉ cần vài câu trả lời gần như bâng quơ.
Tôi c̣n dư cả thời giờ để nhận thấy đồng hồ chỉ giờ quốc tế Sydney nhầm một giờ
- 11 giờ 30 thay v́ 10 giờ 30 – có lẽ v́ người ta quên ở Sydney mỗi năm có hai
lần đổi giờ vào mùa hè và mùa đông gọi là “tiết kiệm ánh sáng ban ngày”,
daylight saving. Kịp nhắc cả anh nhân viên Hải quan, nhưng có vẻ như anh cho đó
là chuyện vặt. Ấn tượng ban đầu tốt. V́ lần đầu nhập cảnh, tưởng như vậy là
xong, nhưng không phải thế, mọi người phải đi qua cổng thứ hai, là cổng kiểm tra
hành lư. Chà, đây mới là điểm “nóng” đây, tôi tự nhủ. Ở đây mới thật là đông đảo
và ồn ào. Nơi chúng tôi ra cổng cũng một bàn quầy, một người ngồi xét giấy tờ -
cái tờ giấy vàng khai trước lúc trên máy bay, c̣n lại có hệ thống “quét” hàng,
một vài nhân viên đứng bên cạnh. Tôi thấy có nhiều nhân viên khác đi dạo qua dạo
lại, chắc là sếp lớn hơn, trong lúc đang chờ để anh nhân viên kiểm lại tờ khai,
tôi nghe một chị nhân viên, trông có vẻ là cấp chỉ huy, đi qua các bàn quầy nhắc
các nhân viên: “Không ai được nhận tiền hay nhận quà đấy, hôm nay có tụi nó kiểm
tra, thanh tra ngầm đấy. Nhận là chết!” Thủ tục đối với chúng tôi cũng không có
ǵ phức tạp cho đến khi anh nhân viên bảo chúng tôi cho hành lư chạy qua máy
quét. Anh ta hỏi:
-
Anh có đem theo laptop?
-
Dạ có
-
Sao anh không khai vào tờ khai?
-
Dạ tôi thấy có chỉ dẫn nên tôi không khai.
-
Chỉ dẫn thế nào?
-
Dạ chỉ dẫn ghi rơ là những hàng nào tạm nhập tái xuất th́ khai, do đó tôi
có khai máy quay h́nh và máy chụp h́nh. C̣n cái laptop cũ tôi dùng, tôi có ư
định cho người nhà, không đem ra lại nên tôi không khai, theo hướng dẫn đó.
-
Tại sao lại không khai, không đem ra th́ phải đóng thuế!
-
Dạ, tôi đem đồ cũ.
-
Anh lôi thôi quá, khai hay đóng thuế?
Tôi không muốn
lằng nhằng để giái thích thêm, th́ thôi khai.
-
Vâng anh cho tôi xin lại tờ khai.
Tôi đang hí
húi chuẩn bị viết thêm xuống chữ laptop vào ô vuông khai hàng tạm nhập tái xuất
th́ bỗng “Soạt!” tôi giật bắn người. Phản xạ bản năng tôi giật lùi người lại và
kịp nh́n lên th́ chính anh nhân viên này đă giật tờ giấy khai vừa trả lại mà tôi
định điền thêm vào đó.
-
Làm như thế à?
-
Dạ là sao ạ?
-
Sao, sao là sao!
-
Dạ thưa anh bớt nóng, có ǵ sai sót anh chỉ bảo cho, thực t́nh tôi chưa
rơ sự thể là thế nào ạ!
-
Ông phải chồng cái tờ lót vào. Anh ta vừa gằn giọng vừa ném trả lại “tờ
vàng” cho tôi.
Chừng đó tôi
cũng c̣n đủ chút “sáng suốt” để kịp không phải bị mắng thêm nữa.
-
Dạ tôi hiểu ư anh rồi, tôi cần phải chồng díp lên nhau để ghi cho nó in
xuống tờ phụ. Vậy sao anh không giải thích cho tôi, có ǵ đâu mà anh nóng nảy dữ
vậy?
-
Nóng ǵ mà nóng! Anh ta vẫn chưa tha.
-
Vâng, xin anh bớt nóng cho, xin anh bớt nóng cho. Tôi nghĩ chuyện quá nhỏ
không đủ để anh phải nổi nóng với tôi như vậy. Và hẳn là sẽ tốt đẹp hơn nhiều
nếu anh chỉ cần nhắc nhẹ tôi một câu là tôi cũng có thể hiểu.
Chừng như anh
ta thấy ḿnh quá đáng anh ta xoa dịu: “Ấy là tôi giúp anh đấy chứ, tôi sợ anh
ghi xuống hỏng đi nên tôi phải giật lại”.
-
Vâng, rất cám ơn anh đă giật giúp!
Sau đó th́
chúng tôi được qua, không có một câu hỏi ǵ thêm. Tôi cũng kịp đọc được tên trên
bảng tên anh ta là Trần M. Tr.. Mấy nhân viên đứng cạnh anh ta không có phản ứng
ǵ với sự cố đó, lặng lẽ nh́n đoàn người và ḍng hành lư chạy qua máy quét. Đi
được dăm bước tôi được gọi giật lại, anh T. chạy theo tôi tiếp tục xoa dịu với
câu nói trên lặp lại: “Ấy là tôi giúp anh đó chớ...”
