|
MỘT BÀI HỌC VỀ NHÂN QUYỀN
cho Vơ văn Ái và Nguyễn sĩ Tiến
Trần Chung Ngọc
Trong bài Vài Nhận Xét Về Vấn Đề Tranh Đấu
Cho Nhân Quyền & Tự Do Tôn Giáo Ở Hải Ngoại (Trang Nhà Giao Điểm, Giao Điểm
số 39, 40; Chuyển Luân số 23; Hoa Sen số 42), tôi đă tŕnh bày sơ lược vài tài
liệu về thực chất và nội dung cái gọi là bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của
Liên Hiệp Quốc. Sau đó, có một ông Nguyễn sĩ Tiến (NST) nào đó phê b́nh bài trên
với văn phong của một “anh hùng chợ Cầu Muối” để bênh vực Vơ văn Ái, và gần đây
NST khoe rằng “Từ đó Nghè Ngọc tịt ng̣i”.
Hiển nhiên, NST viết chỉ để
mà viết, và mục đích không ngoài tự đánh bóng đề cao ḿnh, v́ qua bài viết của
NST chúng ta thấy NST theo dơi Giao Điểm rất kỹ, và tất nhiên không thể không
đọc bài tôi viết tiếp về vấn đề nhân quyền: Nhân Quyền! Của Ai Và Cho Ai?,
trong đó tôi có nói đến kiến thức thấp kém của NST về vấn đề nhân quyền, và bài
Quê Mẹ! Nhưng Mẹ Nào, trong đó tôi đă vạch trần với đầy đủ tài liệu bản
chất làm tay say sai cho Mỹ của Vơ văn Ái, tức Quê Mẹ Paris, với sách lược nấp
đàng sau chiêu bài Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo, đưa ra những thông tin bịa đặt
để xuyên tạc t́nh trạng về nhân quyền và tôn giáo ở Việt Nam, tạo áp lực với
Việt Nam cho quyền lợi và chính sách của Mỹ.
Bài viết này không phải để
trả lời NST, một việc mà không một người nào có đôi chút học thức muốn làm, mà
là để bổ túc, khai triển và chứng minh những chủ đề chính yếu trong các bài trên.
Trong ba bài này, tôi đă tŕnh bày rơ nguồn gốc thành lập Liên Hiệp Quốc (1945),
thực chất của Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền (1948), và những Giao Ước Quốc
Tế về Nhân Quyền sau đó (1966). Tôi đă chứng minh rằng:
1. Sự thành h́nh Liên Hiệp Quốc phần
lớn do ư định của Mỹ và hầu như là sản phẩm của 4 cường quốc sau đệ nhị thế
chiến: Mỹ, Anh, Nga, và Trung Hoa Dân Quốc;
2. Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
là một tài liệu không rơ ràng, không có tính cách bắt buộc pháp lư(1),
nghĩa là các quốc gia không có bổn phận phải thi hành những điều khoản trong Bản
Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân Quyền;
3. Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền
trên thường được Tây phương cưỡng dùng làm thước đo vấn đề nhân quyền trên toàn
thể thế giới, một chiêu bài thường được sử dụng để đạt được những mục đích chính
trị kinh tế của Tây phương chứ không phải v́ tự thân nhân quyền, v́ lịch sử thế
giới cho biết chính những quốc gia Âu Mỹ là những nước vi phạm nhân quyền nhiều
nhất..
4. Đưa ra những bằng chứng,
tài liệu là Quê Mẹ Paris đă lănh tiền của cơ quan NED, một mặt khác của CIA, để
hoạt động theo đúng chỉ thị của NED, làm áp lực với chính quyền Việt Nam về vấn
đề Nhân Quyền và Tự Do Tôn Giáo qua những thông tin ngụy tạo.
Nhiều sự kiện trên khắp thế
giới, thí dụ như những hành động của Mỹ ở Việt Nam, Indonesia, Guatamala, El
Salvadore, Nicaragua v..v..(2) đă chứng tỏ rằng
Nhân Quyền chỉ là một chiêu bài hữu danh vô thực của Mỹ, với hậu thuẫn của bom
đạn và ưu thế kinh tế, để ép những tiểu nhược quốc nào có thể ép được phải theo
quan niệm về nhân quyền, dân chủ, đường lối chính trị, quyền lợi kinh tế của Mỹ,
tạo thuận lợi cho Mỹ bành trướng văn hóa và tôn giáo của Mỹ. Cuộc xâm chiếm Iraq
của chính quyền Bush gần đây đă chứng tỏ rơ ràng hơn hết nhận định trên. “Viện
trợ Ki-Tô” (Christian aid) đă đổ vào Iraq để mua linh hồn cho Chúa. Nhiều nhà
thầu (war contractors) trước đây đă đóng góp cho quỹ tranh cử của Bush, một h́nh
thức hối lộ, nay đă trúng thầu trong những dịch vụ hái ra tiền, những dịch vụ
liên quan đến chiến tranh, nghĩa là kiếm lời nhờ chiến tranh. Đây chính là đường
lối tư bản rừng rú cố hữu, không liên quan ǵ đến nhân quyền.(3)
Riêng hăng khai thác dầu hỏa Halliburton (hăng Kellogg, Brown & Root, viết tắt
là KBR) mà Dick Cheney cai quản trước khi làm Phó Tổng Thống đă “trúng thầu” trị
giá 2.3 tỷ đô-la.
