Kỉ niệm 200 năm ngày kỵ của
Immanuel Kant (12.02.1804-12.02.2004)
Immanuel
Kant
Trả lời câu
hỏi: Khai sáng là ǵ?
Thái Kim
Lan dịch và chú thích
Phần mở: Góp ư với Đỗ Xuân Phương
Tôi vui mừng được đọc bài của ông
Đỗ Xuân Phương (ĐXP), bài góp ư đầu tiên về nội dung của bài tiểu luận
Trả lời câu hỏi: Khai Sáng là ǵ? của triết gia I. Kant.
ĐXP đă nêu lên một vài điểm so sánh giữa tư tưởng Khai sáng (KS) của Kant, Giác
ngộ của Đạo Phật và Đạt Đạo của Lăo tử, và nêu lên điểm tương đồng giữa Kant và
Cao Xuân Huy trong nhận định Khai sáng hay Chủ toàn đều dựa vào „việc dùng lư
trí của chính ḿnh và phát ngôn trong nhân cách của riêng ḿnh“.
Về khái niệm chủ toàn của GS Cao Xuân Huy tôi chưa nắm vững dù đă được GS
Nguyễn Huệ Chi cho tôi có cơ hội đọc được tác phẩm ghi lại những lời giảng của
GS CXH, nhưng chưa có dịp đi sâu.
Tôi xin góp ư về một vài điểm tương đồng trong tư tưởng Khai sáng của Kant và
Giác ngộ của Sakyamuni (Phật) nhất là trên quan điểm nhân bản.
Có thể nói tư tưởng trong KS và lời dạy phá vô minh của Phật đă gặp nhau ở điểm
„con người“.
1. Chúng ta biết KS đă được viết năm 1784, 3 năm sau tác phẩm Phê b́nh lư
tính thuần túy (PBLTTT, Kritik der reinen Vernunft, 1781), có nghĩa
là trong giai đoạn tư tưởng phê phán của Kant. Trong giai đoạn này Kant đă không
c̣n bênh vực những lập luận chứng minh sự hiện hữu của thượng đế như trong thời
tiền phê phán của ông. Trong PBLTTT Kant đă thành công trong việc phản bác tất
cả những loại chứng minh sự hiện hữu của thượng đế trên lănh vực siêu h́nh học (PBLLTT,
trang 611 – 670) để đưa ư niệm này vào địa hạt của ḷng tin (Glaube), mà ông
phân biệt với tri thức (Wissen). Thành quả này có được nhờ sự phê phán và phân
tích tri thức luận „chẻ“ các khái niệm Tư Duy và Hiện Hữu (thường được dịch là „tồn
tại“, Bùi Văn Nam Sơn dịch) minh bạch ra làm hai lănh vực nội hàm và ngoại hàm.
Trong PBLTTT thành quả của cuộc khảo sát khả năng tri thức của trí tuệ con người
- gồm giác tính (Verstand) và lư tính (Vernunft) - cho thấy ư niệm thượng đế chỉ
là một ư niệm điều hành, hướng dẫn („heuristisch“) (có nghĩa là không có giá trí
tổng quát thực tại) và thuộc về ḷng tin trong lănh vực đạo đức.
2. Đối với tư tưởng đương thời đây
là một tác động „nghiền nát“ tất cả siêu h́nh học cổ điển, như Mendelsohn đă chỉ
trích Kant trong công việc phê phán những khái niệm siêu h́nh học „thượng đế“, „bất
tử“, „tự do“. Nhưng với kết quả ấy „der Zermalmer der Metaphysik“ (người nghiền
nát nền siêu h́nh học) đă đem lại cho chủ thể hoàn toàn quyền t́m thấy chân lư
bằng con đường nhận thức qua trí tuệ con người.
3. Gần như tương đương, những nhà thần học duy thần thường cho Đạo Phật là „vô
thần“ trong nghĩa không chấp nhận có một Thượng đế như là nguyên nhân tối cao,
nguồn gốc sinh ra mọi thực thể, v́,-cũng như kết quả khảo nghiệm tri thức luận
của Kant hơn hai mươi thế kỷ trước, - khái niệm thượng đế như một bản ngă
trường tồn, bất di bất dịch và toàn hảo theo Sakyamuni trên b́nh diện tri thức
luận bao hàm những nghịch lư với chính ư niệm ấy (theo kinh vô ngă tướng). Một ư
niệm bao hàm nghịch lư không thể là một ư niệm toàn hảo, có thể gây ra vô minh
khi chúng ta nương hoàn toàn vào nó để có được „chính kiến“, tri thức đúng thật,
nấc thang đầu tiên mà con người bước lên trên đường đi đến giác ngộ. Đức Phật
cũng như Kant, không từ chối thượng đế như là ư niệm thần linh trên những lănh
vực khác hoặc là những vị thần trong cảnh giới khác với cảnh giới con người (theo
Phật) hay là nhân vật được mặc khải như chúa Giê-su (Kant)
4. Trong định nghiă „Khai Sáng“ Kant đă giao trọn công cuộc khai sáng này hoàn
toàn vào tay của con người, và chỉ có con người mới có thể tự đưa ḿnh thoát ra
khỏi t́nh trạng lệ thuộc, vị thành niên trên nhiều phương diện... Đọc kỹ định
nghĩa ta sẽ thấy hai yếu tố chủ đạo của toàn bài được Kant diễn tả trong nghĩa
gấp đôi:
- tích cực như ông ĐXP đă nêu ra: trí tuệ của con người nên được vận dụng để
vượt ra khỏi sự chỉ đạo ngoại lai và con người có thể quyết định chọn lựa cho
ḿnh con đường khai sáng với dũng khí của con người. Nghĩa tích cực này là hệ
luận của nghĩa phê phán:
- tiêu cực trong định nghĩa „vị thành niên“ là hiện tượng con người bị lệ thuộc
người đỡ đầu v́ KHÔNG vận dụng trí tuệ của ḿnh một cách độc lập DO LỖI CỦA CON
NGƯỜI gây ra. Cụm khái niệm „do lỗi con người gây ra“ mang nặng tính phê phán và
quan điểm của Kant trên lănh vực tôn giáo. (Đây là lư do tại sao tôi đă bổ túc
thêm chữ „“lỗi“ cho rơ nghĩa trong bài dịch nhuận sắc, talawas 18.02.04). Cụm từ
„selbst verschuldet“ chỉ rơ đây là môt „lỗi“ mà con người chứ không ai khác hơn
gây ra, không phải là một thứ „tội tổ tông“ theo quan niệm Thiên chúa giáo cùng
với những hệ luận giáo điều theo sau: phải được Chúa „rửa“ sạch mới hết tội. Với
định nghĩa „vị thành niên“ là do “lỗi con người gây ra“, Kant xác định trước hết
khả năng thoát ly của con người, nằm chính ở trí tuệ và ư chí của con người, nằm
trong tay của con người chứ không phải trong tay thượng đế quyết định: v́ con
người làm lỗi th́ con người có thể sửa lỗi. Từ đó khái niệm trưởng thành nằm
trọn ở sự khai hoá con người để đạt chính kiến cho hành động. Con người như thế
có quyền LỰA CHỌN xác định số phận của ḿnh theo đúng với khả năng tư duy của
ḿnh. Cụm từ „phương châm“ tiếng Đức là „Wahlspruch“. „Wahlspruch“ (ở đây là „Sapere
Aude“: hăy có can đảm tự sử dụng trí tuệ của ḿnh) thường được dùng trong những
cuộc tranh cử, để cử tri lựa chọn sau khi đă nghe tŕnh bày lư luận về các đường
hướng hoạt động khác nhau. Trong trường hợp KS Kant sử dụng nó trước hết như một lời kêu gọi „chọn lựa“ đồng
thời như một tiền đề cho sự triển khai khái niệm „sử dụng tự do công khai“, trong đó con ngựi phải dùng trí tuệ để quyết định con đường cho chính
ḿnh. Lựa chọn là khả năng tự do của con người độc lập và không tùy thuộc định
mệnh áp đặt lên con người. Chỉ có tiếng nói của con
người tự do (trong nghĩa „dám xử dụng công khai trí tuệ của ḿnh“) mới có thể
đóng góp cho sự „nhất trí của các công dân tư do“ Übereinstimmung der freien
Bürger“ (Kritik der reinen Vernunft, B 766). Từ đó khai sáng là chống lại
tất cả những chính sách và lư thuyết ngu dân, hệ luận tiếp theo trong KS. Kant
đă nêu rơ sự ngu dân của tinh thần giám hộ trong tôn giáo mà ông cho là t́nh
trạng tệ hại nhất, làm tê liệt trí tuệ và ḷng dũng cảm nhất. Trong lúc tŕnh
bày các tệ đoan Kant luôn luôn nhắc nhở con người phải tự thân khai hoá (sich
bearbeiten, sich herausarbeiten = tự vận dụng, tự lao lực để vươn lên) trong
những đoạn kế tiếp.