Tôi nhập cảnh ở TP HCM nhưng lại xuất cảnh ở Hà nội. Hôm đó đă giữa tháng Giêng,
tiết trời Hà nội lạnh. Sân bay quốc tế không tấp nập như lúc về, có lẽ do lượng
người đă tái xuất lại nhiều vào những ngày sau Tết. Thủ tục cũng b́nh thường.
Nhân viên hải quan đón tiếp tôi kỳ này là một cô gái trẻ, trắng và xinh trong bộ
“quân phục”. Tôi chào cô, cô cũng chỉ chào tôi bằng một cái nhếch mép, nhưng
không đến nỗi quá mất lịch sự! Tôi đưa cho cô hai tấm hộ chiếu, cô ta đưa vào
cái máy ǵ đó soi soi. Sau đó cô hỏi hai cháu bé đâu. Tôi chỉ hai cháu đang bám
bàn quầy đu lên để cho cô nhận dạng.
- Khi anh nhập
cảnh không ai nói ǵ với anh à?
- Nói ǵ là ǵ
ạ? Không ai nói ǵ với tôi ngoài hỏi tôi mấy câu hỏi thông thường? Nhưng ai là
ai ạ?
Cô ta dường
như không cần chợ đợi những câu trả lời đầy thắc mắc của tôi đó, cô đứng dậy
quay lưng, mở cửa pḥng ra sau và đi thẳng.
Nỗi nghi hoặc
của tôi lại càng dâng cao. Vợ tôi bắt đầu lo lắng. Chuyện ǵ đây! Điểm lại bốn
tuần vừa qua chúng tôi có làm ǵ để phải vào “sổ đen” không nhỉ? Tôi chột dạ về
những cuộc phỏng vấn của đài BBC Luân đôn trong khi tôi đang ở Việt Nam . Chẳng
nhẽ như vậy sao? Hay...Làm sao mà đồ đoán hết mọi thứ được. Người em đưa tôi ra
sân bay, đứng cách xa chúng tôi chừng 15 thước nhưng không có rào cản, nên sốt
ruột khi thấy chúng tôi đứng chờ. Mười phút, mười lăm phút, hai mươi phút. Cô
nhân viên đẩy cửa bước vào.
-
Hai bức ảnh của các cháu không có con dấu nổi của sứ quán. Anh cần phải
đến đóng dấu.
-
Vậy là tôi phải đem đi đóng dấu bây giờ à? Chuyện này có phải lỗi của tôi
đâu nhỉ, chẳng nhẽ tôi phải hoăn chuyến bay à?
-
Ấy là nói vậy thôi, chúng tôi cho các cháu xuất cảnh, nhưng đến nơi anh
nhớ đem đến Sứ quán đóng dấu nổi lại cho các cháu.
Hú vía. Chuyện
chỉ có thế, mà chúng tôi phải chơi một tṛ ú tim đứng tim!
Ở pḥng
khám bệnh
V́ chưa lần nào về Việt Nam , các con của tôi không quen khí hậu ở đây. Về nhà
được hơn ba tuần th́ các cháu ốm hết hơn hai tuần. Đứa con nhỏ của tôi sốt lại
đợt hai, sốt cao ba bốn ngày liền, kèm theo ho dữ dội, ho như”rút ruột”. Tôi chỉ
ngại cháu nó bội nhiễm viêm phổi th́ khốn, pḥng bệnh vẫn hơn. Cho cháu đi đến
chụp Xquang phổi. Tôi đưa cháu đến một pḥng khám Xquang tư, bên nhà gọi là
pḥng khám ngoài giờ. Bước vào pḥng đón tiếp không thấy nhân viên, hai cha con
ngồi đợi chừng 5 phút th́ anh nhân viên về đến.
-
Chào anh.
-
Chụp ǵ?
-
Dạ xin anh cho cháu chụp lồng ngực kiểm tra phổi chút ạ.
-
Không đi khám bác sĩ nào à?
-
Dạ không ạ.
-
Sao không chịu đi khám. Vào đây!
Tôi lặng lẽ đưa cháu vào và hướng dẫn cho cháu lên chiếc bàn chiếu và nằm xuống
theo đúng thủ tục chụp quang tuyến. Tôi đang giải thích cho con tôi phải làm cái
ǵ, và tại sao vào đây. Mặc dù đă được giải thích và hướng dẫn từ nhà, nhưng một
thằng bé năm tuổi không thể không “khớp” trước một cái máy to đùng đen ś chắn
trên một cái bàn mà tôi bắt cháu phải trèo lên.
-
Nằm ngửa thẳng chân ra! Anh ta lên giọng. Thằng bé lại loay hoay.
-
Nằm thẳng ra, bộ nằm yên một chút không được à! Lần này th́ anh ta quát.
-
Nhanh con, chú mắng kia ḱa. Coi bộ thằng nhỏ lại lanh lợi ra sau câu
quát “xé óc” của anh nhân viên. Nó răm rắp và nhớ những ǵ tôi dặn nó trước đó
phải làm. Anh nhân viên cũng không màng một lời hướng dẫn.
-
Nhấc đầu lên! Anh ta đặt xuống lưng cháu tấm phim, rồi bước ra pḥng
ngoài.
