|
Kinh Tế Phật Giáo
Quán Như Phạm Văn Minh
Đây là
Chương thứ ba trong tác phẩm Kinh Tế Phật Giáo của Quán Như Phạm Văn
Minh. Phật Giáo mà cũng có lư thuyết kinh tế? Đó là một câu hỏi có thể làm cho
một số người băn khoăn, kể cả Phật tử. Công tŕnh đầy nội lực này có thể đang
muốn trấn an những băn khoăn đó. Trong hai phần trước tác giả đă giới thiệu tư
tưởng của E. F. Schumacher, người dùng từ ngữ Kinh Tế Phật Giáo lần đầu tiên và
Tỳ Kheo Payutto, một học giả Tiểu Thừa. Bài sau đây giới thiệu tư tưởng của một
nhà kinh tế-Phật tử, dùng nguyên tắc căn bản Đại Thừa để phác họa nền tảng lư
thuyết của Kinh Tế Phật Giáo. Các chương trước đă được in trong tác phẩm
Phật Giáo Trong Thế Kỷ Mới tập I và trên Web của Giao Điểm.
Chuyển
Luân
Kinh Tế Phật Giáo theo quan điểm Đại Thừa
Sự sụp đổ của đế quốc Nga và khối Đông Âu khiến chủ nghĩa tư bản thành một khuôn
mẫu kinh tế và chánh trị duy nhất ‘tượng trưng’ cho dân chủ và thịnh vượng của
cả thế giới. Trong tác phẩm The End of History, Fukuyama lạc quan tuyên
bố một cách chắc nịch ‘lịch sử đă đến giai đoạn cuối với chủ nghĩa tư bản’. Để
dân chúng tại các nước đang phát triển khỏi lở ‘chuyến tàu lịch sử’, quá tŕnh
toàn cầu hóa được phát động nhằm ‘khuyến khích’ chánh quyền của các quốc gia này
đón nhận mô thức dân chủ kiểu Tây Phương về mặt chính trị và mô thức tự do mậu
dịch về mặt kinh tế. Nga và khối Đông Âu, sau một thời gian ngắn hồ hỡi ‘dân chủ
hóa’, nhà cầm quyền và dân chúng bắt đầu tự hỏi việc đeo đuổi mô thức chánh
trị-kinh tế kiểu Mỹ là có phải là một thái độ sáng suốt. Các nước nghèo Châu Mỹ
La Tinh cũng sau một thời gian theo chủ trương ‘Mỹ Châu của người Châu Mỹ’, mở
rộng cửa cho chánh sách tự do mậu dịch trong, khi nh́n lại chỉ thấy cái hố sâu
ngăn cách giữa người nghèo và người giàu càng ngày càng thăm thẳm. Ngay cả các
nước Nam Mỹ giàu có nhất, qua một đêm bừng con mắt dậy, chợt thấy ḿnh đang nằm
trên bờ vực phá sản, điển h́nh là Mexico, Brazil và Argentina.
Khi được thố lộ là đang nghiên cứu về kinh tế Phật Giáo, một người bạn thân nh́n
tôi một lúc lâu, rồi nói: “Như vậy đề tài chắc giới hạn lắm!’ Giới hạn? Ngoài
chuyện trở lại lục lạo giáo lư căn bản của Phật Giáo xem có nguyên lư nào hổ trợ
cho ư niệm kinh tế, tôi c̣n phải theo dơi xem Đức Phật có đề cập ǵ đến sinh
hoạt kinh tế hay không. Khi theo dơi những hậu quả của kinh tế thị trường, tôi
c̣n phải đi t́m hiều lập trường của Phật Giáo về các vấn đề môi sinh, nhất là
đối với việc khai thác tài nguyên không tái tạo, thái độ đối với sự nghèo khổ
(và những chế độ chinh trị đưa đến nghèo khổ), đối với chủ trương tiêu thụ hàng
hóa thả cửa, đối với công ăn việc làm, vai tṛ của từ bi trong các hoạt động
thương măi và cuối cùng đến một câu hỏi tối hậu mà mọi tôn giáo đếu muốn có câu
trả lời: ư nghĩa của đời sống là ǵ? Tại sao con người tiếp tục trầm luân trong
biển khổ và làm cách nào để qua bên kia bờ hạnh phúc. Không những đề tài không
bị giới hạn mà càng ngày tôi càng bị lôi cuốn vào nhiều lĩnh vực khác nhau, từ
kinh tế, chính trị, tâm lư, đạo đức và siêu h́nh! Tôi có một người bạn đang
nghiên cứu về đề tài kinh tế Phật Giáo để tŕnh luận án tiến sĩ ở Đại Học Miền
Tây Sydney (UWS). Có lần anh nói: ‘Tôi sẽ đưa ra một mô thức để thay đổi tận
cùng nền tảng đạo đức Tây Phương”. Lúc đó tôi bán tín bán nghi, chỉ chúc tụng xă
giao: ‘Good luck!’
Có một đường lối “thứ ba” nào có thể làm kinh tế phát triển mà không làm tổn hại
đến địa cầu và giúp mọi người cùng hưởng những thành quả kinh tế không? Và ngay
cả khi con người hưởng thụ tràn trề mọi tiện nghi vất chất, con người có đạt đến
“hạnh phúc” không? Con đường “trung đạo” của Đạo Phật có thể đóng góp được ǵ?
Không phải đợi tới khi Schumacher nhắc nhở kinh tế phải phục vụ con người, “as
if People mattered”. “As if” là một ước mơ, là một lời kêu
cứu! Kinh tế càng ngày càng trở nên chuyên biệt hóa và có tham vọng trở thành
một ‘khoa học’ của những “con số”. Con người đột nhiên biến mất và ‘people don’t
matter any more’! Kể từ khi giải Nobel kinh tế được Hội Hàn Lâm Thụy Điển đề
nghị từ năm 1968, các kinh tế gia Mỹ (hay có quốc tịch Mỹ) khống chế số người
được giải. Cho đến năm 1996 có 24 kinh tế gia Mỹ trong số 40 người nhận giải
Nobel và phần lớn chuyên về kinh toán (Econometrics). Các nhà kinh tế này thường
đề nghị những công thức toán học để tiên đoán các mô thức phát triển. Ngược lại
các nhà kinh tế Âu Châu có cái nh́n dịu dàng hơn với con người. Sir John Hicks
(đọat giải Nobel năm 1972) cho thấy trong hàng ngũ của các kinh tế gia Âu Châu
đă có những dấu hiệu “bất tín nhiệm” các mô thức dựa trên kinh toán và xem kinh
tế không thể nào hoàn toàn là một môn khoa học “phổ quát” “hợp lư” thường được
gọi là ‘economic rationalism’. Joseph E. Stiglitz, người được giải Nobel 2001,
phó giám đốc Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) đă chỉ trích những biện pháp cứng
nhắc sai lầm của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Amartya Sen, người được giải Nobel
năm 1998, đă đưa ra một con đường “thứ ba”, vừa giúp các nước thuộc “thế giới
thứ ba” phát triển, vừa bảo vệ kinh tế và văn hoá địa phương, cũng như thực hiện
một chánh sách phân phối tài sản quốc gia một cách công bằng hơn. Quan điểm của
hai kinh tế gia trên rất quan trọng bởi họ là những người chủ trương ‘chủ nghĩa
xét lại’ về kinh tế.