5. Trong lời dạy của Đức Phật có hai đoạn nói lên sự sử dụng trí tuệ độc lập như
là điều kiện tiên quyết để con người có thể đạt được giác ngộ:
Trong đoạn giảng về „chính kiến“ như bậc thang thứ nhất từ đó con người khởi
hành đạt đến chân lư mà đức Phật gọi là ánh sáng b́nh minh vừa xuất hiện trên
bầu trời vô minh:
„Này Kalama (bàn tiếng Đức Kalamer) không nên
dựa vào điều nghe nói, không nên dựa theo những ǵ mà người này nhắc lại lời
người đi trước, không dựa theo những lời đồn đăi, không nên dựa theo các văn bản
truyền thống, không nên dựa vào những lư do lư trí và những chuỗi suy luận đơn
thuần, những nhận xét bên ngoài, cũng không nên dựa theo những điểm trùng hợp
với quan niệm và thắc mắc suy tư của ḿnh, cũng không theo hiện tượng giả tạo
bên ngoài của thực tại và không theo v́ người ấy là đạo sư của ḿnh! Này Kalama,
chỉ khi nào ngươi tự nhận biết rằng, điều này hay điều nọ là xấu hay đáng
vất bỏ, đă được các thức giả phán xét trách cứ và nếu sử dụng chúng chỉ
đem đến bất hạnh và đau khổ, th́ này Kamala, người sẽ tự ḿnh chấm dứt tà kiến,
bất hạnh và khổ đau“
(Kinh Tăng Chi Bộ, Quyển III, 65, bản Đức ngữ
của Nyanatiloka, Der Weg zur Erlösung, trang 55).
Nổi bật nhất và được truyền tụng hơn
mấy ngh́n năm là lời cuối cùng của Phật trước khi nhập diệt trước sự bi lụy của
thị giả Ananda:
"Này Ananda, hăy tự ḿnh là ngọn đèn cho
chính ḿnh, hăy tự ḿnh y tựa chính ḿnh, chớ y tựa người khác. Dùng chánh pháp
làm ngọn đèn, dùng chánh pháp làm chỗ tựa."
(Kinh Đại Niết Bàn II, Digha-Nikaya 16, Thích
Minh Châu dịch)
Ngọn đèn là trí tuệ của con người, chánh pháp là thành quả
của trí tuệ nhà hiền triết hay của vị học giả theo Kant! Ta thấy c̣n đoạn nào „kant“
hơn nữa trong nhận thức nhân bản đạo Phật, và hơn thế nữa trong thực hành...
Tính nhân bản trong đạo Phật thẩm thấm trong tất cả giáo lư
giác ngộ như một „vị mặn của biển cả“ - như Phật đă nói về tính nhất quán này
trong lời dạy của Phật - và ĐXP nêu ra khi nói về vô minh - đều nằm trong định
nghĩa gẫy gọn của Phật về con người là
một thực thể hơn „cái máy“, gồm thể xác (sắc) và tinh thần (Tưởng và Thức): khả
năng „gây lỗi“ và khả năng „diệt lỗi“:
«Trong tấm thân cao sáu trượng với
Tưởng và Thức này đều bao hàm cả thế giới vạn vật, sự h́nh thành và cả sự chấm
dứt thế giới cũng như bao gồm cả CHÁNH ĐẠO giải thoát chấm dứt luân hồi »
(Tăng chi bộ kinh, A VI 43)
Từ định nghĩa đó, sức mạnh giác ngộ không thể lấy ở đâu khác hơn là sức mạnh
tĩnh thức
của con người tự t́m lấy chân lư và khai phóng vô minh, như Đỗ Xuân Phương đă
nhận định.
Kurt Schmidt đă nhận xét trong tiểu luận của ông Vài nét Phật học trong tư
tưởng của Kant (Buddhistisches bei Kant, Thái Kim Lan dịch, tiểu
luận trong „Leer ist die Welt“
của K. Schmidt, Nxb Chritiani, Konstanz): Kant đă không biết chi về lư thuyết
Phật giáo, vậy mà tư tưởng của ông đă rất
gần với Đức Phật, nhất là trên lănh vực tri thức luận, đạo đức học và quan điểm
tôn giáo.
Trên đây chỉ là một vài góp ư về tính nhân bản trong tiểu
luận của Kant. Các khái niệm Khai sáng, Giác ngộ và Chủ toàn chưa được đề cập
đến, mong có thể có dịp đi sâu hơn để thấy những dị biệt trong tương đồng.
*
Viết thêm: Bản dịch thứ 8 bài KS của I. Kant trên talawas, bản dịch của ông Phạm
Minh Ngọc, có nhấn mạnh văn phong của Kant là văn phong của một lời hiệu triệu.
Theo tôi tiểu luận Khai sáng được tŕnh bày „công khai“ để ta có được một nhận
thức trung thực về khai sáng mà câu hỏi của linh mục Zöllner đặt ra: Khai Sáng
là ǵ, chính ông ta đă nói tiếp theo là: „câu hỏi này cũng như câu hỏi Chân lư
là ǵ“. Đây là một tiểu luận được tŕnh bày ra để quần chúng qua đấy được „giác
ngộ“ nói như Đỗ Xuân Phương, chứ không phải
để hưởng ứng theo kiểu hô khẩu hiệu. Nên văn phong đầy
triết lư, có nghĩa phân tích và chiết giải.
Tháng Hai, 2004.
Kỉ
niệm 200 năm ngày mất của Immanuel Kant 12.02.1804-12.02.2004
Immanuel
Kant
Trả lời câu hỏi: Khai sáng là ǵ?
Thái Kim Lan dịch và chú thích
Immanuel
Kant (sinh ngày 22.04.1724 tại Königsberg- Preussen – mất ngày 12. 02. 1804 tại
Königsberg-Preussen) thường được xem là triết gia Đức lớn nhất, hơn nữa
là triết gia lớn nhất của thời cận đại (Neuzeit), của nền văn hóa tân tiến (moderne
Kultur) và của nhiều lănh vực khoa học nhân văn khác. Học thuyết „Triết học siêu
việt” (Transzendentalphilosophie) của ông đă đưa triết học Đức bước vào một kỷ
nguyên mới. “Danh tiếng của ông đă đẩy lùi những ǵ đi trước vào bóng tối và tỏa
sáng lên trên những ǵ đi sau”, như nhận xét của triết sử gia J.Hirschberger.