Tuy nhiên, trong ba bài trên,
tôi đă phạm phải một lỗi lầm to lớn đối với dân Chống Cộng Chết Bỏ (CCCB) ở Hải
Ngoại: không những không hùa theo họ trong những hành động thiếu trí tuệ mà c̣n
dám vạch trần bộ mặt thật của Vơ Văn Ái (VVA), một thần tượng của đám người CCCB
ngơ ngáo, có đầu nhưng không có óc, tranh đấu cho nhân quyền và tự do tôn giáo
theo chỉ thị của Mỹ, theo quan niệm hẹp ḥi, trịch thượng, vô cùng đạo đức giả
của Mỹ về nhân quyền.
Điều này làm cho đàn em thuộc
hạ của VVA là NST cay cú, hay chính VVA đội lốt đàn em thuộc hạ, v́ không có
cách nào phủ bác được những điều tôi viết trong ba bài trên, nên đă xoay mũi dùi,
lên tiếng chụp mũ một cách quá ấu trĩ Tổng Đàn, Chuyển Luân và Giao Điểm là:
“nhóm của Giao Điểm đưa lên Trang Nhà bọn chúng một bài viết mới bôi nhọ ông VVA.
Song nội dung chẳng khác, vẫn chuyên chở nội dung các bài vu khống và đánh phá
ông Ái đăng trên các báo Đảng hơn 20 năm qua ở trong nước... mà tôi từng đọc.”
Sau đó mới dùng văn phong của một “côn đồ văn hóa” viết: “Tôi điện thoại sang
Paris yêu cầu ông Ái nên có bài trả lời để gióng một tiếng chuông cảnh tỉnh.
Nhưng Ông Ái hỏi tôi rằng : "Ông đang đi trên đường, vô cớ bị một thằng điên nhổ
nước bọt vào người. Ông sẽ hành xử ra sao ? Nhổ lại nước bọt vào mặt hắn hay nên
đi gấp theo đường hướng của ḿnh ? Vấn đề tôi quan tâm là Cái Nhà Thương Điên
kia, chứ không là một vài thằng điên trong đó."
Tại sao lại phải dùng đến
loại văn phong hạ cấp để xuyên tạc như trên. Thật là dễ hiểu, v́ bản chất hạ cấp
của chính bản thân Vơ Văn Ái, và v́ trước những bằng chứng hiển nhiên, những tài
liệu rơ ràng, VVA không có cách nào có thể phủ bác được nên phải dùng đến tiểu
xảo “cả vú lấp miệng em” để né tránh và đồng thời mạ lỵ những người đă vạch trần
bộ mặt thật của VVA ra. Tuy vậy, đi sâu vào vấn đề, chúng ta nên đặt vài câu hỏi.
Thứ nhất, NST thử kiếm xem
trên mặt VVA c̣n chỗ nào sạch sẽ, nếu cần tôi xin hoan hỉ cho mượn một kính hiển
vi, để cho người ta có thể bôi nhọ thêm vào hay nhổ nước bọt trên đó? Những cái
mà NST gọi là bôi nhọ phải chăng là những vết nhọ đă có sẵn trên khắp mặt VVA
rồi?
Thứ nh́, tất cả những cái mà
NST gọi là vu khống đều có bằng chứng trưng dẫn qua chính các bản văn như “Phúc
Tŕnh” (sic) của Đoàn Viết Hoạt, “Nhận Định...” của HT Quảng Độ, các bản “Thông
Cáo Báo Chí” (sic) mà nội dung không phải là “thông cáo”, và nhất là những tài
liệu cấp “phân” (fund) và chỉ thị cho Quê Mẹ của cơ quan NED. Đây là những tài
liệu mới, năm 2002, cập nhật nhất, và tuyệt đối không có dính dáng ǵ đến cái mà
NST chụp mũ là đă “đăng trên các báo Đảng hơn 20 năm qua ở trong nước” (sic).
Chụp mũ, xuyên tạc một cách ấu trĩ như vậy, NST tưởng rằng có thể làm cho độc
giả tin, không nghĩ rằng độc giả ngày nay thông minh hơn NST nhiều, có thể nhận
ra ngay luận điệu chụp mũ gian dối hạ đẳng của NST. Bởi v́, muốn thuyết phục
người đọc, ít nhất NST cũng phải đưa ra vài bằng chứng là báo trong nước đă đăng
như thế nào, bao giờ, và vu khống như thế nào, và có phải là Tổng Đàn, Chuyển
Luân và Giao Điểm đă dùng những tài liệu đó không v..v.. Nhưng xét cho cùng,
tŕnh độ của NST hay VVA chỉ có vậy, muốn viết khá hơn hay thông minh hơn một
chút là một chuyện ngoài khả năng của họ.