Nổ lực dùng đạo đức để hướng dẫn đường lối phát triển kinh tế không phải chỉ mới
xuất hiện gần đây, ngay chính “cha đẻ’ của nền kinh tế tự do, Adam Smith
(1723-1790) cũng đă đặt vấn đề này. Trong khi tác phẩm The Wealth of Nations
được khai thác một cách tận t́nh và được xem như là thánh kinh, tác phẩm The
Theory of Moral Sentiments của Smith, đặt vấn đề liên hệ giữa tư lợi và đạo
đức, bị các nhà kinh tế cố t́nh bỏ quên. Trong khi The Wealth of
Nations cổ vơ cho một nền kinh tế bất can thiệp (Laissez-faire) và cho rằng
tham lam và tư lợi là “bản chất” của con người và là động cơ chính yếu thúc đẩy
các hoạt động kinh tế. Kinh tế bất can thiệp sẽ tạo sự giàu có cá nhân và do đó
đưa đến sự giàu có quốc gia. Giả thuyết như “bàn tay vô h́nh” hướng dẫn thị
trường của Smith đă bị thách đố và hiện nguyên h́nh là những ‘giả thuyết’, những
‘tiền đề’, cũng giống như tiền đề “ai cũng có Phật Tính” hay ‘nhân chi sơ tánh
bản thiện” của Mạnh Tử. Vào cuối đời, khi cuộc cách mạng kỹ nghệ lên tới mức cao
điểm, chính Smith đă chứng kiến bộ mặt trái của nên kinh tế tự do: các nông dân
Anh bỏ nông thôn ra thành thị t́m việc làm nhưng thay v́ hưởng được thành quả
của cuộc cách mạng kỹ nghệ, họ trở thành công nhân vô sản ở các thành phố lớn.
Từ ‘bần nông dân’ qua ‘bần công nhân’, họ sống một cuộc đời lầm than, vất vưởng
không gốc không rễ. Chính sự bần cùng do cuộc cách mạng kỹ nghệ gây ra đă biến
thành một mảnh đất mầu mỡ cho sự phát triển của chủ nghĩa Mác và sự h́nh thành
chế độ Cộng Sản. Các kinh tế gia Anh sau đó ít người c̣n tin vào “bàn tay vô
h́nh” của Smith, như J.S Mills (1806-1873), Alfred Marshall (1842-1924) và nổi
tiếng nhất là J.M. Keynes (1883-1946), đều nghiêng về sự can thiệp của chánh phủ
trong trường hợp cần thiết để ngăn chận những hậu quả thái quá của Kinh Tế Thị
Trường.
Nhà kinh tế Anh Joan Robinson (1903-1983) nửa thật nửa đùa nói là mọi người nên
học kinh tế, không phải để t́m một giải pháp nào, nhưng để khỏi bị các huyền
thoại kinh tế đánh lừa. Cũng như nhiều môn tự nhận “khoa học’ khác, môn kinh tế
có nhiều “huyền thoại” cần được “giải hoặc”. Thí dụ như huyền thoại ḷng tham
lam là ‘bản tính con người’, tư lợi cá nhân là động lực chính thúc đẩy các hoạt
động kinh tế và “bàn tay vô h́nh” sẽ tự động điều hợp các hoạt động kinh tế. Từ
lúc Thatcher- Reagan nắm chính quyền, các quốc gia đang phát triển đă được
“khuyến khích”, “thúc đẩy” và nếu cần “ép buộc” các quốc gia này ‘hồ hỡi’ chấp
nhận mô thức phát triển Tây Phương. Ở đâu người ta cũng nghe ‘kinh tế thị
trường, please, please!’ kể cả những quốc gia có quốc hiệu là ‘xă hội chủ
nghĩa’.
Shinichi Inuoe, một người lănh đạo ngành tài chánh và ngân hàng của Nhật, đă
dùng tư tưởng của đạo Phật để nghiên cứu là cổ động cho một nền kinh tế không
(hay ít ra cũng bớt) tàn hại môi sinh. Sau khi tốt nghiệp ngành kinh tế tại đại
học Tokyo, Inoue gia nhập Bank of Japan và dần dần đảm nhiệm những chức vụ quản
lư cao cấp. Sau đó ông được đề cử vào chức vụ Chủ Tịch Ban Quản Trị Ngân Hàng
Miyakazi vào năm 1975. Hiện nay ông là chủ tịch phong trào Phát Triển Phật Giáo
(Bukkyo Shinko Zaidan) và là một thành viên của Viện Nghiên Cứu Kinh Tế Phật
Giáo thuộc Đại Học Komazawa. Cũng như phần lớn các thanh niên tân học, ông chỉ
đến với Phật Giáo khi có những xáo động tâm linh lớn lao. Cha mẹ ông qua đời khi
ông c̣n là một học sinh tiểu học. Nhận thấy lời Phật dạy về vô thường, ông bắt
đầu nghiên cứu tư tưởng của Đạo Nguyên, tổ phái thiền Tào Động và Thân Loan, tổ
phái Tân Tịnh Độ Nhật, dù thoạt nh́n tư tưởng hai phái này có vẻ tương phản
nhau. Trong thời gian theo học ngành kinh tế, ông lấy làm ngạc nhiên v́ chương
tŕnh học không để ư ǵ đến mối liên hệ giữa đạo đức và kinh tế, không để ư đến
việc phân phối tài sản quốc gia để mọi người có thể hưởng được thành quả kinh
tế. Dù Phật Giáo đă thấm sâu vào văn hóa Nhật, chương tŕnh kinh tế tại các đại
học không để ư ǵ đến vai tṛ của Phật Giáo trong các mô thức phát triển. Chỉ
khi ông về hưu, ông mới đọc được một tác phẩm “kinh tế Phật Giáo” do Giáo Sư
Tomoji Hirayama thuộc đại học Tsukuba. Sau đó ông hoàn toàn để th́ giờ nghiên
cứu về kinh tế Phật Giáo tại đại học Phật Giáo Komazawa. Ông thú nhận đă bị ảnh
hưởng sâu đậm từ tác phẩm Small is Beautiful. An Economic As If People
Mattered của E. F. Schumacher.