Trong tương quan với triết học thế giới của thời khai sáng, triết học của ông đă
cống hiến những lư thuyết cơ bản cho tư tưởng khai sáng của thời cận đại. Nhân
dịp 200 năm ngày mất của triết gia lỗi lạc này xin giới thiệu tiểu luận
“Beantwortung der Frage: Was ist die Aufklärung?“ (Trả lời câu hỏi:Khai sáng là
ǵ?). Bản tiếng Đức trong “KANT, WERKE IN XII BAENDEN, XI, THEORIE – WERKAUSGABE,
SUHRKAMP 1968, tr 53- 61.Trong bài dịch, những chữ in lớn viết hoa là của chính
tác giả.
Người
dịch
(5. 12. 1783 trang 516[i])
KHAI SÁNG LÀ SỰ THOÁT LY CỦA CON NGƯỜI RA KHỎI
T̀NH TRẠNG VỊ THÀNH NIÊN DO CHÍNH LỖI CON NGƯỜI GÂY RA. VỊ THÀNH NIÊN là
sự bất lực không thể vận dụng trí tuệ của ḿnh một cách độc lập mà không cần sự
chỉ đạo của người khác. T́nh trạng vị thành niên[ii] này
là do LỖI TỰÏ M̀NH GÂY RA, một khi nguyên
nhân của nó không phải do sự thiếu sót trí tuệ, mà do sự thiếu sót tính
cương quyết và ḷng can đảm, dám tự ḿnh dùng trí tuệ phục vụ cho ḿnh mà không
cần đến sự chỉ đạo của người khác. Sapere aude[iii]!
Hăy có can đảm tự sử dụng trí tuệ CỦA CHÍNH M̀NH! đó là phương châm của Khai
Sáng.
Lười biếng và hèn nhát là những nguyên nhân, tại
sao một phần lớn số người như thế của nhân loại, sau khi thiên nhiên đă tuyên bố
tha bổng[iv]
họ ra khỏi sự chỉ đạo ngoại lai (naturaliter maiorennes: thành niên tự
nhiên) mà suốt đời lại vẫn thích lưu lại trong t́nh trạng vị thành niên; và là
nguyên nhân làm cho một số người khác dễ dăi hăm hở nhảy ra đóng vai người đỡ
đầu những kẻ c̣n ấu trĩ ấy. Không trưởng thành thật là khỏe khoắn. Tôi có một
cuốn sách, quyển sách ấy có trí tuệ thay tôi, có một người đỡ đầu linh hồn,
người ấy có lương tâm giùm tôi, có một người thầy thuốc, vị ấy chẩn định sự ăn
kiêng cho tôi, vv và vv: như thế tôi khỏi phải lo lắng cho chính ḿnh. Tôi không
cần phải suy nghĩ bận tâm, nếu tôi chỉ có thể trả tiền; người khác sẽ chu tất
cho tôi mọi công việc phiền năo. Sự kiện một phần lớn nhất của nhân loại (trong
đó có toàn thể phái đẹp) c̣n cho rằng bước tiến đến trưởng thành, ngoài việc
bước ấy rất khó khăn, c̣n là rất nguy hiểm; điều ấy những người đỡ đầu kia đă lo
chu tất, những người đă hết ḷng nhận lănh cho ḿnh trách nhiệm giám thị tối
cao trên những kẻ vị thành niên. Sau khi họ đă làm cho đàn gia súc của họ trước
hết ngu đần đi, và chăn giữ một cách cẩn thận không cho những sinh vật yên lặng
này được phép dám mạo hiểm một bước ra khỏi chiếc xe kéo, trong đó họ giam những
sinh vật ấy; sau đó họ chỉ cho những kẻ ấy sự hiểm nguy đang đe doạ, nếu những
người này t́m cách đi một ḿnh. Thật ra th́ chính sự nguy hiểm này cũng không to
tát chi cho lắm, bởi lẽ những kẻ ấy rốt cùng cũng sẽ học đi được thôi qua một
vài lần té ngă; tuy nhiên chỉ một thí dụ theo cách ấy cũng có thể làm rụt rè
nhũn ḷng, và thường làm nhát sợ xa lánh tất cả những bước thăm ḍ khác.
Như thế thật là khó khăn cho mỗi một người, tự
ḿnh gắng sức vươn lên để thoát ra khỏi tính vị thành niên hầu như đă trở thành
một bản tính tự nhiên. Người ấy lại c̣n đâm ra yêu thích tính ấy và thật sự bất
lực, trước tiên không biết dùng trí tuệ phục vụ cho ḿnh, bởi v́ người ta đă
không bao giờ để cho người ấy làm thử. Những nội qui và những điều lệ, loại dụng
cụ máy móc cho công dụng hợp lư hay đúng hơn cho sự lạm dụng năng khiếu tự nhiên
ấy, đều là những xích chân của một t́nh trạng vị thành niên dai dẳng vĩnh viễn.
Kẻ nào vất bỏ nó đi, kẻ ấy cũng sẽ chỉ làm một bước nhảy không chắc chắn qua cái
hố nhỏ hẹp, bởi v́ kẻ ấy không quen làm động tác tự do theo kiểu ấy. Cho nên chỉ
có một số ít thành công trong việc tự giải tỏa ḿnh ra khỏi t́nh trạng vị thành
niên qua sự thao luyện tinh thần, và tạo ra một bước đi vững chăi.
Nhưng sự kiện một QUẦN CHÚNG (Publikum) tự ḿnh
khai sáng cho ḿnh, điều ấy có triển vọng; vâng điều ấy, nếu người ta chỉ để cho
công chúng TỰ DO thôi, hầu như chắc chắn có thể thực hiện được. Bởi v́ trong
trường hợp ấy sẽ luôn luôn t́m ra được một vài nhà tư tưởng độc lập, ngay cả
trong nhóm những người đỡ đầu có nhiệm vụ canh chừng đống gia súc lớn kia, những
người, sau khi đă tự tay vất bỏ cái gông vị thành niên, sẽ quảng bá quanh ḿnh
tinh thần biết đánh giá hợp lư về giá trị thực sự và thiên chức
của mỗi con người nằm ở tư duy tự lập. Đặc biệt ở đây là: nhóm công chúng
trước đó bị những người đỡ đầu đưa vào gông cùm, chính công chúng này sau đó lại
bắt buộc những người kia ở lại trong gông, nếu họ bị khiêu khích phải hành động
như thế do một vài kẻ trong những người đỡ đầu ấy tự ḿnh không có khả năng khai
sáng; gieo trồng những định kiến thật tai hại đến như thế, bởi v́ chúng sẽ trả
thù lại chính những tác nhân và tiền nhân của họï
đă gây ra. Do đấy quần chúng chỉ có thể từ từ đạt đến khai sáng mà thôi.
Khai sáng bằng một cuộc cách mạng c ó l ẽ chỉ đem đến sự truất phế một chế độ
chuyên chế độc tài và sự đàn áp đầy tham muốn hưởng lợi và cai trị người khác
của cá nhân độc tài, nhưng không bao giờ đem đến một sự sửa đổi chân chính thật
sự cho cách thế tư duy cả; ngược lại những định kiến mới lại sẽ được sử dụng
giống hệt như những cái cũ dùng để làm dây dẫn đường cho đống người to lớn vô
đầu óc kia.