Tôi kịp nhắc cháu câu cuối cùng: “Con nằm yên, hít thật sâu vào cho ba, giữ hơi
đừng thở ra nhé cho tới khi con đếm nhẩm đến 10”. “Dạ, con nhớ rồi!” Tôi nhanh
chân rảo bước để kịp theo anh ta ra khỏi pḥng chụp. “Sầm!” Cánh cửa đóng sập
ngay trước mũi tôi, nếu tôi không nhanh chân kịp lùi lại một bước th́ lỗ mũi
không ăn trầu, chắc cái đầu cũng phải hút thuốc! Tôi phải đứng lại trong pḥng
với cháu. Nhiễm một chút tia nữa cũng không sao, bằng với cháu.
-
Xong rồi! Anh ta lại dơng dạc.
Cha con tôi
lại líu ríu dắt ra ngoài pḥng chờ.
Anh nhân viên
đi ra đi vào chờ tấm phim khô. Trí nhớ hiện về trong tôi bất chợt.
-
Ủa, phải Ng. không? Tôi hỏi anh ta, hơi đột ngột, và cũng sợ ḿnh nhận
vơ.
-
Ủa! N. hả! Anh ta nhắc đúng tên tôi.
Tôi chẳng lạ
ǵ cái anh chàng này nữa, anh ta học sau tôi khi c̣n học trung học, sau đó anh
ta vào học trung cấp kỹ thuật quang tuyến. C̣n tôi vào trường Y khoa trước anh
ta.
-
Xin lỗi nha!
-
Có ǵ đâu. Khoẻ chứ?
-
Khoẻ!
...
Tôi ngẫm nghĩ,
anh ta xin lỗi ḿnh về thái độ vừa rồi chẳng qua là ḿnh quen anh ta. Thôi chín
bỏ làm mười. Dĩ nhiên sau đó cha con tôi được miễn phí tiền chụp quang tuyến dù
đó là pḥng chụp tư nhân.
Đó là hai câu chuyện trong số các câu chuyện liên quan tôi cóp nhặt lại sau
chuyến về. Có vẻ đó như là sự phụ hoạ với những cái loa của những người chống
cộng chết bỏ (CCCB) ra rả ở hải ngoại rằng nhà nước cộng sản Việt Nam sản xuất
ra những cán bộ cửa quyền, bắt nạt hà hiếp dân chúng. Thế nhưng, trong kư ức
tuổi thơ tôi cũng có nhiều câu chuyện về những sự hà hiếp tương tự, cũng chỉ lấy
ra hai chuyện để cho cân bằng.
Chuyện
ông cảnh sát
Chúng tôi sống trong một khu xóm, thời Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) có một ông cảnh
sát ông tên Lê, thứ Năm, nên gọi là ông Năm Lê. Ông chỉ là một viên cảnh sát
“quèn” thôi, v́ tôi nhớ ông không đeo nhiều “lon” như những người khác tôi thấy.
Nhưng trong xóm th́ cái uy của ông to lắm, chẳng đứa nào dám ho he. Ba tôi bắt
chúng tôi phải gọi là “ông cảnh sát Lê”. Ông Năm Lê có cái nhà không to lắm,
ngay sau lưng nhà tôi. Trong nhà ông có hai con rất dữ, đó là con chó và con
trai của ông. Con chó của ông nó dữ, th́ cũng v́ nó phải làm nhiệm vụ. Con trai
của ông dữ...chắc tại v́ nó là con ông Cảnh sát! Thằng con trai của ông Năm Lê
kém tôi một tuổi, chúng tôi lúc đó chỉ mới tuổi c̣n chơi đá dế, thả diều. Chúng
tôi gọi nó là thằng Cu Lê, nó thích trêu chúng tôi bằng cách xúi con chó dữ của
nó ra rượt chúng tôi mỗi khi đi qua ngơ nhà nó, để cho chúng tôi ḥ hét nhau
chạy, rồi cười khoái trá. Thường th́ nó rất thành công trong những vụ như vậy,
v́ chẳng đứa nào trong xóm dám ho he, hoặc th́ nó đánh, nó nhỏ hơn th́ có thằng
“đệ tử” là thằng hàng xóm sát nhà nó to con, hơn tuổi tụi tôi nện cho, hoặc nữa
th́ cũng mách ba nó. Nói tới ba nó th́ mọi người bảo, ai bảo tụi mày đi qua nhà
người ta! Thế là yên chuyện. Nhưng thế th́ chuyện cũng hết thật, trừ ông anh
trai của tôi hơn tôi hai tuổi. Như lệ thường thằng Cu Lê lại xui chó chạy ra
rượt hai anh em tôi một bữa. Nhưng có lẽ bữa đó đứa nào cũng xui, xui cho thằng
Cu Lê đụng phải anh tôi, thằng ch́ nhất xóm; xui cho anh tôi đụng phải thằng Cu
Lê, con ông cảnh sát. Con chó theo lệnh tiểu chủ xông thẳng ra cổng. Anh tôi đă
thủ sẵn một ḥn gạch, một cái cây cắp bên hông. Oẳng, oẳng! Con chó “trúng đ̣n”
v́ ḥn gạch và một gậy. Nó không vừa, tiếp tục xông lên theo lệnh chủ. Anh tôi
cũng hươi gậy tới tấp. Một thằng một chó quần thảo, chẳng ai dám xông lên ai.