Sự tương phản giữa một khoa học công khai ca ngợi “Greed is Good”, cổ động cho
ḷng ham muốn tiêu thụ và vinh danh luật “chọn lựa tự nhiên về phương diện xă
hội”, mạnh được yếu thua, và một tôn giáo chủ trương giảm thiểu ham muốn và lấy
từ bi làm căn bản đạo đức đă quá rơ ràng! Sau nhiều năm thảo luận với các lănh
tụ doanh nghiệp và công nhân, Inoue đă hoàn thành hai tác phẩm Buddhist
Business Management được phát hành vào năm 1987 và Economics To Save the
Earth, phát hành vào năm 1994. Hai tác phẩm trên được tổng hợp và dịch ra
Anh Ngữ với nhan đề Putting Buddhism To Work do nhà xuất bản Kodansha
xuất bản vào năm 1997. Như nhan đề cho thấy Inoue không chú tâm bàn luận đến
những vấn đề lư thuyết như Schumacher, nhưng đề cập đến yếu tính của một nền
kinh tế Phật Giáo cũng như những ǵ đă được ứng dụng và thực hiện tại Nhật, một
nước Á Châu có thành quả về kinh tế không thua bất cứ một nước Tây Phương nào.
Theo Inoue, Nhật là một quốc gia thích hợp nhất để t́m một mô thức “mới” về phát
triển kinh tế thị trường, dựa trên những giá trị đạo đức truyền thống, nhất là
Phật Giáo. Cuộc đời của Đức Phật là một thí dụ điển h́nh để suy nghĩ về mô thức
kinh tế. Đức Phật đă từ bỏ những tiện nghi vật chất trong cung vàng để đi t́m
một giải đáp cho nhu cầu tâm linh. Sau nhiều năm học hỏi nhiều cách tu tập khác
nhau, Phật nhận thấy rằng con đường khổ tu cũng cực đoan như con hưởng hưởng thụ
vật chất. Phật Giáo không bao giờ nên được hiểu như một tôn giáo phủ nhận kiếp
nhân sinh hay chỉ dành cho những người tu tập trong hang thâm cùng cốc hay quay
lưng lại với cuộc đời. Trong khi thế hệ đệ tử sống gần Phật thời Ngài c̣n tại
thế có thái độ bảo thủ và xa cách với quần chúng, các tân tăng trong các phái
Đại Thừa hiểu rơ về bài học của cuộc đời của Đức Phật. Nếu muốn từ bỏ cuộc đời,
Đức Phật đâu có bỏ ra 49 năm truyền bá giáo pháp. Đối với các Phật tử Đại Thừa,
Phật Giáo là con đường Phật Giáo Nhập Thế của các vị Bồ Tát. Nói nhập thế là nói
gượng ép, v́ nói cho rốt cùng, Phật Giáo nào mà chẳng nhập thế, như chữ
của Hoàng Nguyên Nhuận dùng trong bài phê b́nh tác phẩm Phật Giáo Nhập Thế của
tôi.
Một trong những người thấm nhuần Phật Giáo trong hoàng gia Nhật là Thái Tử
Shotoku (574-622) và là một trong những người thảo Hiến Pháp Thập Thất Điều của
Nhật, trong đó phản ảnh đậm đà tư tưởng Phật Giáo. Hiến pháp Nhật cổ động sự hoà
hợp và tương nhượng giữa các tôn giáo (giữa Thần Đạo và Phật Giáo). Một dấu ấn
quan trọng khác trong hiến pháp Thất Thập Điều là việc đặt trọng tâm vào sự an
sinh của dân chúng, nhất là những người nghèo. Trong thời kỳ này các tự viện
Phật Giáo Nhật thường dựa vào sự cúng dường của giai cấp thương gia. Có thể v́
muốn đề cao vai tṛ của giới doanhnghiệp, quan niệm về quyền sở hữu, tài sản và
tiền bạc của giới sa môn cũng rộng răi hơn so với Phật Giáo Tiểu Thừa. Trong
thời đại Sứ Quân - Tokugawa (1600-1868) Nhật bắt đầu bước vào một thời đại phồn
thịnh về kinh tế và hệ thống tiền tệ đă bắt đầu có cơ sở vững chăi. Một nhà
nghiên cứu về nước Nhật, Edwin O. Reischauer (1910-1990) nhận xét đây là giai
đoạn nước Nhật phát triển một chủ nghĩa “tư bản” cho riêng ḿnh. Một nhà nghiên
cứu khác, Robert Bellah, cho rằng thời kỳ phát triển kinh tế này ở Nhật tương
đương với thời kỳ phát triển kinh tế tư bản ở Tây Phương, dưới ảnh hưởng của đạo
Tin Lành.
Một trong những nhà sư có ảnh hưởng đến chủ nghĩa “tư bản” quốc gia Nhật là
Suzuki Shasan ((1579-1655). Nhà sư này cho rằng dù làm một công việc ǵ, cá nhân
đó đều đáng tôn trọng v́ họ đang hành tŕ một pháp môn trên con đường giác ngộ.
Shasan thường nhắc nhở đến pháp thoại sau: “Những người nào đang hoạt động kinh
tế sẽ được tưởng thưởng xứng đáng cho những cố gắng của họ, bởi v́ những công
việc này cũng là một cách thực tập tâm linh”. Ông khuyến khích các thương gia
suy nghĩ về những giá trị tâm linh, nên thành thật trong các hoạt động thương
măi, và phát tâm bồ-đề, hành sử như các vị Bồ Tát, lúc nào cũng lo lắng đến an
sinh của người khác. Quan niệm này cũng tương tự như quan niệm của Schumacher về
công việc làm. Công ăn việc làm không những đem lại lợi tức cần thiết để sinh
sống, mà c̣n là thực phẩm nuôi dưỡng tâm linh. Do đó một thương gia chân chính
không những xứng đáng có một đời sống vật chất dồi dào, họ c̣n có cơ hội tu tập.
Tư tưởng này cũng rất gần gũi với quan niệm của Weber về sự liên hệ giữa giá trị
đạo đức Tin Lành và quá tŕnh phát triển kinh tế Tư Bản ở Tây Phương. Trái với
những ngộ nhận thông thường, Phật Giáo không bao giờ cổ động cho sự nghèo khổ,
nhất là sự nghèo khổ đó do một cơ cấu chánh trị và xă hội bất công gây ra. Thành
quả vật chất và một đời sống sung túc không có ǵ sai trái nếu như tài sản kiếm
được một cách chính đáng, như cần kiệm, khả năng cao và nhiều sáng kiến. Tuy
nhiên một trong những hạnh nguyện của Bồ Tát là Bố Thí, nghĩa là sử dụng tài sản
một cách hợp lư và rộng răi. Bủn xỉn mới là điều đáng trách v́ chứng tỏ người
này c̣n chấp ngă và lúc nào cũng khư khư giữ chặt tài sản. Đạo đức Tin Lành biện
chính cho sự giàu sang trong xă hội tư bản bằng cách cho rằng sự thành công về
mặt vật chất phản ảnh ân sủng trực tiếp của Thiên Chúa. Điểm khác nhau giữa hai
bên là, trong khi Phật Giáo khuyến khích các tín đồ tiết dục, Tin Lành khuyến
khích tín đồ tích lũy tài sản. Càng giàu chừng nào chứng tỏ càng được nhiều ân
sũng của Thiên Chúa chừng đó. Ḷng tham không những không đáy mà c̣n biểu lộ
quyết tâm hợp nhất với Chúa!