Tại sao ông VVA không đích
thân trả lời để gióng lên một tiếng chuông cảnh tỉnh? V́ làm sao ông ta có thể
trả lời được trước những bằng chứng hai năm rơ mười để bào chữa hoặc biện minh
cho bộ mặt quá lem luốc của ông ta? Ông ta đành mượn tên NST, dùng văn phong hạ
cấp để xuyên tạc, vu khống, tuyệt đối không bằng chứng, Tổng Đàn, Chuyển Luân và
Giao Điểm.
Xuyên tạc và vu khống như
thế nào? Sách lược này tập trung vào một điểm: khai thác cái “mốt” thời thượng
của quần chúng hải ngoại, dựng đứng chụp mũ Tổng Đàn, Chuyển Luân và Giao Điểm
là tay sai của CS một cách vu vơ rất ấu trĩ như trên mà không cần đưa ra bất cứ
một bằng chứng nào. Tất cả chỉ là những suy diễn vu vơ dựa trên một tầm nh́n
trắng đen một chiều: không theo GHPGVNTH-HK là CS; đụng đến những con “sư tử
trùng” VVA trong GHPGVNTH-HK là tay sai của CS; viết về Thích Giác Lượng đi chầu
hầu Vatican hoặc Thích Chánh Lạc với vụ án ở Denver là chống phá triệt hạ
GHPGVNTH-HK; chống Công giáo, hay nói đúng hơn, đưa ra những sự thực về cái giáo
hội Công giáo ô nhục, đẫm máu trong lịch sử loài người v..v.. cũng là làm tay
sai cho CS; không chống Cộng chết bỏ là theo CS; không ủng hộ VVA, đầy tớ của
NED, cũng là làm tay sai cho CS v..v.. Lẽ dĩ nhiên, họ chẳng bao giờ nhắc tới
những bài như Về Một Chuyện Xưa Rất Mới của Giới Tử, Phật Giáo giữa
hai ư thức hệ Công Giáo và Cộng Sản của Trần Chung Ngọc và nhiều bài khác
trong Chuyển Luân và Giao Điểm mà nội dung thuần túy có tính cách xây dựng, cho
dân tộc cũng như cho Phật Giáo.
Đây là một trong những điểm
yếu nhất và cũng là điểm, theo tôi, phản ánh căn trí thấp nhất của đa số những
người muốn giữ độc quyền chống Cộng: cứ ai có ư kiến khác với ḿnh là y như rằng
phải chụp mũ người ta là thân Cộng hay làm tay sai cho CS mà không đưa ra bất cứ
một bằng chứng nào. Họ đần độn đến độ không hề để tâm t́m hiểu: những người mà
họ muốn vu khống là làm tay sai cho CS là những ai, bao nhiêu tuổi, t́nh trạng
kinh tế gia đ́nh ra sao, thuộc thành phần nào ở miền Nam trước đây, và nhất là
động cơ đi làm tay sai cho CS trong thời buổi này? v́ danh vọng, chức tước,
quyền lợi, hay tiền tài? và danh vọng, chức tước, quyền lợi, hay tiền tài như
thế nào, ở mức độ nào, và có phải là những nhu cầu cần thiết của những người này
không? Và nếu không phải là v́ danh vọng, chức tước, quyền lợi, hay tiền tài,
th́ có lư do ǵ để những người này làm tay sai cho CS?
V́ không thể đưa ra bất cứ
một lư do hợp lư nào cũng như một bằng chứng nào chứng minh là những người họ
đặt điều vu khống làm tay sai cho CS, cho nên cái mũ CS mà họ chụp lên đầu những
người bất đồng ư kiến với họ ngày nay không hề có một ảnh hưởng nào trên cộng
đồng người Việt di cư, trái lại chỉ mua lấy sự khinh bỉ của quần chúng. Thật vậy,
mỗi năm người Việt di cư “chống Cộng” đă kéo về thăm quê hương hàng trăm ngàn,
và năm nay, 2003, vé máy bay về Việt Nam trong dịp Đông Chí và Tết Nguyên Đán đă
rất khó mua, nhất là máy bay trở về Mỹ những ngày đầu năm 2004. Mỗi năm, người
Việt di cư “chống Cộng” cũng gửi về Việt Nam cả tỷ đô-la để nuôi dưỡng chế độ,
theo như luận điệu của những người chống Cộng có đầu nhưng không có óc. Đây là
những sự kiện, ai không đồng ư xin lên tiếng. Và sự kiện này nói lên cái ǵ? Cái
mũ CS đă rách bươm qua bao năm qua và những người ngày nay c̣n sử dụng nó chẳng
qua chỉ là những kẻ đầu cơ kiếm lợi riêng cho ḿnh chứ chẳng phải là v́ quốc gia
đại sự ǵ. Bộ mặt này của VVA đă quá rơ, chẳng cần phải nói thêm nhiều.