Thằng Cu Lê tiếp cứu với một cây gậy tre. Anh tôi thừa thế, tung một cú đá vào
bụng, thằng nhỏ bật ngửa. Bất ngờ, và v́ đà đang lao vào, thằng Cu Lê ôm bụng
gục xuống đất kêu è è. Chúng tôi chỉ c̣n nước tẩu vi là thượng sách. Chiều hôm
đó, nhà tôi được cảnh sát đến thăm nhà. Không phải ông Cảnh sát Lê mà hai ông
cảnh sát lạ hoắc đi theo là thằng Cu Lê cái mặt vênh váo. Không kể thêm th́ hậu
sự cũng đoán được. Anh tôi bị một trận đ̣n nên thân. Ba má tôi phải mất “tiền
cơm thuốc” cho thằng Cu Lê bằng hơn tháng lương của ba tôi mới yên chuyện.
Chuyện
ông Đại uư
Chắc khi ba má tôi chọn đất mua nhà đă không coi thầy địa lư, nên chọn nhầm vị
thế “đít rồng”. Phía hông sau ông hàng xóm là ông Cảnh sát Lê, c̣n ngay đằng sau
là nhà ông Đại uư Thịnh. Do thế đất, nhà tôi ở dưới thấp, thấp hơn nhà ông Đại
uư Thịnh đến cả thước. Mùa mưa đến th́ nước trên nhà ông dồn xuống nhà tôi như
tháo cống. Mà khổ nỗi bà phu nhân c̣n tuyên bố là sẽ khơi mương, muốn cho chảy
vào đâu là ư của bà. Bao lần thương thuyết cũng không xong, thưa đâu cũng không
được, chẳng có ai giải quyết. Một lần nộ khí xung thiên, má tôi không nhịn được
nữa đành phải khẩu chiến với phu nhân đại uư. Kết cục là sao th́ cũng rơ. Nước
vẫn thênh thang vào nhà. Đáng nói hơn là tháng sau ba tôi nhận giấy báo đi quân
dịch. Mới đến quân trường:
-
Ai bảo ông tới đây?
-
Thưa XX, tôi có giấy gọi nhập ngũ.
-
Đ.m. đui như ông mà đánh đấm ǵ, thằng nào gọi mày nhập ngũ?
Số là ba tôi cận nặng, cái kính cận ông đeo nó dày bằng cái đít chai CocaCola
thời đó. Ông cận đến 19 đi-ốp! Ông quan thầy lúc đó mới truy ra ai đă lệnh cho
ba tôi nhập ngũ, th́ mới biết được là Đại uư Thịnh đă “xúc”. Không đánh th́ cũng
phải đấm, bắt đi nhập ngũ không được, sau đó ba tôi được “biệt phái” về làm khu
phố phó khu phố, hàng ngày đi tập quân ngũ, đêm đêm theo quan thầy đi gác tuần
tra ở bót khu phố. Ba tôi làm 6 tháng sau đó th́ họ cho nghỉ, v́ ba tôi không
thấy đường để ngắm ruồi súng. Ngày có lệnh triệt thoái của ông Thiệu, ông Đại uư
Thịnh lúc đó đă nghỉ hưu trí được dăm năm, lại xuất hiện trong đồ quân ngũ với
ba bông mai để cùng gia đ́nh “di tản chiến thuật”. Tôi được biết khi ông chạy
đến Ninh sơn, Ninh Hoà, bị việt cộng đuổi rát, ông vứt bông mai, quân trang trên
đường, trở lại làm phó thường dân. Dĩ nhiên, tôi không tận mắt chứng kiến ông,
nhưng gia đ́nh tôi cũng theo lính tráng, đi theo con “đường máu” 7B, qua tỉnh lộ
Phú bổn, Cheo reo, chạy xuống Tuy hoà, chứng kiến rất nhiều “quan thầy” hai ba
bông mai trở lên hà hiếp dân thường, cướp bóc trắng trợn trong giờ thứ 25, và
sau đó th́ lại vứt mai, vứt chiến y trà trộn vào lũ dân thường chúng tôi…
Những câu chuyện tản mạn đó cho tôi một h́nh dung không phải chỉ có chế độ
cộng sản mới tạo ra thói cửa quyền của cán bộ, quan chức nhà nước. Cũng chẳng
phải “cộng sản” mới có, c̣n “quốc gia” th́ không hoặc ngược lại. Mà đó là một
cái thói của người Việt kế thừa từ các thế hệ tiền thân, một thời “Quan chi phụ
mẫu” tích lũy trăm cho đến các thế hệ sau này. người Việt ta dường như đă tạo ra
một tiền lệ, người dân thường là phải chịu cái kiếp thấp cổ bé họng. Người nào
có một chút đỉnh quyền lực là đạp đầu cưỡi cổ thiên hạ, cái kiểu cá lớn nuốt cá
bé. Cũng chẳng kể đâu xa, trong cộng đồng người Việt bé xíu ở Úc hiện nay này,
nơi tôi ở, tôi cũng chứng kiến nhiều chuyện bực ḿnh. Một số ông bà “có chữ”,
nói thẳng ra là luật sư bác sĩ, hơn người khác một chút, cứ làm ra vẻ ban ơn,
lệnh lạc khi có việc cần nhờ cậy, mà trả tiền chứ có xin đâu. Tôi cũng đă chứng