Dành cho sự khai sáng này không đ̣i hỏi ǵ hơn
ngoài TỰ DO và là một tự do vô hại nhất trong tất cả những ǵ có thể gọi là tự
do, đó là: hoàn toàn có thể SỬ DỤNG CÔNG KHAI LƯ TRÍ CỦA CHÍNH M̀NH.Thế
nhưng giờ đây tôi nghe khắp mọi phiá đều kêu lên: ĐỪNG CÓ LƯ LUẬN! Ông sĩ quan
nói: đừng lư luận, hăy thực hành! Ông cố vấn tài chánh: Đừng lư luận! Hăy móc
túi trả tiền! Nhà tôn giáo: đừng lư luận, hăy tin tưởng! (chỉ có một Ngài[v]
trên thế giới nói: HĂY LƯ LUẬN nhiều như các người muốn và về những ǵ các người
muốn; nhưng HĂY VÂNG LỜI!) Ở đây sự giới hạn tự do xảy ra khắp nơi. Nhưng giới
hạn nào sẽ cản trở sự khai sáng? Giới hạn nào không cản trở mà ngược lại c̣n hỗ
trợ nó? – Tôi trả lời: sự sử dụng CÔNG KHAI của lư trí phải được TỰ DO bất cứ
lúc nào, và chỉ có nó mới có thể đem lại khai sáng đến với con người; c̣n sự sử
dụng RIÊNG TƯ của lư trí th́ có thể nhiều khi nên được giới hạn rất chặt chẽ mà
không làm cản trở đặc biệt bước tiến của khai sáng. Nhưng tôi hiểu dưới sự sử
dụng công khai lư trí của chính ḿnh là sự sử dụng mà một người với tư cách
là HỌC GIẢ có thể vận dụng lư trí trước toàn thể công chúng của THẾ GIỚI ĐỘC
GIẢ. Tôi gọi sự sử dụng là riêng tư để chỉ sự sử dụng lư trí mà người học giả
trong CHỨC VỊ công dân hay nhiệm sở mà người ấy được tín nhiệm giao cho. Thế th́
cho một số công việc có liên hệ đến quyền lợi cộng đồng ta cần có một guồng máy
phục vụ, nhờ phương tiện đó một vài phần tử của cộng đồng chỉ cần hành sự một
cách thụ động, để được hướng dẫn vào những mục đích công khai qua sự đồng tâm
nhất trí giả tạo của chính quyền hay ít nhất để
được ngăn chận khỏi sự phá hoại những mục đích ấy. Dĩ nhiên ở đây không được
phép lư luận; mà phải tuân lời. Nhưng bao lâu phần tử này của guồng máy tự xem
ḿnh đồng thời cũng là hội viên của cả cộng đồng, và hơn nữa của cả xă hội công
dân thế giới, trong phẩm cách của một người học giả tŕnh bày với độc giả những
tác phẩm văn học trong tinh thần tự lập: trong trường hợp này nhất thiết người
ấy có thể lư luận, mà không v́ thế công việc bị phiền nhiễu, công việc mà ông
được ủy nhiệm phần nào với tư cách một hội viên thụ động. Cho nên trong trường
hợp của vị sĩ quan, sẽ rất có hại, nếu người ấy đang được lệnh của cấp trên phải
thi hành một lệnh để phục vụ cho mục đích và ích lợi của lệnh ấy mà lại muốn lư
luận oang oang; người ấy phải vâng lời. Nhưng với tư cách là học giả th́ không
được cấm đoán không cho người ấy nhận xét về những lỗi lầm trong công tác phục
vụ chiến tranh và tŕnh bày những nhận xét ấy trước công chúng để họ phán đoán.
Người công dân không thể cưỡng lại không nộp những sưu thuế bó buộc mà anh ta
phải trả; ngay cả một lời trách cứ bép xép về những khoản nộp ấy, nếu chúng phải
được hoàn thành, cũng có thể bị trừng phạt như một sự bêu riếu (có thể gây nên
những trường hợp bất tuân lệnh tổng quát). Nhưng chính người ấy sẽ không hành
động ngược lại bổn phận của một người công dân, nếu người ấy với tư cách của một
học giả công khai dám phát biểu tư tưởng của ḿnh chống lại sự vụng về hay sự
bất công của những điều khoản sưu vụ đưa ra. Cũng thế, một người linh mục có bổn
phận phải diễn giải cho môn sinh thụ giáo lư và giáo xứ của ông biểu tượng của
nhà thờ mà ông ta phục vụ; bởi v́ ông đă được thâu nhận với những điều kiện trên.
Nhưng với tư cách học giả không những ông có đầy đủ tự do, vâng ngay cả có thiên
chức, thông tin cho quần chúng tất cả những tư tưởng đă được kiểm điểm chặt chẽ
và đầy thiện ư về tính cách sai lầm của biểu tượng kia, cũng như những đề nghị
cho sự xây dựng tốt hơn thực thể tôn giáo và nhà thờ. Nơi đây không có ǵ có thể
gây phiền toái cho lương tâm cả. Bởi v́ thể theo chức vụ nhiệm sở của ông, những
ǵ ông truyền dạy với tư cách của người thi hành công việc của Giáo hội, điều đó
ông đă thuyết giảng trong giới hạn của bổn phận, mà trong đó ông không có chủ
lực tự do để giảng dạy tùy ư riêng ông, vỉ được chỉ định phải diễn giải theo với
các điều lệ và nhân danh của một cá nhân khác. Ông ta sẽ nói rằng: giáo hội của
chúng ta dạy điều này hay điều nọ; đây là những dẫn chứng mà giáo hội sử dụng…
Sau đó ông ta rút ra tất cả những ích lợi cho giáo đồ từ những nội qui, mà chính
ông sẽ không kư tên với tất cả sự thuyết phục, mặc dù ông có thể làm một vài
diễn văn về đề tài đó. Bởi v́ có thể chân lư nằm ẩn giấu trong những nội qui ấy,
trong đó hoàn toàn không bao hàm điều ǵ mâu thuẫn với tôn giáo nội tâm của ông.
Nếu ông ta t́m thấy trong đó điều ǵ mâu thuẫn với tôn giáo nội tâm th́ ông ta
sẽ không thể điều hành chức vụ của ḿnh với lương tâm yên ổn được, ông ta phải
từ chức. Như thế sự sử dụng lư trí mà một vị giáo sư nhậm chức thực hiện trước
giáo xứ của ông chỉ là một SỰ SỬ DỤNG RIÊNG TƯ, v́ nhóm quần chúng này vẫn chỉ
là một cuộc tập họp nội gia, dù cho có lớn đến bao nhiêu; và trong tương quan
với nó ông ta với tư cách là nhà giảng đạo, không tự do, cũng không được phép tự
do, bởi v́ ông ta đang thực hiện một công việc ngoại lai. Ngược lại với tư cách
một học giả nói với công chúng thực sự, công chúng ấy là toàn thế giới, qua các
tác phẩm của ḿnh, và do đó là vị linh mục trong việc SỬ DỤNG CÔNG KHAI lư trí
của ḿnh, vị ấy phải được hưởng một tự do không hạn chế dùng lư trí của chính
ḿnh và phát ngôn trong nhân cách của riêng ḿnh. Bởi lẽ sự kiện chính các người
đỡ đầu của nhân dân (trong những việc tinh thần) lại cũng vị thành niên, là một
sự lạc vần, chạy dài đến vô cực của sự lạc điệu.
Nhưng một tập đoàn của những vị linh mục, ví
dụ một đại hội nhà thờ, hay giai cấp (Classis) đáng kính (như họ tự mệnh danh
như thế giữa người Hoà Lan) có nên được có thẩm quyền tuyên thệ với nhau tự cho
ḿnh có bổn phận đối với một biểu tượng nào đó bất di bất dịch, để thực hành
càng mạnh hơn một chính sách đỡ đầu tối cao măi măi trên đầu mỗi người trong
hội viên của họ và qua đó trên đầu nhân dân, và từ đó vĩnh viễn hoá chính sách
ấy không?