Chuyện khôi hài nhất là cái
hiện tượng chụp mũ bừa băi nhau là CS đă biến hầu hết những người Việt di cư là
CS. CS bất chiến tự nhiên thành. Có ai nghĩ ra điều này không? Ngoài ra, cái
gương trước đây có người ở Cali vu khống Giao Điểm là CS đă bị ṭa phạt mấy chục
ngàn đô-la, không có tiền trả, phải trốn lui trốn lủi đi tiểu bang khác, và gần
đây vụ vu khống Phật tử là CS ở Denver với hậu quả là bị ṭa phạt bồi thường 4
triệu 8 trăm ngàn đô-la có lẽ vẫn chưa thức tỉnh những người có những bộ óc chứa
toàn ḿ ăn liền.
Ông VVA, ngồi ở Paris, được
cơ quan NED của Mỹ cấp “phân” để tranh đấu cho “quyền làm người Việt Nam”, làm
như 80 triệu dân Việt Nam ngày nay không phải là người. Thân phận của một đầy tớ
ngoại bang, lănh tiền của ngoại bang để chống phá Việt Nam mà dám mở miệng đ̣i
tranh đấu cho “quyền làm người Việt Nam”, quyền ǵ? quyền tự do đi làm đầy tớ
như VVA chăng? Tôi thách bất cứ ai, kể cả VVA và NST, có thể phủ bác sự kiện này.
Nhưng ông VVA, cũng như những người dựa hơi Mỹ, lại không biết rằng chính cái bộ
mặt “nhân quyền” của Mỹ lại là một bộ mặt lem luốc mà cả thế giới đă biết. Đó là
cái nhục của những kẻ làm tay sai cho một ông chủ, hay dựa hơi một ông chủ mà
ḿnh không biết rơ, mà không biết đến bản chất và thực chất của chính ông chủ
ḿnh. Do đó bài viết này có thể coi như là một bài học về “nhân quyền” cho các
ông VVA, NST et al....
Noam Chomsky, một học giả
lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts (M.I.T.), đă viết rơ về
chính sách ngoại giao của Mỹ: “Thật ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn
bản trên nguyên tắc không liên quan ǵ đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến
sự tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương”(4)
Ngoài ra, bộ mặt thực về
“nhân quyền” của Mỹ đă được chứng minh trong biến cố sau đây. Đầu tháng 5, 2001,
Liên Hiệp Quốc đă bỏ phiếu hất Mỹ ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền Quốc Tế trong đó Mỹ
liên tục là một thành viên từ năm 1948, trong khi Trung Quốc, Việt Nam, Cuba đều
được bầu làm thành viên. Điều này cho thấy, Mỹ chỉ có thể dựa vào ưu thế kinh tế
và quân sự chứ không thể dựa vào chiêu bài “nhân quyền”. Nếu Mỹ thực sự tôn
trọng nhân quyền trên nước Mỹ cũng như trên thế giới th́ tại sao Mỹ lại bị đuổi
ra khỏi Ủy Ban Quốc Tế Nhân Quyền? Nhưng đồng tiền của Mỹ rất mạnh, có thể mua
dễ dàng những tay sai chính hiệu như VVA để tranh đấu cho “nhân quyền” ở Việt
Nam, một sách lược của Mỹ để ép Việt Nam phải tạo ra một bầu không khí thuận lợi
cho ngoại thương của Mỹ.
Qua biến cố loại Mỹ ra khỏi
Ủy Ban Quốc Tế Nhân Quyền, Vince Hayner đă viết một bài với nhan đề Những Vi
Phạm Của Hoa Kỳ (US's Violations) trong đó có đoạn như sau: “Sự loại Hoa Kỳ
ra khỏi Ủy Ban Nhân Quyền là một bất ngờ cần được hoan nghênh. Trong khi các
chính trị gia, kư giả và dân thường hỏi tại sao, câu trả lời ở ngay trước mắt
chúng ta. Hoa Kỳ có một thành tích khủng khiếp về nhân quyền. Ngoài chuyện hàng
ngày áp bức chính dân của ḿnh, Hoa Kỳ vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền ở các nơi
như Vieques (Porto Rico) bằng Hải Quân Hoa Kỳ, và ở quanh thế giới trong những
xí nghiệp bóc lột nhân công tàn tệ (sweatshops) cho những xí nghiệp Hoa Kỳ, và
điều có lẽ đáng lo ngại nhất là, giết hại hơn 1 triệu dân Iraq trong chiêu bài
trừng phạt, đó là chỉ kể vài sự kiện. Hi vọng rằng sự loại Hoa Kỳ ra khỏi Ủy Ban
Nhân Quyền là một dấu hiệu mà các thành viên khác của LHQ sẽ không dung dưỡng
cho những hành động không hề thay đổi, đơn phương tấn công nhân cách con người
của Hoa Kỳ.”(5)
Đó là những bộ mặt thực của
Mỹ trong vấn đề nhân quyền, của cái Quốc Hội đă dùng tiền thuế của dân để lập ra
cơ quan NED, một cánh tay khác của CIA, mà vô thượng thiên tài chống Cộng VVA
nấp sau, tung ra những thông tin bịa đặt để tranh đấu cho nhân quyền và dân chủ
ở Việt Nam, theo đúng chỉ thị của NED như tôi đă chứng minh trong bài Quê Mẹ!