kiến những người chỉ làm nghề thông ngôn, lại lên thói dạy đời, b́nh phẩm tư
cách đời tư của khách hàng, một chuyện tối kỵ trong đạo đức nghề nghiệp. Trong
khi đó các vị CCCB th́ lại thích làm chuyện. Đi săm soi, bươi móc trong các mẩu
tin trên internet các trang báo điện tử trong nước, di chuyển những tin “giật
gân” về máy của ḿnh, xào nấu một hồi, thành ra một câu chuyện dài về chế độ
cộng sản toàn thứ thối tha, cán bộ các ngành các cấp hà hiếp, bắt nạt, ăn trên
đầu trên cổ dân chúng. Những vị “lănh đạo tinh thần” của cộng đồng, những “tiếng
nói” của cộng đồng th́ thích huênh hoang về đạo đức của ḿnh, kích động dân
chúng chửi rủa chính quyền Việt Nam bằng những từ thô thiển nhất. Trong khi đó,
điều cần làm hơn có lẽ là chúng ta, người Việt, cần phải tự gột bỏ cái thói hống
hách cửa quyền đó khi có một chút quyền hạn trong tay. Nên nh́n đó chỉ là một
nhiệm vụ được phân công hơn là cái phẩm hàm được hưởng. Dân CCCB đi hô hào đ̣i
tự do, dân chủ cho nước nhà, nhưng chính người dân trong cộng đồng ở hải ngoại
chỉ được hưởng đúng một thứ tự do: Tự do chống Cộng và được một thứ dân chủ: Dân
chủ nhất trí trăm phần trăm! Những ai có viết lách hay nói những điều mà được
phê là “có lợi cho cộng sản” như Điều 4 Hiến PhápVNCH ngày xưa quy định là lập
tức bị chửi bới bằng những ngôn từ không có trong từ điển, bị đe doạ hành xử
theo lối xă hội đen. Âu cũng là một biến tướng của thói hống hách và cửa quyền
vậy.
Tôn giáo
Hàng ngày ở hải ngoại, mọi người cứ phải nghe đi nghe lại măi điệp khúc rằng
chính quyền Hà nội đàn áp tôn giáo, không cho người dân tự do tín ngưỡng. Nào
“pḥng thông tin Phật giáo quốc tế” (sic), nào mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên
đường, nào các kiểu liên tôn chống cộng cùng đồng ca bài ca “tôn giáo và nhân
quyền”. Tôi cũng phải quyết làm một chuyến thực tế cho biết sự thể
Tin Lành Đề-ga, “trâu ḅ húc nhau, ruồi muỗi chết”
Tôi không tin thằng bạn tôi làm gián điệp. Nhưng nó bị cách chức, bị thải về
“vườn”. Bạn tôi là bác sĩ, phụ trách vấn đề bệnh da liễu, chịu trách nhiệm về
phong trào pḥng chống bệnh phong (cùi) trong khu vực tỉnh. Công việc này cậu ta
làm đă tương đối thâm niên. Hàng tháng, phái đoàn phải lặn lội xuống từng huyện,
từng bản mường xa xôi hẻo lánh, có nơi phải vứt xe máy rồi lội bộ, băng rừng cả
nửa ngày trời mới tới bản làng đồng bào, nơi có tỷ lệ mắc bệnh và di chứng của
phong nhiều nhất. Công việc bạn tôi phải làm là lănh đạo phong trào, hướng dẫn
khám, cấp phát thuốc, hướng dẫn cho cán bộ địa phương về cách pḥng chống bệnh,
giáo dục về những thành kiến không đúng đối với người bệnh, giúp người bệnh tái
hội nhập với cuộc sống thường nhật. Cũng nhiều lần bạn tôi phải đưa các phái
đoàn khách quốc tế, những tổ chức tài trợ cho phong trào đến tận bản làng để họ
chứng kiến thực tế hiệu quả công việc. Và tai hoạ giáng xuống bạn tôi cũng v́
đó.
Một ngày đầu năm 2001, hàng trăm rồi hàng người đồng bào dân tộc thiểu số đồng
loạt rầm rập đổ ra từ các buôn làng kéo về thị xă, nay là thành phố Pleiku, kéo
đến khu vựcTỉnh uỷ của Thành phố bao vây, và với yêu cầu đ̣i đất đă bị người
kinh lấn chiếm. Doàn biểu t́nh có đem theo cờ của "nước Đề ga". Vẻ mặt sát khí,
đi đến đâu trong phố cái nhà nào đẹp mỗi người xí phần một cái, chỉ vào này, chỉ
vào cái nọ là của tôi, của tao. Thông tin này dĩ nhiên là lọt ra ngoài hải ngoại
nhanh chóng được thêu dệt lên thành những t́nh tiết gay cấn mà có lẽ tôi không
cần phải nhắc lại. Tôi cũng là một trong những người được biết tin tức này đầu
tiên v́ có liên lạc thường xuyên với gia đ́nh.
