|
Chu Ân Lai: Bi Kịch Của
Một Ông Thánh
Nguyễn Văn (*)
Chu Ân Lai (1898 – 1976) là một trong những nhà
cách mạng khai sinh ra nước Cộng ḥa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc). Sau khi
cách mạng thành thành công, ông giữ chức Thủ tướng từ năm 1949 măi đến khi ông
qua đời. Trong thời gian này, ông c̣n kiêm nhiệm chức Bộ trưởng Ngoại giao từ
1949 đến 1958. Trong những vai tṛ này cộng với vai tṛ của một đảng viên cao
cấp trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chu Ân Lai có lẽ là một trong những quan
chức Trung Quốc có nhiều liên quan đến lịch sự cận đại Việt Nam. Tên tuổi ông
hầu như xuất hiện bên cạnh những nhân vật lịch sử Việt Nam trong các sự kiện
chính trị quan trọng. T́m hiểu Chu Ân Lai, do đó, là một việc làm có ư nghĩa.
Đối với thế giới ngoài Trung Quốc, nhất là qua
những văn bản ghi lại những cuộc tiếp kiến và thảo luận giữa Richard Nixon và
Chu Ân Lai, người ta xem ông là một người cộng sản ôn ḥa, một chính khách lịch
lăm, một nhà ngoại giao tài ba, hay nói chung là một đại diện “coi được” của
Trung Quốc trong cộng đồng thế giới. Đối với người dân Trung Quốc, ông là một
nhà cách mạng chân chính, chí công vô tư, một vị Thủ tướng hết ḷng v́ dân và
dành trọn đời cho đất nước, một nhà ngoại giao bậc thầy, và là một nhà lănh đạo
văn vơ song toàn (ông có bằng đại học và tham gia cách mạng từ những năm đầu
thập niên 30). Người Trung Quốc được chính phủ cho biết rằng Mao Trạch Đông c̣n
có đúng, có sai (theo công thức 70% đúng và 30% sai), nhưng Chu Ân Lai th́ đúng
100%, hoàn toàn không có sai lầm nào cả. Thật vậy, đối với một số thế hệ người
Trung Quốc, Chu Ân Lai là một ông thánh của nhân gian.
Tuy nhiên, một cuốn sách dày 615 trang mới xuất
bản gần đây có tựa đề “Những năm cuối đời của Chu Ân Lai” (tạm dịch từ “Zhou
Enlai's Later Years”) thách thức những cảm nhận vừa kể trên. Cuốn sách mang
tính tiểu sử (biography) cho thấy Chu Ân Lai là một nhân vật phức tạp, có đúng,
có sai. Cuốn sách mô tả một Chu Ân Lai trung thành và tài ba, nhưng nhu nhược
và an phận. Cuốn sách c̣n tiết lộ một bi kịch Chu Ân Lai qua những biến động
lịch sử, phải sống và làm việc trong sự giằng xé, mâu thuẫn nội tâm giữa trung
thành với Đảng và tinh thần Khổng Mạnh.
Tác giả cuốn tiểu sử Chu Ân Lai là
Gao Wenqian (Cao Văn Quân?), từng là một nhà nghiên cứu sử thuộc
Văn khố Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc trong suốt 13 năm liền. Trong thời
gian đó, Cao có cơ hội tiếp cận các tài liệu về Chu Ân Lai và các lănh tụ cao
cấp trong Đảng Cộng sản Trung Quốc, v́ nhiệm vụ cụ thể của ông là quản lí các hồ
sơ và dữ kiện liên quan đến Chu Ân Lai trong cuộc Cách mạng Văn hóa. Khi vụ
Thiên An Môn xảy ra, ông là một trong những người ủng hộ cuộc biểu t́nh của sinh
viên. Sau vụ trừng phạt Thiên An Môn, Cao bị điều tra, và bắt phải viết kiểm
điểm. Từ
đó, ông quyết định thôi việc, và có ư định viết về cuộc Cách mạng Văn hóa.
Trong khi đó th́ vợ của Cao rời Trung Quốc và định cư ở Mĩ vào năm 1989. Ở lại
Trung Quốc, Cao bắt đầu sao chép các tài liệu liên quan đến Chu Ân Lai. Trong
suốt 4 năm liền, ông thu thập được một số lượng tài liệu khổng lồ. Đến năm
1993, ông được phép cơ quan cho đi đoàn tụ với vợ ở Mĩ. Cao để lại hồ sơ cho
các bạn của ông ở Trung Quốc, và sau này họ lén lút chuyển sang Mĩ cho ông.