Một khuôn mặt khác đóng góp nhiều cho chủ nghĩa “Tư Bản” quốc gia Nhật là Rennyo
(1415-1499). Ông là đệ nhị tổ của phái Tịnh Độ, Jodo Shinshu. Nhà sư này đă
khuyên các thương gia: “Khi hoạt động thương măi, nên xem công việc của ḿnh như
là công việc hoằng hoá của Phật”. Các thương gia khắp nước Nhật trân trọng lời
khuyên này, nhất là ở hai khu vực Ohmi (Shiga) và Osaka, nơi ảnh hưởng của vị sư
này mạnh nhất. Ngay cả đến ngày nay, một doanh nghiệp được sáng lập ở khu này,
Itochu, đă phát triển thịnh vượng nhờ chấp nhận lời khuyên này.
Những Kinh Nghiệm Về Kinh Tế Tư Bản Ở Nhật
Kinh tế Nhật phát triển từ thời đại Tokugawa và mặc dù cần nhiều tư bản và nhiên
liệu để sản xuất, nhưng đó là một mô thức kinh tế “tái chế biến” và tránh làm ô
nhiễm môi sinh, khác với nên kinh tế hiện đại của Nhật.
Đây là triều đại vơ sĩ đạo sứ quân, kinh đô được đặt ở Edo. Lúc đó triều đ́nh và
các sứ quân nơm nớp lo sợ thế lực thực dân Tây Phương v́ Nhật chứng kiến các
nước thực dân đến xâm chiếm các quốc gia Đông Á, đàn áp chánh trị, bóc lột kinh
tế và dùng các nhà truyền giáo để cải đạo tập thể dân địa phương bằng mọi cách.
Tin Lành lẫn Công Giáo trở thành khí cụ xâm lăng văn hoá và nhắm bứng gốc rễ
tinh thần của các dân bản địa. Chánh quyền sứ quân do đó đă thi hành một chánh
sách đóng cửa, chỉ buôn bán với Ḥa Lan và chỉ mở một cửa khẩu là Nagasaki để
giao thương. Edo trở thành trung tâm kinh tế quốc nội và chánh quyền trung ương
áp lực các sứ quân địa phương để có những giao hoán thường xuyên giữa kinh đô và
các thành phố địa phương. Người ta chứng kiến các giao lưu nhân sự và thương măi
nhộn nhịp, hàng hoá, tiền bạc giúp cho nền kinh tế quốc nội phồn thịnh. Bấy giờ
Edo là một có thành phố đông dân nhất thế giới và hoạt động kinh tế làm các
thành phố càng ngày càng nhộn nhịp. Thế nhưng chánh quyền áp dụng chánh sách tái
chế biến để giảm ô nhiễm môi sinh và là một kinh tế tái chế biến có hệ thống qui
mô so với thời bấy giờ. Phân người được thu nhặt và tái chế biến thành phân bón
và chuyên chở đến các nông dân tại các vùng xa xôi. Phân bón được hoán đổi với
rau cải hay các hoa màu khác. Một hệ thống các ống bằng gỗ được dùng để dẫn và
phân phối nước một cách có hiệu năng và tránh được phung phí. Các rác thải từ
các thành phố cũng được đốt và tái chế biến thành phân bón. Các dụng cụ được chế
tạo bền bĩ lâu hư để khỏi phải sửa chữa. Các nước dơ thay v́ thải ra có thể làm
dơ bẩn sông lạch, được dẫn về các nơi nhất định để nước tự thấm vào ḷng đất.
Các kỹ thuật tái chế biến này từ thời kinh tế Edo được viện nghiên cứu Nishihara
Eisei, được thành lập từ năm 1916, tiếp tục cải thiện để chế biến các rác rến
thải ra từ các hệ thống rănh hiện nay ở Nhật. Những nguyên tắc tái chế biến để
giảm mức ô nhiễm một cách tối đa này được gọi là Mottainai. Từ ngữ Nhật
này có nghĩa là con người cảm thấy nhỏ bé trước thiên nhiên vĩ đại và đồng thời
cũng cám ơn thiên nhiên đă cung cấp tài nguyên cho mọi chủng loại sống c̣n. Ư
niệm này phát nguồn từ sự kính trọng thiên nhiên của đạo Phật: tất cả chúng
sinh, từ đất đá cỏ cây đều có đời sống riêng và có Phật Tánh. Một nhân vật nữa,
Ishida Baigan (1685-1744) đă phối hợp đạo lư của tam giáo tại Nhật (Thần Đạo,
Phật và Khổng) để làm nền tảng đạo đức cho giới thương gia ở thời Edo tại Nhật.
Đến thời Minh Trị (1868-1912) Thần Đạo bắt đầu thắng thế và vai tṛ của Phật
Giáo bắt đầu lu mờ. Các tư tưởng Tây Phương cũng bắt đầu du nhập vào Nhật. Trong
giai đoạn này một người được xem như là nhân vật đóng góp rất nhiều vào kinh tế
tư bản Nhật hiện đại, Eiichi Shibusawa (1840-1931). Gốc nông dân, nhưng sau ông
cố gắng vươn lên một địa vị chính yếu trong chánh quyền, Shibusawa tin tưởng
rằng thương mại và đạo đức phải song hành. Một nhân vật khác, Zenjiro Yasuda
(1838-1921) đă thành lập một ngân hàng tư nhân lớn nhất ở Nhật, The Fuji Bank.
Ông là một tín đồ thuần thành của phái Tịnh Độ và bắt đầu sự nghiệp với nghề đổi
tiền. Không như những ngân hàng lớn khác thường đối xử với khách hàng tuỳ theo
địa vị xă hội, Yasuda đối xử với mọi người hoàn toàn như nhau. Đối với các tín
đồ trong phái Tịnh Độ, mọi người đều tuyệt đối b́nh đẵng dưới mắt của Phật A Di
Dà. Châm ngôn của ngân hàng của ông là “khi hoạt động thương mại, phải biết quên
ḿnh và đặt ḿnh vào địa vị của khách hàng”. Ông tặng nhiều số tiền lớn cho các
Hội Từ Thiện nhưng không cho ai biết tông tích. Đến khi ông mất, mọi người mới
biết ông đă giúp đỡ cho nhiều hội từ thiện. Đối với Phật Tử, làm việc thiện là
một cách thực tập hạnh bố thí, không phải là một cách khoe khoang. Người kế thừa
Yasuda là Kichizaemon Takemura (1900-1984), tiếp tục xây dựng công ty bảo hiểm
Yasuda Mutual Life Insurance và tiếp tục cổ động nhũng ư tưởng Phật Giáo trong
các hoạt động kinh tế. Ông xuất bản tập san Kokoro no Kate (Thực Phẩm Tâm Linh)
và thành lập tổ chức Hoằng Hoá Phật Giáo (Bukkyo Shinko Zaidan).