Trở lại bạn tôi, sau cái vụ này, bạn tôi bị an ninh chất vấn là đă đưa đoàn
khách nước ngoài giả danh đến để có hoạt động kích động dân chúng, rồi trong
những báo cáo chuyên ngành của bạn tôi được các tổ chức ngoại quốc này trích dẫn
thành một dạng báo cáo về nhân quyền! Và bạn tôi đă bị cách chức sa thải ra khỏi
ngành, mặc dù bạn tôi chẳng có dính líu ǵ đến những chuyện như vậy. Lỗi là phải
lỗi của an ninh, lỗi của xuất nhập cảnh đă không ngăn chặn những người lợi dụng
hoạt động nhân đạo để làm chính trị. Nhưng biết làm sao được.
Theo con đường đất đỏ ngoằn ngoèo nhưng không đến nỗi ổ voi như bảy năm về
trước, chiếc xe máy 100cc đưa tôi đến một làng dân tộc thiểu số ở xă Gla, của
dân tộc Bana, thuộc huyện Dak-đoa trước đó là huyện MangYang thuộc địa phận
Gialai. Xă này nằm về phía đông nam của thị xă, chừng 15 đến 20km. Đó là cái
làng rất quen thuộc với tôi hai mươi năm về trước v́ tôi có khá nhiều người quen
là người bản địa ở đó. Không mấy khó khăn lắm, tôi cũng gặp lại được những anh
em quen biết ngày xưa, bây giờ đă thành ông, thành bà. Một số người đă quá cố v́
bệnh tật hay tai nạn. Nhưng nhắc lại chuyện cũ, ai cũng nhận ra tôi qua mối bang
giao thân t́nh với ba tôi. Tôi hỏi các anh, nhiều trong số các anh này đă từng
theo FULRO -một tổ chức người dân tộc thiểu số do Pháp thành lập c̣n sót lại và
hoạt động chống lại nhà nước rất mạnh vào những năm 80, về chuyện “dân tộc xuống
đường” này. Họ c̣n bảo thêm th́ Fulro với mấy ông Tin Lành Đề-ga cũng như nhau
thôi. Họ có tổ chức như nhà nước vậy, nhưng không nhiều. Và tôi cũng không biết
nhiều lắm. Các anh bảo:
-
Ui cha, đồng bao đâu có muồn đ́ biếu t́nh. Nhứng khống đ́ khống được
đâu à - Ui cha đồng bào đâu có muốn đi biểu t́nh. Nhưng không đi không được
đâu à.
-
Sao lại như vậy?
-
Người ta xúi à, đi th́ có gao ắn, khôn đi th́ khôn được làm đồng bào
tróng buốn này. Tụi tui đấu có muôn đi. Họ báo, cái đất này là của đồng bao,
đồng bao phái đi đ̣i lại. Họ sé giúp đồng bao lấy lại - Người ta xúi à, đi
th́ có gạo ăn, không đi th́ không được làm đồng bào trong buôn này. Tụi tui đâu
có muốn đi. Họ bảo, cái đất này là của đồng bào, đồng bào phải đi đ̣i lại.
Rồi một trong số các anh kể lại chuyện ngày xưa trốn vào rừng đi Fulro, khổ lắm.
V́ bị xúi giục là cộng sản nó ác hơn con thú, mày đă đi rồi mày về th́ nó thịt
mày mất thôi. Sợ lắm, đă lỡ theo rồi không dám về. Sống trong rừng khổ quá, khổ
như con thú chứ không thấy cộng sản dữ như con thú. Sau đó nhiều lần vợ con t́m
đến tiếp tế rồi khuyên bảo măi, các anh bèn liều về thử một vài người. Chính
quyền khoan hồng cho những người quay về, thế là sau đó mọi người về hết, không
ai đi theo Fulro vào rừng nữa. Câu chuyện Fulro cũng kết thúc vào những năm cuối
của thập niêm 80. Tôi cũng có những câu chuyện hăi hùng về Fulro nhưng không
phải chuyện kể ở đây.
-
Thế c̣n chuyện đi sang Campuchia thế nào?
-
Úi cha, họ du dố, đi qua đó là được sang Mư, sống sương lăm. Có nhiều
ngươi nghe theo đi qua, biết bị lưa rối về. -Úi cha, họ dụ dỗ, đi qua đó là
được sang Mỹ, sống sướng lắm. Có nhiều người nghe theo đi qua, biết bị lừa rồi
về.
-
Vậy các anh là theo đạo Tin Lành Đề-ga?
-
Ồ không, tui tui là đao Tin lanh, không phải Đê-ga, nhưng họ biếu tụi
tui vô Đê-ga, sẽ có Quốc gia Tin Lành Đê-ga, sương lăm. Tụi tui không vô -Ô
không, tụi tui là đạo Tin Lành , không phải Đề-ga, nhưng họ biểu tụi tui vô, sẽ
có quốc gia Tin Lành Đề-ga, sướng lắm. Tụi tui không vô.
-
Các anh ở đây có được tự do đi nhà thờ không?
-
Đước chớ! Đi không, tui dẫn đi! -Được chớ, đi không, tui dẫn đi.