Tôi nói: điều ấy hoàn toàn không thể được. Một
thoả ước hầu chận đứng vĩnh viễn tất cả những khai sáng lâu dài hơn của loài
người, được kư kết như thế, là tuyệt đối không được và không thể có được; và
ngay cả trong trường hợp nó được xác nhận bởi một quyền lực tối cao, bởi hội
đồng nhà nước và những hiệp ước hoà b́nh trọng thể nhất. Một thời đại không thể
tự cấu kết và thề nguyền đặt thời đại kế tiếp trong một t́nh trạng, mà trong đó
đối với thời đại đi sau mọi khả năng mở rộng những tri thức c̣n nhất thời, để
tẩy sạch những sai lầm, và có thể tiến xa hơn trong sự khai sáng đều bị tiêu
diệt. Điều đó sẽ là một tội ác nghịch lại bản chất con người, mà định nghiă
nguyên thủy của nó nằm chính trong sự tiến bộ ấy; và như thế những kẻ hậu sinh
hoàn toàn có quyền bác bỏ những quyết định đă được chấp nhận một cách vô thẩm
quyền và càn bậy. Viên đá thử của tất cả những ǵ được xem là luật pháp quyết
định trên nhân dân, đều nằm trong câu hỏi: rằng người dân có thể tự ḿnh bó buộc
vào một thứ pháp luật như thế không? Điều này có thể có trong một giai đoạn ngắn,
trong khi chờ đợi một luật pháp tốt hơn, hầu tạo ra một trật tự nhất định nào đó;
đồng thời người ta dành cho mỗi một người công dân, nhất là người linh mục được
tự do, với tư cách của một nhà học giả, công khai, có nghĩa là qua những tác
phẩm văn học, tŕnh bày những nhận xét của ông về sự sai lầm của tổ chức ngày
trước, trong lúc ấy trật tự đă được thiết lập vẫn c̣n luôn luôn tồn tại. Một khi
nhận thức về sự h́nh thành của các tổ chức ấy đạt đến mức kiện toàn và được xác
nhận rằng qua sự thống nhất của các tiếng nói (nếu không phải là của tất cả) có
thể đưa ra trước ngai vàng một đề nghị, để bảo vệ cho những giáo xứ đă đồng ư
với nhau sau khi nắm vững tri thức toàn thiện hơn về một cơ sở tôn giáo được
thay đổi, mà không cản trở những giáo xứ vẫn c̣n bằng ḷng với h́nh thức cũ.
Nhưng thỏa thuận với nhau về một hiến chương tôn giáo cố định bất di bất dịch,
không ai được quyền nghi ngờ một cách công khai, dù chỉ trong ṿng thời gian của
một đời người,và qua đấy đồng thời tiêu hủy một khoảng thời gian về sau dành
cho sự tiến hoá của nhân loại trong hướng cải thiện, và làm cho vô hiệu quả, từ
đó làm thiệt hại cho thế hệ sau, là một điều nhất thiết không được phép. Cho cá
nhân ḿnh, và cũng chỉ trong một thời gian ngắn, trong lúc phải t́m hiểu học hỏi,
một người có thể hoăn lại sự khai sáng; nhưng triệt tiêu sự khai sáng, dù cho
một cá nhân, mà hơn nữa c̣n cho cả thế hệ hậu sinh, điều ấy có nghiă vi phạm và
chà đạp quyền thiêng liêng của nhân loại.
Vả chăng điều ǵ mà một dân tộc không bao giờ
được phép quyết định cho chính ḿnh, điều ấy một vị quân vương càng ít được
quyền quyết định trên đầu của dân tộc hơn nữa; bởi v́ uy tín ban hành luật pháp
của ông thật sự nằm ở điểm ông là người hợp nhất toàn thể ư muốn của nhân dân
vào trong ư muốn của ông. Nếu ông chỉ chú ư đến điều này: tất cả sự cải thiện
đúng đắn hay sai lạc đều tồn tại chung với trật tự công dân: như thế ông chỉ cần
để cho những kẻ bề tôi của ông tự ư làm những điều mà họ thấy cần thiết cho sự
cứu rỗi linh hồn của họ; điều đó không can dự ǵ đến ông, nhưng để đề pḥng
người này ngăn cản kẻ khác một cách bạo động, không cho kẻ ấy xây dựng số phận
và sự thăng tiến của ḿnh theo với khả năng riêng là việc liên can đến ông. Vị
quân chủ ấy sẽ làm thiệt hại uy thế đế vương, nếu ông ta cũng xen vào việc đánh
giá những tác phẩm theo sự giám thị của chính quyền ông, những tác phẩm mà nhờ
đó kẻ thần dân của ông t́m cách kiện toàn những nhận thức của họ. Cũng thế nếu
từ nhận thức cao siêu nhất của chính ḿnh, ông thẩm xét các tác phẩm, chính ở đó
ông sẽ bị người ta trách thán theo thành ngữ: ông vua không đứng trên những nhà
văn phạm (Caesar non est supra grammaticos); cũng như thế và c̣n hơn thế nữa
trong những trường hợp kế tiếp, nếu ông hạ thấp quyền lực tối cao nhất của ḿnh
đến mức độ hỗ trợ chính thể chuyên chế tôn giáo của vài kẻ độc tài trong quốc
gia của ông đối với những thần dân khác của ông.
Bây giờ nếu có câu hỏi đặt ra: Có phải chúng ta
đang sống trong một thời đại đă được khai sáng không? Câu trả lời sẽ là: Không,
nhưng chúng ta đang ở trong một thời đại của sự khai sáng!
Trong t́nh h́nh hiện tại, nói chung sự kiện con
người có khả năng hay có thể được hướng dẫn vào trong khả năng ấy để tự sử dụng
một cách vững chắc và thuần thục trí tuệ của ḿnh mà không cần đến sự chỉ đạo
của người khác trong những vấn đề tôn giáo thật ra vẫn c̣n thiếu sót rất nhiều.
Có điều bây giờ một thửa ruộng đă được khai quang cho con người có thể tự thân
bồi đắp khai hoá một cách tự do và những trở ngại ngăn cản sự khai sáng tổng
quát hay sự thoát ly ra khỏi t́nh trạng vị thành niên do tự ḿnh gây ra dần dần
trở nên ít hơn, về những điều ấy chúng ta thấy có những dấu hiệu thật rơ rệ.
Trong nhận xét ấy, thời đại này là thời đại của khai sáng hay thế kỷ của
FRIEDRICH[vi].
Một vị lănh chúa, đă không thấy điều ấy là
không xứng đáng cho ḿnh, khi nói rằng, ông xem đó là BỔN PHẬN của ông, trong
vấn đề tôn giáo không truyền lệnh cho con người, mà để họ hoàn toàn tự do trong
việc ấy, cũng là người từ chối không nhận cho ḿnh danh hiệu cao ngạo là BAO
DUNG (Toleranz): chính vị lănh chuá này đă được khai sáng và xứng đáng được cả
thế giới hôm nay và thế giới mai sau đầy biết ơn ca ngợi là người đă giải phóng
lần đầu tiên loài người ra khỏi t́nh trạng vị thành niên, ít nhất là từ phía
chính quyền, và để cho mỗi người tự do tự sử dụng lư trí của chính ḿnh trong
tất cả những ǵ thuộc vấn đề lương tâm. Dưới quyền ông, với tư cách của
người học giả, những nhà linh mục đáng kính được quyền tŕnh bày một cách tự do
và công khai cho thế giới kiểm thảo những phán đoán và nhận thức của họ về những
điểm vượt ra ngoài Giáo hội đă được công nhận; c̣n người không bị giới hạn do
bổn phận nhiệm sở lại c̣n có thể làm hơn thế nữa. Tinh thần tự do này cũng lan
rộng ra ngoài, ngay cả những nơi mà nó phải tranh đấu với những chướng ngại bên
ngoài của một chính phủ tự ngộ nhận ḿnh. Bởi v́ có một thí dụ soi sáng cho
chính quyền ấy: rằng với tự do sẽ không có điều ǵ đáng lo sợ cho sự an dân công
khai và sự nhất trí của cộng đồng cả. Con người tự rèn luyện ḿnh dần dần vươn
lên khỏi tính thô sơ, nếu người ta không cố ư nắn nót giả tạo để giữ con người
lại trong trạng thái thô sơ ấy.