Những Nguyên Tắc Nền Tảng Của Kinh Tế Phật Giáo
Không như Tỳ
kheo Payutto dùng kinh điển để giải thích các ư niệm kinh tế, Inoue dùng một số
nguyên tắc căn bản của Phật Giáo Đại Thừa để thành h́nh một mô thức kinh tế mà
trọng tâm là phục vụ con người, hay nói như E.F. Schumacher, People Matter.
Kinh tế hiện đại sa lầy vào con đường định lượng và cố gắng chứng tỏ tự thân là
một loại khoa học không bị ràng buộc vào một giá trị nào. Nguyên tắc đầu tiên
Đại Thừa dựa trên lời nguyện của Bồ Tát. Bồ Tát từ chối theo con đường Độc Giác
Phật, quyết ở lại cơi ta bà để cứu độ tất cả chúng sinh. Nguyên tắc kinh tế đầu
tiên do đó là ‘lợi ḿnh và lợi người’, như một ngạn ngữ Tây Phương- Live and
Let Live. Kinh tế thị trường chỉ thúc đẩy con người nhắm mắt chạy
theo tư lợi và làm tất cả mọi cách để đạt đến mục đích này. Đó là một thứ luật
rừng về mặt xă hội, như luật chủng loại mạnh sống yếu chết trong thuyết tiến hoá
của Darwin. Thân Loan (Shinran 1173-1263), người sáng lập ra Tịnh Độ tông ở
Nhật, nhấn mạnh đến nguyên tắc lợi ḿnh-lợi người trên b́nh diện tôn giáo, nhưng
nguyên tắc này có thể áp dụng vào mục tiêu Kinh Tế Phật Giáo. Một vị sư khác,
Đạo Nguyên, cũng nói: “Khi đạt đạo th́ không c̣n phân biệt đâu là ta- đâu là
người”. Nhà kinh tế Schumacher cũng nhấn mạnh đế nguyên tắc này trong Small
is Beautiful sau nhiều năm sống và quan sát xă hội Miến Điện. Nhiều người lo
ngại là nguyên tắc này đă bị lợi dụng qua câu khẩu hiệu: “Một v́ tất cả, tất cả
v́ một” của nền kinh tế xă hội chủ nghĩa. Họ lư luận là một nền kinh tế nhấn
mạnh đến quyền lợi chung đă thất bại và sự phá sản là một bằng chứng quá hiển
nhiên. Sự sụp đổ chính quyền tại các quốc gia thuộc khối Xă Hội Chủ Nghĩa có
nhiều lư do, nghĩ cho cùng, cũng tại v́ câu này trở thành một khẩu hiệu rỗng
không thay v́ là mục tiêu thực sự. Trong nhiều quốc gia thuộc khối Xă Hội, giới
hữu quyền chỉ là một thứ giai cấp mới, thay thế những người ăn trên ngồi trước
trong các chính quyền phong kiến hay thực dân trước kia. Chưa kể là các chánh
quyền xă hội chủ nghĩa này tiếp tục duy tŕ một chế độ bất công về xă hội như
trong các chế độ trước kia.
Nhiều người nghĩ ḷng vị tha- bố thí (hiểu như hạnh Bồ tát) có thể giúp cá nhân
trong việc tu nhân tích đức để kiếp sau được tái sinh vào một giai tầng ‘khá’
hơn, nhưng không đóng một vai tṛ tích cực nào trong hoạt động kinh tế. Inoue
dẫn chứng trường hợp của Henry Ford (1853-1947), nhà sản xuất xe hơi lớn nhất ở
Mỹ. Các quản lư doanh nghiệp thông thường t́m cách giảm sở phí nhân công càng
nhiều càng tốt và trong trường hợp của kinh tế toàn cầu, dùng nhân công ở các
nước nghèo với tiền lương rẻ mạt. Tuy nhiên Ford nhận thấy rằng hàng sản xuất
phải có người tiêu thụ, nên trả lương nhân công ở mức khá cao để họ có đủ lợi
tức để mua xe và đồng thời t́m cách kiện toàn kỹ thuật sản xuất hàng loạt để hạ
giá thành của xe hơi ở mức tối thiểu. Inoue cũng đưa ra một thí dụ khác liên hệ
đến một nhà kỹ nghệ Nhật, Tadao Yoshida (1908-), chủ nhân kỹ nghệ sản xuất dây
kéo - zipper. Ông ta vừa cố gắng giữ giá thành ở một mức hợp lư để cho có nhiều
người tiêu thụ và đồng thời dùng tiền lời đầu tư vào việc nghiên cứu để hoàn
thiện kỹ thuật sản xuất zipper và công ty của ông hiện nay trờ thành một công ty
đứng hàng đầu thế giới về ngành này.
Cũng như Schumacher, Inoue nhận ra đặc tính thứ hai của kinh tế Phật Giáo là độ
lượng và hoà b́nh. Các nước theo Phật Giáo có thể liên hệ đến các cuộc chiến
tranh v́ những lư do khác nhau nhưng chưa bao giờ nhân danh Phật Giáo để để dấn
thân hay tham dự vào một cuộc ‘thánh chiến’. Giới sát là giới quan trọng đứng
hàng đầu trong các giới cấm và nếu giải thích trong hoàn cảnh hiện đại, người
Phật Tử không những không trực tiếp sát nhân, mà cũng không được cổ vơ hay ủng
hộ một cơ cấu chính trị chủ chiến. Giới sát này đă là nguồn cảm hứng cho Gandhi
khởi xướng nguyên tắc bất bạo động. Một trong những Phật Tử thi hành chánh sách
độ lượng và hoà b́nh là Asoka, một h́nh ảnh đúng nhất của ẩn dụ đồ tể buông dao
thành Phật. Sau khi gây ra cảnh máu sông xương núi, Asoka cố gắng xây dựng một
nền kinh tế và chính trị trong đó mọi người có đủ ăn đủ mặc. Vị hoàng đế này
thừa biết rằng bần cùng sinh đạo tặc, chính sự nghèo đói đă gây ra những bất ổn
xă hội. Ông cũng tạo ra những chế độ an sinh xă hội cần thiết, đi trước chế độ
an sinh Tây Phương gần 20 thế kỷ.