Nhưng Mẹ Nào trước đây.
Bộ mặt “nhân quyền” của Mỹ
gần đây, sau vụ khủng bố 11/9/2001, và tiếp theo là cuộc xâm chiếm Iraq vào
tháng 3 năm 2003, đă cho thế giới rơ thực chất chính sách cường quyền thắng công
lư của Mỹ, bất kể đến luật lệ quốc tế, bất kể đến vấn đề nhân quyền. Trong nội
địa, Mỹ đưa ra Đạo Luật Yêu Nước (Patriot Act). Với nội dung của đạo luật này và
những biện pháp đă được áp dụng dựa theo đạo luật này th́ những cái mà những
người CCCB cho là vi phạm nhân quyền của Việt Nam chẳng thấm vào đâu. Chứng minh?
Chúng ta hăy đọc vài nét
trong bài của Cherif Bassiouni, Giáo sư Luật Học, Viện trưởng Viện Luật Pháp
Quốc Tế Về Nhân Quyền tại Đại học DePaul (6)
viết ngày 24 tháng 8, 2003, trên tờ Chicago Tribune: "Quốc gia (Hoa Kỳ)
chưa từng thấy một sự xói ṃn có hệ thống những quyền dân sự như sau vụ tấn công
ngày 11 tháng 9, 2001. Nó mang một h́nh thức phá ngầm hệ thống pháp luật, ghép
song song với những lạm dụng quá độ về 1uyền lực của chính quyền, tất cả đều
nhân danh chống khủng bố.
... Sự xói ṃn này khởi đầu từ 1996 với đạo luật
về di trú và chống khủng bố. Hầu hết những quyền của một công dân Hoa Kỳ mà
những người dân thường trú được bảo vệ một cách b́nh đẳng bởi hiến pháp, nay đă
bị lột đi mất. Những người không phải là dân Mỹ có thể bị bắt bớ và trục xuất
dựa trên những “bằng chứng mật”, điều này đă thu hồi quyền, quy định bởi hiến
pháp, được đối đáp và chất vấn những bằng chứng đưa ra để chống họ.
Đây chính là điều các chính
thể độc tài áp dụng mà Hoa Kỳ thường xuyên lên án kể từ cuộc chiến tranh lạnh.
... Chiến dịch của chính quyền chỉ nhắm vào dân
gốc Ả Rập và những người Hồi giáo. Số người bị bắt không được xác định, t́nh
trạng của họ được dấu kín, và kết quả điều ta không được tiết lộ.
Tổng thanh tra bộ Tư Pháp
phúc tŕnh rằng nhiều vụ không biện minh được và nhiều cá nhân bị đối xử thô bạo,
một cách hành xử vi phạm nặng những tiêu chuẩn pháp lư của chúng ta.
... Tuy nhiên, trong một hành động chống đối can
đảm, ông ṭa David Tavel viết rằng sự “tôn trọng mù quáng” của đa số trước những
khẳng định mơ hồ của chính quyền không chỉ vi phạm mục đích của đạo luật về sự
Tự Do Đ̣i Hỏi Những Thông Tin mà c̣n ngăn ngừa người dân Mỹ t́m hiểu là chính
quyền hiện nay có “vi phạm những quyền quy định bởi hiến pháp của nhiều trăm
người bị bắt giữ trong sự điều tra sự liên hệ tới khủng bố” hay không?
Chiến tranh ở A Phú Hăn đưa
đến một loại vi phạm khác, giam giữ tù binh ở Vịnh Guantanamo, Cuba. Sự bắt giũ
họ không theo đúng thủ tục là một sự vi phạm trắng trợn công pháp quốc tế qui
định bởi Công Ước Liên Hiệp Quốc Thứ Ba mà chúng ta phải có bổn phận tôn trọng.
Công Ước đ̣i hỏi rằng Hoa Kỳ
phải xét xử họ đúng cách như đối với các tù binh chiến tranh và đối xử với họ tử
tế. Công Ước cũng qui định là họ sẽ được thả sau khi cuộc xung đột chấm dứt.
Cuộc xung đột đă qua, những họ vẫn c̣n bị giam giữ. Hơn thế nữa, họ c̣n bị đối
xử theo cung cách có thể xếp vào loại tra tấn: làm mất cảm giác, chùm kín đầu
trong một thời gian lâu dài và biệt giam, cách đối xử có tính cách xỉ nhục và
làm mất phẩm giá con người.