Đến Mĩ, Cao bắt đầu viết tiểu sử Chu
Ân Lai. Phần lớn cuốn sách được viết lúc ông c̣n là một nghiên cứu sinh tại Đại
học Harvard. Nhưng ngay cả khi ở Mĩ ông cũng chưa yên thân để viết. Chính phủ
Trung Quốc h́nh như biết được việc làm của Cao, nên họ cho một số quan chức cao
cấp làm áp lực Đại học Harvard ngưng tài trợ cho Cao. Những quan chức này gồm
Trung tướng Xiong Guangkai, Phó tổng bí thư Quân ủy (Quân đội Nhân dân Trung
Quốc), và Liu Ji, lúc đó là một cố vấn cho Chủ tịch Giang Trạch Dân. Ngoài ra,
các quan chức Trung Quốc c̣n t́m cách liên lạc với Cao và đe dọa rằng mẹ ông sẽ
bị rắc rối nếu ông xuất bản cuốn sách ông đang viết. Cao đề hiến quyển sách cho
mẹ ông, người
từng
bị tù giam 7 năm trời trong thời Cách mạng Văn hóa v́ tội “Phản cách mạng.” Bà
qua đời trước khi quyển sách xuất bản.
Do đó, có thể nói rằng cuốn tiểu sử
Chu Ân Lai của Cao \ cũng tương tự như cuốn “Pentagon papers” – hay Hồ
sơ Ngũ giác đài, của Daniel Ellsberg, v́ Ellsberg cũng dựa vào những hồ sơ
mật của Ngũ giác đài để cung cấp cho người đọc một cái nh́n “hậu trường” của
giới quân sự và chính phủ Mĩ. Nhưng không như Pentagon Papers tiết lộ
cho công chúng biết khía cạnh xấu xí và tàn ác của Richard Nixon, tiết lộ của
Cao cho thấy một Chu Ân Lai phức tạp và bi kịch.
Về khía cạnh tích cực, Cao cho biết
trong thời gian Cách mạng Văn hóa (1966-1976), khi Trung Quốc gần như lâm vào
t́nh cảnh hỗn loạn, Chu Ân Lai trực tiếp gặp gỡ rất nhiều phái đoàn lớn nhỏ từ
các địa phương trên khắp Trung Quốc về trung ương than phiền về việc họ bị đối
xử thô bạo trong cuộc cách mạng đẩm máu đó. Trong các cuộc gặp mặt này, các
phái đoàn đều nhận xét Chu là một người chăm chú lắng nghe nguyện vọng và tâm tư
của họ, là người t́m cách ngưng cái thảm họa của Cách mạng Văn hóa. Do đó, đại
đa số người dân Trung Quốc có cảm t́nh đặc biệt với Chu Ân Lai. Năm 1976, khi
Chu qua đời v́ bệnh ung thư, hàng triệu người đổ xuống đường tưởng niệm Chu ở
Quảng trường Thiên An Môn. Cuộc tưởng niệm này được biến thành một cuộc biểu
t́nh và ngay sau đó bị nhóm Tứ Nhân Bang đàn áp thô bạo. (Biến cố này cũng giúp
cho Đặng Tiểu B́nh, người từng được xem là cánh tay phải của Chu, lên nắm quyền.)
Song, mặt khác Cao mô tả Chu Ân Lai
như là một người tích cực tham gia vào cuộc vận động chính trị dẫn đến sự bắt bớ
và giam cầm, thậm chí chết cho hàng trăm ngàn người trong các trại tù cải tạo.
Trước khi quyết định bảo vệ hay bênh vực cho ai, Chu Ân Lai đều hỏi ư kiến Mao,
hay vợ Mao (tức Giang Thanh), hay Lâm Bưu (nhân vật số 2 sau Mao) và vài người
khác, và Chu chỉ quyết định bênh vực khi có sự đồng t́nh của những người này.
Trong sách, Cao thách thức quan điểm cho rằng
Chu Ân Lai là người phục hồi danh dự cho Đặng Tiểu B́nh vào năm 1973. Thực ra,
Đặng trở thành lănh tụ tối cao của Trung Quốc là do Mao Trạch Đông, chứ không
phải do Chu Ân Lai, nâng đỡ. Chính Mao đă đề bạt Đặng vào chức lănh tụ tối cao
để khống chế hệ thống quyền lực của Chu Ân Lai. Bằng chứng? Cao dùng việc Đặng
Tiểu B́nh từng tham gia vào các buổi phê b́nh Chu Ân Lai để làm bằng chứng cho
luận điểm của ḿnh.