Buổi sáng đó là thứ Bảy, tôi được đưa đến một ngôi nhà thờ của làng, nhà cất đơn
sơ, nhưng rộng, bề ngang của nhà thờ cũng khoảng 15 thước hơn, vách bằng ván,
mái lợp tôn, nhưng đứng ở một vị thế khá rộng răi, nh́n ngoài có h́nh tam giác,
trên nóc là cây thánh giá bằng gỗ vút cao. Tụ tập đằng trước là hàng chục, bên
trong nhà thờ đến cả trăm người, thánh lễ đang rước. Cần nói thêm, đối với người
đồng bào dân tộc thiểu số ở đây, Gia lai, có hai nhóm chính là Jarai và Bana,
th́ tuyệt đại đa số họ theo đạo Tin Lành. Đúng hơn là đạo Tin Lành đến với họ
hơn là họ đến với Tin Lành. Họ có cả thánh kinh viết bằng chữ Jarai. Theo rồi
thành quen, thế hệ này sang thế hệ khác. Từ chỗ tự do truyền đạo để rồi phải “tự
do” theo đạo. Tôi chào mấy anh bạn người Bana của tôi ra về. Thú thực tôi cũng
thấy áy náy về đời sống c̣n thiếu thốn của người đồng bào thiểu số, thế nhưng so
với hai chục năm trước, hoặc bảy năm về trước th́ bây giờ tôi đă thấy có nhiều
đổi thay. Xă có trường học, có điện. Tôi cũng ghé vào các làng của người Jarai
ven đô, bây giờ đổi khác nhiều, nhiều nhà xây như nhà người kinh chứ không c̣n
nhà sàn nữa, điện 100%, nhiều nhà có ti-vi. Đối với người dân tộc Bana th́ theo
cảm quan, thu nhập kinh tế thấp hơn người Jarai, nhà cửa của họ xuềnh xoàng hơn.
Nhưng nói chung là dân trí của đồng bào dân tộc tây nguyên c̣n quá thấp so với
người kinh (vốn không cao ǵ), đời sống c̣n phụ thuộc nhiều vào nương rẫy (nay
họ cũng đă học được người kinh cách trồng lúa nước chứ không chỉ làm lúa rẫy đơn
thuần như trước đây), tự túc tự cấp. Bây giờ họ cũng đă biết giao lưu buôn bán
với chợ người Kinh, nhưng không nhiều. Phương tiện giao thông rất thấp, đường
vào làng có phần đă tráng “nhựa” nhưng đa phần chỉ là đường cấp phối, nện đất.
Thanh niên trong làng bây giờ cũng đă có nhiều xe máy, nhưng đa số c̣n lại vẫn
là đi bộ. Chuyện đi bộ vài chục cây số mỗi ngày có lẽ là chuyện vặt của họ. Cuộc
sống của người đồng bào thiểu số ở Việt Nam cũng không khác mấy nếu đi vào sâu
nội địa của Úc để nh́n cuộc sống của người Thổ dân ở đây, tuy nhiên nước Úc hẳn
là phải khác Việt Nam . Chính v́ lẽ đó mà họ dễ bị xúi giục và dụ dỗ bởi những
lời hứa ..hăo về một cuộc sống vật chất sung túc của cái “Quốc gia Tin Lành
Đề-Ga”, và câu chuyện được đưa ra hải ngoại là Nhà nước Việt Nam đàn áp tự do
tôn giáo của đồng bào thiểu số! Có lẽ tôi không cần phải bàn thêm.
Sau sự cố 2001, chính sách ưu tiên cho đồng bào dân tộc ở đây được tăng cường,
nhưng một mặt vấn đề an ninh ở đây cũng được thắt chặt hơn. Tôi nghĩ đó có thể
là điều cần thiết, nhưng mặt khác th́ sẽ có ảnh hưởng đến việc các tổ chức từ
thiện nước ngoài, các tổ chức phi chính phủ, các giới đầu tư ngoại quốc có thật
tâm hợp tác và đóng góp cho sự phát triển của tỉnh nhà sẽ gặp không ít khó khăn
khi muốn đến đây. Và thực tế như vậy. Tôi có gặp một anh bạn quen t́nh cờ trước
đó bảy năm, anh chàng là người Anh, sang đó làm giáo viên tiếng Anh thiện
nguyện, rồi trở thành con rể của thành phố Pleiku. Năm nay anh cũng về đó ăn
Tết. Anh ta bảo anh ta là người “nổi tiếng” ở đây. Điều đó đúng, v́ suốt gần 4
tuần lưu lại quê nhà, tôi không gặp thêm một người tây nào nữa dạo phố núi ngoài
anh ta cả. Cuối cùng sự thiệt tḥi cũng lại là người dân. Nhà nước muốn tạo sự
tự do, nhưng những tổ chức bên ngoài mưu đồ riêng việc của ḿnh, việc nhà nước
phải khép chặt vấn đề an ninh trong những khu vực “nóng”, dân trí thấp như vậy
là chuyện không đáng trách. Chỉ có điều “trâu ḅ húc nhau, ruồi muỗi chết”,
trong đó có sự nghiệp của anh bạn tôi.