Tất cả những điều trên đều
được tŕnh bày hời hợt giả dối và không một ai trong giới truyền thông Hoa Kỳ
hay trong các tổ chức bảo vệ nhân quyền được phép đi vào trong các trại giam để
quan sát những điều kiện giam giữ và hỏi han những người bị giam.
Những người bị giam giữ ở trong lớp tuổi từ 15
tới 95, gồm một số ốm đau (7).
Trong tờ Daily Herald
ngày 6 tháng 10, 2003, Ray Hanahia viết một bài nhan đề A Close Look at the
Patriot Act Is Not Comforting: "Lần đầu tiên tôi đọc Đạo Luật Yêu Nước và
tôi bị một cú “sốc” v́ tôi thực sự đă biết rất ít.
Những người ủng hộ Đạo Luật
Yêu Nước nhấn mạnh là nó dùng để ngăn ngừa một cuộc khủng bố 9 tháng 11, 2001
khác, và không ǵ hơn nhiều những ǵ đă được làm. Thật vậy sao. Vậy tại sao
chúng ta lại cần đến nó.
Đạo Luật Yêu Nước mở rộng một
kẽ hở của Đạo Luật về T́nh Báo Quốc Ngoại năm 1978. Đạo luật này ngưng áp dụng
một số biện pháp quy định bởi hiến pháp bảo vệ những cá nhân được xếp vào loại
“điệp viên ngoại quốc”. Với Đạo Luật Yêu Nước, hầu hết những sự bảo vệ này không
được áp dụng. Tệ hơn nữa là theo đạo luật cũ, ông chưởng lư Hoa Kỳ John Ashcroft
phải đưa ra những bằng chứng là tại sao lại xếp một người vào loại trên. Với Đạo
Luật Yêu Nước, Ashcroft không cần đến một bằng chứng nào.
Chỉ theo lời ông, bất cứ ai
cũng có thể bị chỉ định là “điệp viên của ngoại quốc”. Tất cả những quyền của
một người dân Mỹ đều bị vứt bỏ. Họ có thể xông vào nhà tôi khám xét mà không cần
sự chấp thuận của một ông Ṭa trước. Và bây giờ, họ có thể khám xét mọi sổ sách
ghi chép, hồ sơ.
Trong quá khứ, những người bị
nghi ngờ được báo trước là nhà cửa của họ sẽ bị lục xoát và tịch thu những hồ sơ.
Với Đạo Luật Yêu Nước, nếu Ashcroft tịch thu một chương mục ngân hàng, các viên
chức ngân hàng có thể bị truy tố nếu họ định nói cho thân chủ biết tại sao
chương mục của họ bị phong tỏa.
Điều khoản “có thể là nguyên
nhân” ngăn cấm luật pháp bắt giữ người dân nếu không có i hành động gây tội ác.
Với Đạo Luật Yêu Nước, Ashcroft không cần phải đến trước một ông Ṭa và chứng tỏ
nguyên nhân tại sao một người bị bắt giữ.
Chúng ta chỉ cần nghe vào lời
của Ashcroft là sự truy tố đă được biện minh và “nguyên nhân có thể” đă hiện hữu.
Những người bị nhắm vào không được biết đến ngay cả những bằng chứng. Họ không
được phép có luật sư. Họ có thể bị bắt giữ và giam vô thời hạn mà không ai biết
được tại sao và ở đâu.
Một sự thay đổi khác là về
điều khoản “nhân chứng cụ thể”. Với những luật cũ, những “nhân chứng cụ thể” chỉ
có thể bị bắt giữ nếu có bằng chứng hoặc họ là sự đe dọa hay toan tính trốn chạy.
Nay, khi bị chỉ định là một
“nhân chứng cụ thể” – có nghĩa là anh không hẳn đă dính líu vào tội ác, nhưng có
thể anh biết một vài điều ǵ đó – anh có thể bị bắt giam vô thời hạn. Họ không
nói rơ tội trạng và không đưa ra bằng chứng. Không có ông ṭa nào duyệt lại
trường hợp của anh và anh không được phép có luật sư bảo vệ".(8)
Và trong tờ Chicago
Tribune ngày 1/11/2003, trong mục Tiếng Nói Người Dân (Voice of the people),
Ben Ogden viết: Đạo Luật Phi-Ái Quốc: Đạo luật Yêu Nước là là một văn kiện lập
pháp có tính chất phi-yêu nước nhất từ xưa tới nay xuất phát ra từ Washington.
Nó phi-Koa Kỳ v́ FBI có quyền khám xét mật, bắt bỏ tù chúng ta không kết án và
dính mũi vào những việc như chúng ta đă mua cái ǵ hay mượn sách ǵ từ thư viện.