Tôi đă đặt điểm chính của sự khai sáng, trong
nghiă sự thoát ly của con người ra khỏi t́nh trạng vị thành niên do chính con
người gây ra, chủ yếu trong tương quan với những vấn đề tôn giáo: bởi v́ đối với
nghệ thuật và các ngành khoa học những người cai trị của chúng ta không quan tâm
đóng vai người đỡ đầu trên đầu kẻ tôi tớ của họ. Hơn nữa, cũng chính v́ trong
tất cả t́nh trạng, vị thành niên trong tôn giáo không những là t́nh trạng tai
hại nhất mà c̣n là t́nh trạng làm ô nhục nhất. Nhưng đường lối tư duy của một vị
nguyên thủ quốc gia, người ưu đăi khai sáng, c̣n đi xa hơn nữa và nhận chân được
rằng: ngay cả trong tương quan với sự BAN HÀNH LUẬT PHÁP của ông thật sự không
có ǵ nguy hiểm, khi cho phép người dân được quyền SỬ DỤNG CÔNG KHAI lư trí của
ḿnh, cũng như tŕnh bày cho thế giới biết những tư tưởng của họ về sự biên soạn
hoàn hảo hơn cho bộ luật kia, ngay cả với một sự phê b́nh khoáng đạt tự do về
những điều đă có sẵn; chúng ta đă có một thí dụ sáng ngời về cách suy nghĩ trên,
thí dụ cho thấy chưa có một vị quân chủ nào đi trước người mà chúng ta ngưỡng
kính.
Nhưng cũng chỉ có người nào - chính ḿnh đă
được khai sáng,- không sợ bóng tối, và đồng thời có trong tay một đội quân đông
đảo, có tinh thần kỷ luật nhằm bảo đảm sự an b́nh công khai, chỉ có người ấy mới
có thể nói điều mà một quốc gia tự do (Freistaat)
[vii]không
dám mạo hiểm: HĂY LƯ LUẬN[viii],
NHIỀU NHƯ CÁC NGƯỜI MUỐN, VÀ VỀ NHỮNG G̀ CÁC NGƯỜI MUỐN; CHỈ NÊN VÂNG LỜI! Lời
tuyên bố cho thấy một đường lối nhân sinh bất ngờ đáng kinh ngạc, hơn nữa nếu
quan sát nó trong đại thể, th́ hầu như tất cả mâu thuẫn đều bao hàm trong đó.
Một cường độ lớn hơn của TỰ DO công dân có vẻ
ưu thế đối với TỰ DO của tinh thần dân tộc nhưng đồng thời cũng đặt cho TỰ DO (dân
tộc) này những giới hạn không thể vượt qua: một cường độ ít hơn của thứ tự do
kia (công dân) ngược lại có thể tạo ra cho tự do này (dân tộc) khoảng không gian,
có thể phóng rộng khả năng của nó ra tất cả mọi hướng. Bởi v́ một khi thiên
nhiên đă khai mở ra hạt nhân[ix]
nằm dưới lớp vỏ cứng mà thiên nhiên đă ủ ê cho nó hai điều một cách dịu dàng
nhất, đó là thiên hướng và thiên chức TƯ DUY TỰ DO: như thế dần dần mầm mống này
sẽ tác động trở lại trên chính kiến của nhân
dân (nhờ đó nhân dân từ từ trở nên có khả năng TỰ DO để HÀNH ĐỘNG) và cuối cùng
tác động ngay lên cả những nguyên tắc của chính quyền, một chính quyền bấy giờ
nhận ra được rằng, thật là ích lợi cho chính thể khi đối xử con người theo đúng
với phẩm cách của con người, con người như một thực thể hơn máy móc[x].
Königsberg tại Preussen, ngày 30 tháng 9 năm
1784
I.Kant
[i] Chú thích
của người dịch: tiểu luận này I. Kant đă viết để trả lời câu hỏi “Khai sáng
là ǵ?“ mà Linh muc Zöllner đặt ra trong bài viết của ông đăng trong tờ
Nguyệt san Bá linh ngày 5. 12. 1783 trang 516, như chính Kant đă chú thích
sau tựa đề: *Ghi chú trên về số trang (516) của tờ nguyệt san “Berlinische
Monatsschrift“ (Nguyệt san Bá linh) liên quan đến lời nhận xét sau đây trong
bài viết đă đăng trong tờ báo ấy của ông linh mục Zöllner “Lành mạnh hoá sự
kết hôn theo nhà thờ có thuận lợi hay không?“, ông ta viết: “KHAI SÁNG LÀ G̀?
Câu hỏi này hầu như cũng quan trọng không kém câu hỏi: CHÂN LƯ là ǵ, cần
phải được trả lời thoả đáng trước khi người ta khởi công khai sáng! Tuy
nhiên tôi đă không t́m thấy câu trả lời cho câu hỏi ấy ở đâu cả!“
[ii]
Vị thành niên: dịch nghĩa từ tiếng Đức “Unmündigkeit“. Ở đây tưởng nên nêu
ra sự khác biệt tư tưởng nằm trong cách dùng chữ chỉ trạng thái “trưởng
thành hay “không trưởng thành“ của con người. Trong lúc thành ngữ “vị thành
niên“ theo tiếng Hán Việt dùng để chỉ t́nh trạng chưa trưởng thành của một
con người tính theo năm tháng trên phương diện sinh vật lư thiên nhiên,
trong ngôn ngữ Đức có hai cụm từ: “volljährig“ = thành niên theo năm tháng
và “mündig“ = trưởng thành trong tư tưởng và hành động. Từ ngữ Đức
“Unmündigkeit“ được tạo thành từ chữ gốc“MUND“ có nghiă là MỒM, MIỆNG, từ
đó tĩnh từ “mündig“ dùng để chỉ những ǵ thuộc về lănh vực MỒM MIỆNG, hay
nói cách khác thuộc về lănh vực TIẾNG NÓI, PHÁT NGÔN, theo nghiă bóng một
người là “mündig“ có nghiă là người ấy trưởng thành, hay nói khác đi người
ấy biết “ăn nói“ vững vàng và có tiếng nói trong xă hội như một người công
dân. Điều lư thú là trong ngôn ngữ dân gian Việt nam chúng ta cũng có một
thành ngữ để chỉ thái độ ứng xử của một người chứng tỏ đă trở nên khôn ngoan
trưởng thành tương tự như tiếng Đức: người ấy biết “ĂN NÓI“ hay “biết ăn
biết nói biết gói biết mở“. Danh từ “MÜNDIGKEIT“ được tạo thành từ tĩnh từ
“mündig“ có nghiă là TRƯỞNG THÀNH (trong NGÔN TỰ, trong cách ĂN NÓI), cho
thấy quan niệm của người Đức về sự trưởng thành, hay sự thành NHÂN nằm ở
cung cách ĂN NÓI, PHÁT NGÔN của mỗi con người, xa hơn nữa trên phương diện
chính trị là người được quyền có tiếng nói (Stimme) trong việc bầu cử. T́nh
trạng ngược lại là “Unmündigkeit“, không trưởng thành. Một người chưa trưởng
thành về cách ĂN NÓI cần phải có một nguời đỡ đầu trước pháp luật, tiếng Đức
gọi là “VORMUND “, “VOR“ là trạng từ chỉ nơi chốn hay thời gian có nghiă là:
Ở TRƯỚC, ĐẰNG TRƯỚC, TRƯỚC ĐẤY. Người “Ở TRƯỚC MIỆNG“ được gọi là ngựi đỡ
đầu, theo đó chức vụ của người đỡ đầu là nói thay cho những người chưa
trưởng thành.