Trong quá khứ có nhiều Phật Tử Nhật kêu gọi chánh phủ không nên giao dịch với
những quốc gia sản xuất và buôn bán vơ khí. Tuy nhiên những lời kêu gọi này chỉ
là những tiếng kêu lẻ loi không thực tế, nhất là trong hai thế chiến vừa qua,
các chánh phủ quân phiệt Nhật xếp hàng với các chế độ trong trục Quốc Xă và cũng
trong hai cuộc thế chiến, có nhiều nhà sư Nhật đă dùng kỹ thuật thiền định để
huấn luyện có các vơ sĩ đạo và quân nhân, tuy nhiên điều này không có nghĩa là
những nguyên tắc bất bạo động không c̣n áp dụng được nữa. Trong lịch sử Nhật có
nhiều vị hoàng đế ‘phản chiến’ như Kammu (781-806). Mặc dù bị Đại Hàn đe dọa
trên mạn Bắc, vị hoàng đế này đă cố gắng hành động theo những nguyên lư đạo đức
Phật Giáo. Ông giải tán quân đội Nhật và chỉ giữ lại một quân đoàn pḥng vệ biên
giới Nhật-Đại Hàn. Các lănh chúa địa phương chỉ được quyền tổ chức một đạo quân
kiểu ‘nhân dân tự vệ’, đóng vai tṛ cảnh sát ngày nay. Trên thực tế Nhật không
có một quân đội chánh thức nào cho đến thời đại Kamakura (1192-1333). Sau thế
chiến thứ Hai, hiến pháp Nhật có ghi một điều luật cấm chính quyền không được tổ
chức một quân đội có khả năng tấn công. Rất tiếc gần đây chính quốc gia chiến
thắng (Mỹ) lại là nước ‘khuyến khích’ Nhật trở lại hàng ngũ của chủ nghĩa quân
phiệt. Cái viễn ảnh vừa là một cường quốc kinh tế, vừa là một cường quốc quân sự
có thể quyến rũ các chánh phủ Nhật trong thời gian sắp tới đi vào con đường tái
vơ trang và không ai biết hậu quả sẽ đến mức nào.
Một Nền Kinh Tế Cứu Văn Địa Cầu
Như Weber
chứng minh, giữa kinh tế tư bản và đạo đức Tin Lành có một mối liên hệ mật
thiết. Thần học Ky-Tô Giáo nói chung tạo ra một lối suy nghĩ và lối sống của
người Tây Phương. Nói một cách khác, văn hóa Tây Phương tất nhiên đưa đến kinh
tế tư bản. Và theo Schumacher những quốc gia thấm nhuần văn hóa Phật Giáo lẽ ra
có thể thực hành mô thức kinh tế Phật Giáo. Mơ ước viễn vông?
Schumacher tin là điều này có thể thực hiện được. Nếu đạo đức Tin Lành làm sản
sinh ra kinh tế tiêu thụ, văn hoá Phật Giáo (lẽ ra) phải phát sinh ra một nền
kinh tế Phật Giáo. Nhưng Bụt nhà không thiêng! Chính quyền các quốc gia Đông Nam
Á đang phát triển ‘trân trọng’ mời các ‘cố vấn’ Tây Phương để lập ra những kế
hoạch vĩ đại 5 năm hay 10 năm, và hăm hở chấp nhận kinh tế thị trường. Không ai
chịu chậm chân v́ không ai muốn trễ chuyến tầu lịch sử!
Thần học Ky-Tô xem con người là trung tâm (anthropocentrism). Con người là “sản
phẩm” của Thượng Đế nên chiếm một địa vị tối thượng và địa cầu là trung tâm vũ
trụ. Ai nói ngược lại là lên giàn hỏa! Vào năm 1989 tạp chí Time, thay v́ chọn
một nhân vật xuất sắc nhất trong năm, đă chọn địa cầu là Planet of the Year.
Đó là những năm mà khối Xă Hội Chủ Nghĩa đang sụp đổ và chủ trương tự do mậu
dịch và toàn cầu hóa của Thatcher và Reagan trở thành “vô địch”. Khủng hoảng môi
sinh lên đến mức trầm trọng và viễn ảnh của mối đe dọa đối với bầu khí quyển -
greenhouse effects, có thể đưa địa cầu đến chỗ hủy diệt. Một trong những bài
viết do một Thượng Nghị Sĩ Mỹ, cho là việc diễn dịch một đoạn trong Thánh Kinh
một cách cứng nhắc có thể là một trong những lư do đưa đến chính sách kinh tế
hủy diệt các chủng loại trên mặt địa cầu một cách không thương tiếc. Đó là đoạn
1:27-28 trong sách Sáng Thế Kư, Genesis: “Thượng Đế tạo người Nam và người Nữ
theo h́nh ảnh riêng của Ngài. Thượng Đế ban phép lành và nói với họ: “Các ngươi
phải sinh con đẻ cái cho thật nhiều, tràn đầy mặt đất và chế ngự địa cầu. Khuất
phục cá dưới biển, chim trên trời và tất cả các sinh vật sống ở Địa Cầu.”
Dĩ nhiên đoạn này có thể chú giải nhiều cách, nhưng có nhiều người hiểu một cách
chắc nịch là Thượng Đế đă bật đèn xanh cho con người thống trị và tàn sát những
sinh vật khác.
Phật Giáo trái lại không xem con người là quan trọng nhất mà chỉ là một cơi
trong lục đạo, dù Đức Phật nhiều lần nhắc các đệ tử việc được sinh vào kiếp
người là một điều may mắn, v́ chỉ có con người mới có nhiều cơ hội nghe Chánh
Pháp và do đó có nhiều cơ duyên để giải thoát. Khi nh́n nhận tất cả chúng sinh,
đất đá, cỏ cây, vi sinh vật và muôn thú, đều có Phật Tính, tức là một h́nh thức
chấp nhận sự b́nh đẵng tuyệt đối giữa mọi chủng loại.
Nguyên tắc thứ hai, nguyên tắc quan trọng nhất trong kho tàng kinh điển, thường
hay gọi là Lư Duyên Khởi. Không có một chủng loại nào có thể tồn tại biệt lập,
cái này sống nhờ cái kia, trong chuỗi nhân duyên trùng trùng không đầu không
cuối. Ẩn dụ xâu chuỗi Đế Thích, hạt chuỗi này phản ảnh hột chuỗi khác, không làm
ǵ có một xâu chuỗi chỉ có một hột. Có một là có tất cả, từ một hạt bụi, cho đến
tam thiên đại thiên thế giới. Lư thuyết này trong một chừng mực nào đó đă được
hai khoa sinh học và vũ trụ học hổ trợ. Nhỏ nhất là genomes, lớn nhất là vũ trụ-
có thể có những vũ trụ song hành - ngoài vũ trụ- mà các nhà thiên văn vẫn chưa
khám phá ra. Như Nguyễn Công Trứ nói: ‘nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài’
hay như Trần Thái Tông ‘Có th́ có tự mảy may. Không th́ cả thế gian này cũng
không’.