Tôi hoan nghênh những cố gắng của Nghị viện để băi bỏ đạo luật này."(9)
Với thành tích vi phạm nhân
quyền như vậy, tôi nghĩ rằng Mỹ không đủ tư cách nói về nhân quyền và quốc hội
Mỹ không đủ tư cách hay quyền hạn để ra một đạo luật nhân quyền cho bất cứ quốc
gia nào khác với mục đích ép quốc gia này phải theo quan niệm lưỡng chuẩn
(double standard) và đạo đức giả của Mỹ về nhân quyền. Và lẽ dĩ nhiên, những đầy
tớ lănh tiền của Mỹ như VVA lại càng không có tư cách ǵ để nói về nhân quyền
nói chung, nhân quyền ở Việt Nam nói riêng. Trên b́nh diện quốc tế, nếu Mỹ, nhân
danh chống khủng bố, đưa ra những biện pháp vi phạm nhân quyền như nội dung
Patriot Act cho phép, th́ bất cứ quốc gia nào cũng có thể nhân danh một cái ǵ
đó, thí dụ như “an ninh quốc gia”, “trật tự và ổn định xă hội”, “bảo vệ chủ
quyền”, “đề pḥng sự phá hoại nền văn hóa và tôn giáo quốc gia” v..v.. để đưa ra
những đạo luật và biện pháp tương tự. Viết như vậy, không phải là tôi ủng hộ sự
vi phạm nhân quyền của bất cứ quốc gia nào, mà chỉ muốn nói lên một điều: vấn đề
nhân quyền không có một tiêu chuẩn phổ quát, có thể áp dụng cho mọi quốc gia, mà
c̣n phải tùy thuộc t́nh h́nh chính trị, xă hội và văn hóa của mỗi quốc gia.
Tuy nhiên, công bằng mà nói,
dù sao Mỹ cũng là quốc gia có thể nói là tôn trọng quyền của người dân vào bậc
nhất. Cũng v́ vậy mà tôi mới có thể viết lên bài này. Nhưng chúng ta cần phải
hiểu rằng, người dân đây chỉ là dân Mỹ sống trên đất Mỹ. Vấn đề ở đây không phải
là Mỹ tôn trọng quyền của người dân Mỹ trên đất Mỹ, mà là trên b́nh diện quốc tế,
Mỹ có tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới hay không? Những sự kiện
trong lịch sử Mỹ ở Việt Nam, Indonesia, Guatamala, El Salvadore, Nicaragua v..v.
đă chứng tỏ, đúng như Vince Hyaner đă viết ở trên: Hoa Kỳ có một thành tích
khủng khiếp về nhân quyền.
Tưởng chúng ta cũng nên biết
thêm là năm 1986, Mỹ là quốc gia duy nhất đă bị Ṭa Ám Quốc tế (World Court) kết
án là khủng bố quốc tế - dùng vơ lực bất hợp pháp, cho những mục tiêu chính trị
(10) và Mỹ đă phủ quyết một nghị quyết của Hội
Đồng An Ninh Liên Hiệp Quốc kêu gọi mọi quốc gia, trong đó có Mỹ, phải tôn trọng
luật lệ quốc tế. Cường quyền đă thắng công lư. Tại sao Mỹ không dám công nhận
quyền của Ṭa Án Quốc Tế Le Hague? V́ nếu công nhận th́ Mỹ sẽ là quốc gia đầu
tiên bị đưa ra Ṭa Án Quốc Tế về những tội ác chiến tranh (war crimes) trong đó
có những tội ác ở Việt Nam.
John Maher và Judy Groves
đồng tác giả cuốn Giới Thiệu Noam Chomsky (Introducing Noam Chomsky
- Totem Books, New York, 1997) có ghi một nhận định thời danh của Giáo sư Noam
Chomsky, trang 156: “Nếu những luật của Nuremberg (ṭa án xử tội phạm chiến
tranh) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă
phải bị treo cổ.”(11)
Hi vọng VVA cũng như NST hăy
thức tỉnh, nhận rơ vấn đề nhân quyền trên thế giới hiện nay, bộ mặt thực của cơ
quan cấp tiền cho Quê Mẹ Paris, và hăy hành động khôn ngoan hơn, và thông minh
hơn, trong cái gọi là tranh đấu cho “quyền làm người Việt Nam” (sic)./.
Trần Chung Ngọc.
GHI CHÚ:
1- Mary E.
Williams - Human Rights, p. 16: declarations are not legally binding;
Robert W. Lee, The United Nations Conspiracy, p.101: the UN later adopted
its vague, non-binding Declaration of Human Rights.
2- Xin đọc cuốn
9-11 , Seven Stories Press, New York, 2001, của Noam Chomsky)
3- Xin đọc bản
phúc tŕnh Windfalls of War: US Contractors in Iraq and Afghanistan của
tổ chức nghiên cứu Center for Public Integrity.
4- The
Chomsky Reader, James Speck, Editor, p. 331: U.S. foreign policy is in fact
based on the principle that human rights are irrelevant, but that improving the
climate for foreign business operations is highly relevant.