Kant đă
sử dụng chữ “UNMÜNDIGKEIT“ trong lúc lư giải tinh thần khai sáng, bởi v́
theo ông yếu tính của KHAI SÁNG nằm ở KHẢ NĂNG, Ư CHÍ (CAN ĐẢM CƯƠNG
QUYẾT) và QUYỀN ĂN NÓI của mỗi con người khi đă rời khỏi t́nh trạng NÓI
THEO vị thành niên - để có thể TỰ M̀NH PHÁT NGÔN ĐỘC LẬP khởi từ sự suy nghĩ
tự lập của mỗi người. Từ đó theo Kant phương tiện thích hợp để khai sáng đại
đa số quần chúng là sự quảng bá công khai và rộng răi các tác phẩm văn
chương văn học của những học giả trong quần chúng để giúp quần chúng tự khai
sáng thay v́ đại đa số quần chúng phải có những vị “VORMUND“ nói thay cho
họ.
Tiểu
luận của Kant cho thấy lập luận suy diễn rất chặt chẽ đi từ ư nghĩa của từng
khái niệm, bởi v́ chính ngôn ngữ là căn nhà của tư tưởng. Từ đó cũng có thể
thấy được nét đặc thù của tư duy và triết học Đức.
[iii]
Sapere aude: thành ngữ La tinh: sapere: biết, tri thức. Aude: dám, mạo hiểm:
sapere aude: có cam đảm dám biết, dám tri thức.
[iv]Nguyên
tác “freigesprochen” = tha bổng hay trắng án, được tự do, cụm từ thường dùng
trong các phiên xử của toà án xét tội trạng. Kan dùng thuật ngữ này trong
tương quan với cụm từ “verschuldet” (có tội, có lỗi) trong định nghĩa dẫn
nhập. V́ muốn sát nghĩa nên phải sử dụng cụm từ chuyên môn này, xin xem bổ
túc chú thích: vị thành niên do lỗi của con người và vị thành niên tự nhiên,
talawas 17.02.2004.
[v]
Vua nuớc Phổ Friedrich II. der Große, xin xem chú thích 6
[vi]
FRIEDRICH: Vị vua mà Kant nói ở đây là Friedrich II, der Grosse (1712 –
1786), vua nước Đức- Phổ (Preussen) thời bấy giờ, người đă bảo trợ tinh
thần khai sáng trong thời cận đại tại nước Đức. Ông đă cho phép phong trào
khai sáng Pháp (Voltaire, Maupertuis, Lametrie) thành lập một diễn đàn trong
viện Hàn Lâm Khoa Học Bá Linh để quảng bá tư tưởng khai sáng, ngay cả những
tư tưởng duy vật cực đoan nhất.
[vii]
Freistaat : nước độc lập, tôi dịch „nước tự do“ theo nghĩa đen, v́ ở đây
Kant dang dùng chữ „tự do“ cho toàn bài tiểu luận, và là một cách „chơi chữ“
linh hoạt của Kant.
[viii]
Ở đây Kant dùng chữ “RÄSONIEREN” có 2 lư do: v́ vua Friedrich nổi tiếng là
người yêu chuộng tư tưởng Khai Sáng của Pháp nên ông sử dụng từ này lấy từ
tiếng Pháp ngụ ư sự ưu đăi điển h́nh, thứ hai v́ trong chữ RÄSONIEREN có chữ
“RAISON”, có nghĩa là lư trí.
[ix]
Keim: mầm mống, tôi dịch là “hạt nhân” trong nghĩa gấp đôi: nhân là mầm
mống, và nhân, nghĩa ẩn dụ trong bài,là người.
[x]
Chú thích của I. Kant: Trong tin tức hàng tuần của tờ Büsching ngày 13 tháng
9, tôi vừa đọc được ngày hôm nay, ngày 3o cùng tháng 9, thông báo của Nguyệt
san Bá Linh (Berliner Monatsschrift) cho biết đă đăng tải bài trả lời câu
hỏi trên (về Khai Sáng- N.D.) của ngài Mendelsohn. Tôi chưa nhận được bài
này, nếu không tôi đă rút lui bài trả lời hiện nay. Giờ đây không c̣n cách
nào khác hơn là hăy để bài của tôi đứng đấy như một thử nghiệm xem sự ngẫu
nhiên có thể đem lại bao nhiêu nét nhất trí về tư
tưởng.
Bổ túc chú thích bài Trả lời câu hỏi:
Khai sáng là ǵ?
1. Tổng lược
Khai sáng
(KS): Aufklärung: làm sáng trí tuệ
Định nghĩa KS:
Như trong hệ thống triết học của ông, ở bài tiểu luận về KS Kant đă xây dựng
và lư giải khái niệm KS bằng hai phương pháp: phân tích và tổng hợp, hay
diễn dịch và qui nạp.
Phương pháp diễn dịch
của Kant theo mẫu phương pháp chứng minh toán học: trước hết Kant đưa ra ra
định nghĩa toàn thể khái niệm KS ngay từ đầu bài, sau đó ông phân tích để
rút ra những yếu tố cấu trúc của khái niệm. Những yếu tố đó lại được ông
định nghĩa và phân tích thành những yếu tố nhỏ hơn và cuối cùng ông tổng hợp
để đi đến kết luận về vai tṛ và ư nghĩa của KS
Phương pháp qui nạp được Kant sử
dụng trong khi dẫn chứng các thí dụ cụ thể để chứng minh cho những khái
niệm, ngược lại với phương pháp phân tích của diễn dịch, đây là phương pháp
tổng hợp bằng cách thâu lượm những yếu tố kinh nghiệm thực tại về t́nh trạng
vị thành niên trên các lănh vực xă hội (ví dụ vai tṛ của n gười sĩ quan
trong xă hội), tôn giáo (vai tṛ của vị linh mục), lịch sử (thế kỷ của KS)
và chính trị (ví dụ điển h́nh về vua Friedrich).
Định nghĩa KS được đề
ra trong viễn tượng vượt ra khỏi t́nh trạng vị thành niên (Unmündigkeit)
đang chế ngự con người trong xă hội hiện tại như là một phản đề hay phủ định
thực trạng vị thành niên (VTN) hiện tại: Chính ư niệm phủ định (PĐ) này của
Kant đă là một trong những viên gạch xây dựng luận lư biện chứng của Hegel
và sau đó của Marx như một phản đề của phản đề.
Ta có định nghĩa:
KS = PĐ - VTN do chính con người
gây ra cho ḿnh
VTN = tư duy
lệ thuộc
Lỗi của con
người = không có ư chí và thiếu can đảm sử dụng trí tuệ độc lập do lười
biếng và hèn nhát. KS do đấy thuộc lănh vực đạo đức, trong đó con người theo
Kant có ư chí tự do (freier Wille), tự chủ (Autonomie) và tự do (Freiheit)
để hành động đạo đức. Từ đó trong khái niệm KS có ư niệm “tiến bộ“, theo
nghĩa mở rộng kiến thức để dẹp bỏ sai lầm và thành kiến. Khai Sáng là điều
kiện của tiến bộ. Kant dùng chữ “tiến bộ“ trong tương quan này như một “định
nghĩa nguyên thủy của bản tính con người“, một quan điểm tiến hóa
(Evolution) của Darwin.
Có thể nói
tổng quát : Khai Sáng – Tiến Bộ – Cách Mạng là những khái niệm từ Kant qua
Hegel đến Marx.
Tiến tŕnh
KS = phủ định vị thành
niên: không phải thụ động mà là hành động, bước đi, bước ra (Ausgang) khỏi
bóng tối do con người gây ra, với một quyết tâm can đảm (sapere aude!). Hành
trang duy nhất cho cuộc hành tŕnh là trí tuệ con người (như một ánh lửa).