Trong b́nh diện kinh tế, việc khai thác tài nguyên không tái tạo như than đá,
quặng mỏ và dầu lửa sẽ gây ra những tổn hại không thể cứu chữa được đối với địa
cầu. Rừng cây bị phá hủy (chỉ để làm gỗ vụn hay đũa gỗ!) một cách thô bạo khiến
bao nhiêu chủng loại sinh vật không c̣n đất sống và bị diệt chủng dần dần. Đâu
khác nào chúng ta gây ra trận chiến tranh diệt chủng! Thần học Ky-Tô chỉ để ư
đến con người nên không thấy việc tận diệt các chủng loại sinh vật khác là ‘tàn
ác’, nhưng dưới con mắt của Phật Tử th́ có khác. Hạt bụi nào hóa kiếp thân
tôi! Làm sao em biết bia đá không đau? Phật Giáo Đại Thừa, nhất là Thiền,
nhấn mạnh tới thể giới hiện tiền - ở đây và bây giờ. Khai thác các tài
nguyên không tái tạo và nhất là xài tài nguyên một cách phung phí là một cách tự
hủy diệt quê hương hiện tiền duy nhất của tất cả ‘chúng sinh’. Thay v́ chờ đến
‘kiếp sau’, chúng ta nên xem địa cầu như là quê hương duy nhất ở đây bây ǵờ
và xem hành động hủy hoại sinh vật và tài nguyên như chuyện một đứa con hư, châm
lửa đốt nhà của cha mẹ ḿnh. Chặt cây cũng phải được xem như là hành động phạm
giới sát. Các nhà Sư ở Thái Lan chống đối việc chánh phủ hủy hoại rừng một cách
vô trách nhiệm, đă làm lễ qui y cho các cội cây lớn. Dân Thái Lan phần lớn theo
đạo Phật nên các phu đẵn gỗ ngần ngại khi ra tay sát thủ, dù là sát thủ một cội
cây. Bất cứ môn phái nào trong Phật Giáo đều đồng ư với nguyên lư trùng trùng
duyên khởi. Một tượng Phật vĩ đại được xây ở đền Todaiji ở Nara. Phật ngồi tĩnh
tọa trên một đài sen lớn và nếu đến gần và nh́n kỹ, chúng ta thấy trên mỗi cánh
sen, chúng ta thấy đều có một vị phật nhỏ khác đang tĩnh tọa. Dù có “linh ư vạn
vật” và là chủng loại khôn ngoan nhất trong quá tŕnh tiến hóa, con người cũng
phải cộng sinh với Hằng Hà Sa Số chúng sinh khác. Địa cầu bắt đầu tỏ những dấu
hiệu giận dữ v́ sự tàn ác của con người trong việc khai thác tài nguyên: khi hậu
bất thường, hạn hán, ngập lụt, băo bụi… tóm lại là những dấu hiệu của hiện tượng
bầu khí quyển nóng dần - global warming. Và không ai nghi ngờ ǵ nữa chính
Global Economy gây ra nạn Global Warming! Mỗi khi phải làm tổn hại bất cứ một
chúng sinh nào, kể cả cây cỏ đất đá, người Phật Tử nên hỏi: ‘làm sao em biết ….
không đau’. Bia đá c̣n đau nữa là cây cỏ. Khác với đạo đức Ky-Tô chỉ giới hạn ở
con người, nền văn hóa tam giáo Á Đông chủ trường ‘chúng sinh chủ nghĩa’. Các
học giả Phật Giáo Mỹ có lúc đề nghị một từ ngữ êm tai hơn để gọi Tăng già:
Eco-Sangha. Chúng ta cần đến một trận Pháp Vũ, trận mưa Pháp thấm nhuần cây cỏ
mà tôi sẽ đề cập đến trong chương riêng về Phật Giáo và Môi Sinh.
Một Nền Kinh Tế Giản Dị
Động lực của
kinh tế thị trường là tư lợi và tích lũy tài sản. Thay v́ là một phương tiện,
tài sản biến thành mục đích chính của đời người. Đạo đức Tin Lành cho là sự
thành công về vật chất là một biểu hiện cho ân sủng trực tiếp từ Thượng Đế,
không qua trung gian của bất cứ giáo hội nào. Dần dần tích lũy tài sản trở thành
mục tiêu tối hậu của các hoạt động kinh tế. Tây phương nghĩ là “tiến bộ” khoa
học, kỹ thuật, kinh tế làm đời sống con người càng thoải mái và hạnh phúc. Với
những sự tiến bộ vượt bực về kỹ thuật và mức sống kinh tế được nâng cao như chưa
hề có như hiện nay, con người lẽ ra có rất nhiều hạnh phúc! Dùng chỉ số chánh
trị, xă hội, mức sống, văn hóa và tâm lư để thăm ḍ, nước Mỹ là nước giàu có
nhất nhưng dân Mỹ không cảm thấy hạnh phúc nhất. Các nước Phi Châu là những nước
ít hạnh phúc nhất v́ chỉ số kinh tế quá thấp và thể chế chánh trị vừa bất ổn vừa
độc tài (nghèo đói nhất nhưng chiến tranh vẫn xảy ra thường xuyên nhất). Mười
trong những nước mà dân chúng cảm thấy hạnh phúc nhất là các nước Bắc Âu. Các
quốc gia này có chế độ chính trị dân chủ, ổn định và cởi mở, chỉ số kinh tế dù
không đứng hàng đầu (dù không nước nào trong G7 hay G8) nhưng dân chúng cảm thấy
hạnh phúc hơn v́ nhờ vào chỉ số xă hội tuyệt hảo: lợi tức được phân phối hợp lư
hơn ở Bắc Mỹ và Tây Âu chế độ an sinh rộng răi và thuế khóa công b́nh. Đây mới
là những quốc gia theo Xă Hội Chủ Nghĩa thứ thiệt!
Phật Giáo thường bị hiểu lầm cổ động cho sự nghèo khổ qua lư thuyết nghiệp báo.
Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều đă từng thú nhận “cái quay bún sẵn trên trời”, “vẻ
chi ăn uống sự thường” cũng đă được ‘Trời’ định sẵn, huống chi là chuyện giàu
hay nghèo, sang hay hèn, thành công hay thất bại! Cách giải thích Nghiệp Báo
kiểu mấy ông thầy cúng thầy tụng, “học đă sôi cơm nhưng chửa chín”, gây ra những
ngộ nhận về sự u ĺ của Phật Giáo. Nghiệp không bao giờ nên được hiểu như “tiền
định tất yếu” hay chấp nhận một lối sống an phận, thụ động. Nghiệp phải được
hiểu như là sự tự do lựa chọn để chuyển đổi hướng đi của đời ḿnh. Nếu chấp nhận
một lối sống thụ động ‘trời cho bao nhiêu ăn bấy nhiêu’ th́ làm sao chuyển
nghiệp? Nếu chỉ ngồi chờ sung rụng làm sao có chuyện ‘ai giàu ba họ, ai khó ba
đời’. Ambedkar, người đă đứng ra cải đạo cho hàng triệu tiện dân –Intouchables,
ở Ấn, quyết liệt chống đối thái độ dùng nghiệp báo để biện chính cho các cơ chế
xă hội và chánh trị bất công. Chỉ đổ lỗi cho cái ‘nghiệp báo’ của hàng triệu
người Intouchables, theo Ambedkar, là một thái độ bất công, chẳng khác nào đổ
lỗi cho nạn nhân, thay v́ đi t́m đích danh thủ phạm. Nền thần học của Bà La Môn
Giáo đă dùng làm nền tảng đạo đức biện chính cho chế độ đẵng cấp ở Ấn, và biện
hộ cho những cơ chế chính trị đă kềm giữ bao nhiêu người đời đời trong kiếp lầm
than.
Tuy nhiên Phật Giáo không đồng hóa sự giàu có và hạnh phúc. Đối với Phật Giáo
mục đích tối hậu của mỗi người là có một cuộc sống an lạc (nguyện ngày an lành
đêm an lành). Nghèo thường đi đôi với khổ, nhưng không phải người giàu nào cũng
sung sướng. Một người có đủ yếu tố để có ‘hạnh phúc’ như tiền tài, danh vọng,
gia đ́nh yên vui như tài tử Mel Gibson, gần đây thú nhận có lúc ông muốn tự tử!
Gần đây một tạp chí Úc tiết lộ là tất cả 6 tài tử trong phim tập ăn khách của Mỹ
là phim Friends, không có người nào cảm thấy hạnh phúc. Yếu tố để có một
cuộc đời hạnh phúc, theo lời Phật dạy, là biết thiểu dục, tri túc (tri túc tiện
túc), biết lúc dừng lại khi cần phải dừng lại (tri chỉ nhi hậu hữu định- biết
dừng đúng lúc mới yên ổn) như Nho gia thường nói, biết nguyên lư vô thường -
giàu sang phú quư như mây nổi, đừng bo bo ôm chặt tài sản - thân người c̣n như
mộng huyễn bào ảnh huống chi là tài sản. Sau biến cố 1975, chắc chắn có nhiều
người đă có những kinh nghiệm đau thương này!
Con đường Trung Đạo của Phật Giáo là con đường giản dị: không hoang phí mà cũng
không keo kiệt. Phật có lúc dạy cách sử dụng tài sản cho hàng cư sĩ để có một
cuộc đời an lạc, hạnh phúc. Chi tiêu một phần lợi tức cho bản thân và gia đ́nh,
để dành một ít pḥng khi trái gió trở trời, bố thí giúp đỡ những người khác để
nuôi dưỡng tâm từ bi và nhất là đừng thiếu nợ! (Có ai không có credit cards!)
Phật không bao giờ nói tham lam là một điều tốt, không bao giờ đề cao tư lợi,
cũng không thơ mộng hóa sự nghèo khổ. Hạnh phúc chỉ nửa vời nếu chúng ta quên
lăng con đường tu tập tâm linh. Đó là một lối sống với những nhu cầu đơn giản
trong một nền kinh tế giản dị. Nền kinh tế giản dị là nền tảng của xă hội an
lạc. Không c̣n ai lo dành giựt hay t́m cách cướp đoạt tài sản của người khác.
Không quốc gia nào t́m cách khống chế và dành giật tài nguyên của các quốc gia
khác. Nghĩa là không có chiến tranh. Một nền kinh tế giản dị là một nền kinh tế
ḥa b́nh. Một đời sống giản dị là một cuộc đời an lạc. Hiện nay ai cũng thấy,
dù có che đậy bằng những danh từ hoa mỹ như thế nào, mục tiêu chính của cuộc
chiến tranh ở Trung Đông và Iraq hiện nay là cuộc chiến tranh dành tài nguyên,
nhất là dầu hỏa.
Sự tương phản giữa kinh tế Phật Giáo và kinh tế tiêu thụ quá rơ ràng. Kinh tế
tiêu thụ kích thích ḷng tham lam. Chúng ta hiện nay bị choáng ngợp bởi những
h́nh thức quảng cáo, xem tiêu thụ đồng nghĩa với hạnh phúc, trong khi kinh tế
Phật Giáo nhằm tạo hoàn cảnh giúp con người an lạc và hạnh phúc. Định nghĩa hạnh
phúc thường bị ảnh hưởng bởi những yếu tố chủ quan, nhất là tùy thuộc vào một
triết lư sống riêng của mỗi người.
Không có một hệ thống kinh tế nào không bao hàm một hệ thống giá trị. Chúng ta
cần giải hoặc huyền thoại xem kinh tế là một thứ khoa học khách quan bất chấp
giá trị luân đạo -value free. Kinh tế Phật Giáo có thể bị chỉ trích là dựa trên
một nền tảng đạo đức không phải ai cũng đồng ư và có thể “chứng minh” được. Lời
phê b́nh này cũng có thể áp dụng vào kinh tế thị trường-tiêu thụ: tham lam-tư
lợi không phải lúc nào cũng tốt và không phải lúc nào cũng làm tăng sự giàu có
của quốc gia như Smith ‘mơ ước’. Cả Smith và đức Phật đều ‘mơ ước’ con người có
một cuộc đời hạnh phúc. Trong khi Smith thiếu một triết lư về hạnh phúc, đạo
Phật hiện diện trên đời chỉ v́ một ‘Đại Sự Nhân Duyên’. Nhân duyên đó không có
ǵ khác hơn là diệt khổ. Diệt được khổ tức là hạnh phúc. Cả ba tôn giáo lớn ở
Đông Phương đều đồng ư muốn diệt khổ phải tri túc (Khổng), thiểu dục
(Lăo) và diệt dục (Phật).
Quán Như
Phạm Văn Minh.
Ghi Chú - Sách tham khảo
trong chương này:
Allan Hunt, Badiner.
Mindfulness in the Market Pace. Parallax Press, Berkeley California, 2002.
Shinichi Inoue, Putting
Buddhism to Work. Kodansha International Ltd, Tokyo, 1997.
Quan
Nhu Pham Van Minh: Vietnamese Engaged Buddhism: The Struggle Movement of
1963-1966. Van Nghe, California, 2002.
|
|