5- The ejection
of the US from the UN Human Rights Committee is a welcome surprise. While
politicians, journalists and everyday people ask why, the answer is right in
front of us. The US has a horrible human rights record. Besides the daily
oppression of its own citizens, the US continues to violate human rights in
place like Vieques with the US Navy, around the world in sweatshops for US
corporations and, perhaps most alarming, with the killing of more than 1 million
Iraqi people via sanctions, just to name a few. It is hoped that this ejection
comes as a sign that the other members of the UN will not tolerate the
consistent unilateral assaults on human dignity by the US.
6 -Professor of
Law and President of the International Human Rights Law Institute at DePaul
University
7- ...The
nation has never before seen a more systematic erosion of civil rights than
after the Sep. 11 attacks. This has taken the form of undermining the legal
system, coupled with egregious governmental abuses of power, all in the name of
combatting terrorism...
...The erosion
actually started in 1996 with anti-terrorism and immigration legislation.
Permanent residents who were recognized by the Constitution’s equal-protection
clause as having most of the rights employed by citizens were stripped of them.
Non-citizens could be arrested and deported on “secret evidence”, which revoked
the constitutional right to confront and cross-examine evidence presented
against them.
This was
precisely the practice used by dictatorial regimes the U.S. has repeatedly
denounced since the Cold War.
...The
administration’s campaign only focused on people of Arab origin and others who
were Muslims. Their numbers were not confirmed, their status undisclosed, and
their cases’ outcomes have not been revealed.
The Justice
Department’s inspector general reported that many cases were unjustified and
many individuals were harshly treated, something heretofore deemed shocking by
our legal standards.
...In a
courageous dissent, however, Judge David Tavel wrote that the majority’s
“uncritical deference” to the government’s vague assertions not only contravened
the purpose of the Freedom of Information Act but prevented the American people
from discovering whether the present administration “is violating the
constitutional rights of hundreds of persons whom it had detained in connection
with the terrorism investigation”.
The war in
Afghanistan brought about another type of violation, the placing of enemy war
prisoners in Guantanamo Bay, Cuba. Their detention without due process is in
clear violation of our international legal obligation under the Third Geneva
Convention.
The Convention
requires the U.S. to properly adjudicate their status as prisoners of war and to
treat them well. It also provides for their release after the conflict ends. The
conflict is over, but they are still detained. Moreover, they were treated in a
manner that may fall in the category of torture: sensory deprivation, prolonged
hooding and solitary confinement, degrading and humiliating treatment.
All of that was
glossed over and no one from the U.S. media or human rights organizations was
allowed to go inside, view the conditions of detention and talk to the
detainees.
Among the
detainees are people ages 15 to 95, including some who are sick.
8- I read the
Patriot Act for the first time and was shocked at how little I really knew.
Patriot Act
advocates insist it prevents another Sep. 11, 2001, and doesn’t do much more
than what was done before. Really? Then why do we need it?
The Patriot Act
expands an existing loophole in the 1978 Foreign Intelligence Service Act. FISA
suspends some constitutional protections for individuals classified as “foreign
agents”. Under the Patriot Act, nearly all of them don’t apply. What’s worse is
that under the old provisions, U.S. Attorney John Ashcroft would be required to
show evidence why someone should be placed in this classification. Under the
Patriot Act, Ashcroft doesn’t need any evidence.
On his word,
anyone can be designated a “foreign agent.” All their rights as an American are
thrown out. They can come into my home and search without first getting a
judge’s approval. They can examine all records, which they can do now anyway.
In the past,
suspects would be notified of having their home searched or records seized.
Under the Patriot Act, if Ashcroft seizes a bank account, bank officials could
be prosecuted if they try to tell someone why their account was closed.
The issue of
“probable cause” is what prevents law enforcement from targeting people for
reasons other than criminal behavior. Under the Patriot Act, Ashcroft doen’t
have to go before a judge and show cause as to why someone should be targeted.
We just have to
take Ashcroft’s word that a prosecution is justified and probable cause exists.
Targets can’t even see the evidence. They are denied lawyers. They can be
arrested and detained indefinitely without anyone ever know why or where.
..Another change
involves the issue of “material witness”. Under the old laws, material witnesses
could be arrested or detained only if evidence existed that they are threats or
might run.
Once designated
as a material witness – meaning you are not necessary involved in the crime, but
you just might know something – you can be arrested and detained definitely.
They don’t detail the charges or show you the evidence. No judge reviews your
status and you don’t even get a lawyer.
9- Un-Patriot
Act: The Patriot Act is the most un-patriot piece of legislation that has ever
come from Washington. It’s un-American for the FBI to have the power to conduct
secret searches, jail us without charges and snoop into what we buy or borrow
from the library. I applaud the efforts in Congress to repeal the act.
10- Noam
Chomsky, ibid. p. 84: In 1986, the U.S. was the only country comdemned by
the World Court for international terrorism – for “unlawful use of force” for
political ends.
11- If the
Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have
been hanged.
|