Vừa đi – một cuộc đi cam go như “leo núi Everest bằng chân trần“ và như khi
đọc I. Kant! – con người từng bước (tiến bộ) khám phá và định nghiă được từ
chính trong thiên chất của ḿnh con người là một thực thể khác hơn máy móc:
là một chủ thể tự do. Đó là tiến
tŕnh từ bóng tối ra ánh sáng trong tiểu luận Khai Sáng.
Kết luận của bài Khai
Sáng là một h́nh ảnh triết lư nên thơ bất ngờ của triết gia nổi tiếng khắc
khổ: Khai sáng là động tác bóc những vỏ cứng của một hạt dẻ nằm trong thiên
nhiên, sau bao lần vỏ cứng hiện ra một hạt NHÂN sáng ngời: CON NGƯỜI của
Khai Sáng, h́nh ảnh nhân bản của hi vọng: chủ thể tự do đạo đức trong vũ trụ.
H́nh ảnh này gói trọn
tất cả khái niệm đi trước như sự khép lại hệ thống tư tưởng của bài viết
bằng một hạt nhân, hạt NHÂN tư tưởng đầy nhân bản của Kant.
2. Các khái niệm
trong tiểu luận
Trí tuệ =
Verstand: nghiă hẹp: trí hiểu biết, khả
năng nhận thức, giác tính (theo Bùi Văn Nam Sơn, dịch giả bản Việt ngữ tác
phẩm Phê b́nh lư lính thuần túy của I. Kant sắp xuất bản);
nghiă rộng: trí tuệ. Đây là một khái niệm quan trọng trong triết học của
Kant. Kant sử dụng khái niệm này trong nhiều bộ môn triết học.
Trong lănh vực tri thức
luận, Verstand (giác tính) được xem là chức năng (Funktion) hiểu biết linh
hoạt và trực khởi (spontan), có khả năng tổng hợp các ấn tượng cụ thể đa tạp
và hỗn độn của cảm năng (Sensibilität) vào trong một khái niệm (Begriff).
Verstand theo Kant là nguồn suối của các phạm trù tiên nghiệm (Kategorie),
từ đó một tri thức được thành h́nh. Verstand là chức năng hoạt động trong
lúc cảm giác tính là chức năng thụ động có nhiệm vụ làm môi giới cho ta và
đối tượng bên ngoài. Theo Kant, Verstand là chức năng có thể viết chỉ thị,
qui luật cho thiên nhiên. Verstand đối trị với thiên nhiên trong chức năng
linh hoạt của nó.
Trong lănh vực nhân
chủng học, Verstand được Kant sử dụng như một gia sản tri thức của con người,
khác với khái niệm thiên nhiên (Natur).
Trong bài KS, Kant đă
dùng khái niệm Verstand theo nghĩa rộng: Verstand = trí tuệ của con người,
do đó nội tại, những ǵ do trí hiểu của con người phác thảo và sáng tạo khác
với thiên nhiên là ngoại tại mà Kant dùng chữ “fremd“ = (nghĩa đen): lạ,
không quen, bên ngoài.
Kant đă dùng chữ
“trưởng thành thiên nhiên“ (naturaliter maiorennes) trong câu “được thiên
nhiên giải phóng ra khỏi sự chỉ đạo ngoại lai“ (= fremd = bên ngoài) đối
nghịch với “trưởng thành qua trí tuệ“ (mündigkeit = sử dụng trí tuệ độc lập
không có sự chỉ đạo của người khác) như một khả năng nội tại của con người.
Ở những đoạn khác luôn
luôn ta có những cặp khái niệm đối chiếu nhau như thế. Ví dụ: Những ǵ do
con người làm ra, nhân tạo = künstlich (như guồng máy, tổ chức) trong nghĩa
đối nghịch với thiên nhiên, tự nhiên = natürlich hay fremd (ngoại lai, bên
ngoài). Vị thành niên – Thành niên - Trưởng thành (đă chú thích).
Và thiên nhiên nuôi
dưỡng “hạt nhân“ trí tuệ ở kết luận KS.
TỰ DO:
điều kiện thực hiện Khai Sáng. Trong bài KS, Kant đưa ra hai loại tự do: tự
do tư duy = tự do nội tại của mỗi người, khác với tính tất yếu thiên nhiên
và tự do công khai tŕnh bày trước quần chúng (tự do ngôn luận). Kant nhấn
mạnh “tự do công khai tŕnh bày trước công chúng“ như là điều kiện để khai
sáng quần chúng rộng răi và có hiệu quả nhất. Từ đó mỗi người có thể đưa ư
kiến phát biểu công khai hay tiếng nói (Stimme) (xin xem VTN và Thành
niên, Unmündigkeit và Mündigkeit, chú thích 1 của bản dịch). Trong bài KS,
câu “thống nhất các tiếng nói“ tŕnh trước nhà vua (ngai vàng) trong nghĩa
này.
Kant phân biệt giớ i
hạn của tự do qua sự phâ n biệt sự sử dụng công khai của lư trí v à
sự sử dụng riêng tư :
trong l úc Kant cho tự do ngôn luận của người học giả phải được bảo đảm tối
đa, ông quan niệm mỗi người phải có bổn phận thi hành chức vụ của ḿnh trong
giới hạn đă giao ước với ngư ời khác.
Tự do tư duy và Tự
do hành động (diễn giải trước
quần chúng) theo Kant là những yếu tố xác định, định mệnh (Bestimmung) con
người và cũng là thiên chức của con người (Beruf)
Ta có ở đây cặp khái
niệm “xác định“ (Bestimmung) và “thiên chức“ (Beruf): trong lúc chữ “xác
định“, định mệnh (Bestimmung) diễn tả điều kiện nội tại (immanent) của khái
niệm con người, khái niệm “thiên chức“ (Beruf) nói đến tính thiêng liêng mà
mỗi người cảm nghe trong tâm một tiếng nói kêu gọi hành động đạo đức- tiếng
gọi như là gạch nối giữa con người và siêu việt. Tôi tạm dịch là “thiên chức“
v́ không biết có từ nào tương ứng hơn.
Rất mong được góp ư.
Học giả:
Kant giao phó cho
học giả vai tṛ chủ đạo trong Khai Sáng, trong ư nghiă học giả là người tư
duy độc lập có thể dùng trí tuệ huân tập những tri thức và kiến thức
trung thực, khoa học và bổ ích cho con người và xă hội.
Lư trí
(Vernuft):
c̣n được dịch là lư tính, là khả năng mở rộng các qui luật tri thức cũng như
ư hướng sử dụng tất cả những năng lực của con người vượt lên bản năng thiên
nhiên. Lư tính trong KS được hiểu theo nghĩa là khả năng (Vermögen) của con
người, có thể phán đoán theo nguyên tắc tự chủ, có nghĩa là tự do nhưng
tuân theo những qui luật của tư duy.
Khai
sáng và cách mạng:
Từ khái niệm KS, Kant rút ra khái niệm “tiến bộ” nhưng không chủ trương cách
mạng. Cách mạng đối với ông không phải là giải pháp cho Khai Sáng, chừng nào
con người c̣n bị định kiến đè nặng.
Tôn
giáo: Giáo hội
Thieân chuùa La mă và Tin lành. Kant cho t́nh trạng vị thành niên trong lănh
vực này là tệ hại nhất.
Triết
học chính trị của
Kant nằm trong khái niệm thể chế mâu thuẫn, trong đó con người có thể “lư
luận tự do theo ư muốn và ư thích, nhưng phải vâng lời“ như một loại thể chế
“tự do - quân chủ“ theo kiểu vua Friedrich II. der Große.
|
|