Catô- thoả hiệp để bành trướng
Khó mà có thể nhận ra đó là cái nhà thờ của bảy năm trước, nhà thờ Thăng Thiên,
nhà thờ chính của giáo dân Ca-Tô tại thành phố Pleiku. Được thiết kế theo mô típ
nhà sàn dân tộc, nhà thờ Thăng thiên bây giờ trong hoành tráng và khang trang
hơn nhiều so với cái nhà thờ dựng bằng gỗ, lợp tôn đă tồn tại mấy chục năm. Nhà
tôi nằm bên hông xóm đạo, và nhà thờ này c̣n có một trường đạo nằm bên kia đường
nơi mà thời tiểu học tôi cũng đă học ở đó v́ gần nhà. Xóm đạo vẫn nguyên, người
theo đạo vẫn thế, khu xóm bây giờ có khác hơn v́ con đường đá gồ ghề đă được đổ
bê-tông do dân đóng góp với một phần kinh phí nhà nước hỗ trợ trong chương tŕnh
nâng cấp lên thành phố. Ông Câu ông Biện cũ đă quá cố, người khác lên thay.
Thánh lễ vẫn được cử hành thường xuyên, cuối tuần vẫn đông người đi lễ. Người
theo đạo không những không ít đi mà c̣n đông hơn. Tôi có mấy thằng bạn đồng niên
bây giờ cũng thành con chiên của Chúa chẳng qua v́ nó lỡ yêu người em xóm đạo.
Luật lệ đạo sẽ không cho phép nó lấy “người của Chúa” nếu nó không thần phục
Chúa. Và nó trở thành một con chiên bất đắt dĩ từ một Phật tử hoặc một người
theo đạo Lương, tức là thờ ông bà. Nó vẫn chưa tin ǵ ở Chúa dù đă cưới vợ trên
mười năm, nhưng không thể không đi nhà thờ v́ để giữ hoà khí gia đ́nh! Nó kể,
lần rửa tội trước mùa Giáng sinh vừa rồi nó bị “sự cố”. Nó phải chờ chực đến hơn
một tiếng rưỡi cùng gia đ́nh vợ để được đến phiên rửa tội. Tới phiên nó lên, đức
cha bảo nó đọc kinh, nó: “Thưa cha con không thuộc!” Có lẽ là chuyện không thể
tin được, cha nh́n nó với con mắt của người ngoài trần thế! Nó bảo: “Thưa cha,
v́ con yêu vợ con, nên con mới đến đây, chứ kỳ thực con chưa có đức tin ǵ ở
Chúa cả!” Hết chuyện. Cha đành hoà hoăn trước khi cho nó cái bánh thánh: “Thôi,
con đọc kinh sám hối đi!” “Dạ thưa cha con cũng không thuộc nốt!”. Cha nói với
nó ǵ nữa nó cũng không c̣n nghe, nó đi về chỗ của ḿnh với cái bánh không có
phép! Chắc chắn vợ con nó chẳng được kể lại chuyện đó.
Hỏi chuyện những
người bạn xóm đạo của tôi về chuyện đi lễ có được tự do không, th́ tụi nó c̣n
cười cho tôi là đồ lạc hậu. Tụi nó bảo với tôi, sao mày khác quá chỉ có mấy năm
đi hải ngoại về, bộ mày bị “tẩy năo” rồi sao! Nhà thờ vẫn đó, chỉ có đẹp hơn,
con chiên vẫn đó, chỉ có nhiều ra, cha nhà thờ vẫn đó, chỉ có thay đổi nếu cha
già hoặc quá cố. Tôi vẫn c̣n nhớ những vị cha từ cái thời trên ba mươi năm trước
tôi c̣n học tiểu học ở trường đạo này, một số cha vẫn c̣n đương nhiệm. Tôi hỏi
dọ những người bạn của tôi, đạo ḍng và gần gũi với các đức cha sở tại về những
vấn đề như Linh mục Nguyễn Văn Lư, hoặc chuyện tấn phong của Hồng Y Phạm Minh
Mẫn. Tôi hiểu được rằng chính sách của đạo Ca-Tô là phải “thoả hiệp để…mở rộng
nước Chúa!” Họ biết thả con tép bắt con tôm. Họ biết thí tốt để tấn xe. Bên
ngoài họ bằng mặt nhưng trong ḷng họ không bao giờ là cộng sản. Chợt nghĩ lại,
những vị Phật giáo hải ngoại hoặc những phần tử cực đoan Phật giáo trong nước đă
không có một cái nh́n “cao kiến” như những người Ca-Tô. Trong cuộc đua đưa con
chiên về với nước Chúa này, bên ngoài gần như có một kiểu liên tôn chống cộng,
hô hào xúi giục, rồi ủng hộ những giáo phái khác “gây gổ” với chính quyền dưới
cái mác đ̣i tự do tôn giáo. Nhưng bên trong, họ lặng lẽ âm thầm để hành đạo. Cái
bắt tay thân thiện của Hồng Y Phạm Minh Mẫn với Phó Thủ tướng Vũ Khoan hoàn toàn
không có ư nghĩa như cái bắt tay của Thủ tướng Phan Văn Khải với Hoà thượng
Huyền Quang trước đó. Chắc có lẽ chưa ai trong cộng đồng sẽ bảo có những ông
“cha quốc doanh”, nhưng “sư quốc doanh” th́ được “dán nhăn”. Phật tử Việt Nam
cần phải nh́n nhận điều đó trong công việc phụng sự hoằng dương đạo pháp của
ḿnh đừng để lún sâu thêm trong vũng lầy “ngao c̣ tranh nhau…” và bưng nước cho
thiên hạ giải khát.
NT
C̣n tiếp
|
|