Thật vậy, trong sách Cao c̣n thách
thức cái quan niệm thông thường cho rằng Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông là hai
người bạn thân, là đồng chí thân thiết với nhau. Cao cho biết Mao không ưa ǵ
Chu. Chẳng hạn như Cao tiết lộ rằng vào tháng Năm năm 1972, khi Chu Ân Lai bị
ung thư bọng đái, Mao ra lệnh cho các bác sĩ không được báo cho ông biết bệnh
t́nh và không cho phép giải phẫu hay làm thêm thử nghiệm. Mười tháng sau đó,
khi thấy Chu đi đái ra máu, Mao mới cho phép bác sĩ thử nghiệm. Nhưng đến lúc
đó, ung thư của Chu đă lan sang các cơ phận khác. Cao c̣n tiết lộ thêm rằng
trong năm 1976, Mao ra lệnh không cho các bác sĩ điều trị Chu để cho ông chết
sớm; và khi Chu Ân Lai chết, Mao cho bắn pháo bông [để ăn mừng hay để làm ǵ th́
không thấy Cao đề cập đến]. (Người viết bài này nghĩ rằng việc Mao Trạch Đông
không cho bác sĩ báo bệnh ung thư hay không cho bác sĩ giải phẫu Chu Ân Lai chưa
phải là một bằng chứng có tính thuyết phục cao để kết luận rằng Mao không ưa Chu.
Thực ra, cũng có thể dùng sự việc đó để cho rằng ông Mao không muốn ông Chu phải
chịu khổ v́ y khoa, dù có thể quan điểm của ông Mao không hoàn toàn đúng).
Về cá tính, Cao mô tả Chu Ân Lai là
một chính trị gia hậu trường, một quan chức bù nh́n chỉ biết phục vụ cho chúa
ḿnh là Mao Trạch Đông, và là một người chịu ảnh hưởng tư tưởng Khổng Mạnh sâu
sắc theo quan niệm “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Chu Ân Lai làm bất
cứ điều ǵ mà Mao yêu cầu ông phải làm, kể cả kí lệnh bắt giam anh ruột ông và
con gái nuôi của ông.
Chưa ai biết trong sách ông Cao có
những tài liệu nào phản ánh mối liên hệ giữa Chu Ân Lai và Việt Nam hay không.
Tuy thế, ngoài những chi tiết tương đối mới đó,
cuốn sách này không có một “bombshells” – quả bom dư luận – nào về cuộc đời của
Chu Ân Lai, như quyển “Cuộc đời riêng tư của Chủ tịch Mao” xuất bản vài
năm trước đây. Một điểm yếu của cuốn sách là tác giả chỉ dựa vào tài liệu của
Đảng Cộng sản Trung Quốc, mà ông không phỏng vấn một ai để kiểm tra nguồn tài
liệu. Nhiều người có liên hệ với Chu Ân Lai vẫn c̣n sống như Nancy Tang (người
từng đóng vai tṛ thông dịch viên cho Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông trong thập
niên 1960s và 1970s) cũng không được tham khảo. Ngoài ra, không ai biết được
những tài liệu mà Cao thu thập được đă được sửa hay biên tập ra sao trước khi
đưa vào văn khố. Do đó, rất khó mà đánh giá độ chính xác của tài liệu liên quan
đến Chu.
Trong môi trường hạn chế thông tin về lịch sử
cận đại Trung Quốc, cuốn sách này là một cống hiến đặc biệt. Thực vậy, Trung
Quốc không có một truyền thống nghiên cứu sử độc lập. Trong thời phong kiến,
các sử gia làm việc cho triều đ́nh, và viết sử để biện minh cho sự cai trị của
vua. Truyền thống này c̣n tiếp nối cho đến thời đại cộng sản và càng ăn sâu vào
sinh hoạt trí thức sau sự sụp đổ của Liên Xô. Quan điểm của các nhà lănh đạo
Trung Quốc là Mikhail Gorbachev bị lật đổ chỉ v́ ông ta cho phép các sử gia Nga
tự do viết về những thảm họa của chủ nghĩa Stalin một cách quá đáng.
Trong cái khoảng trống đạo đức chính trị ngày
nay ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn duy tŕ một h́nh ảnh Chu Ân Lai
vẹn toàn, một người đấu tranh không mệt mỏi cho Đảng và Nhà nước Trung Quốc.
Thành ra, tất cả các tác phẩm viết về Chu Ân Lai ở Trung Quốc đều bị kiểm duyệt
nặng nề, và bất cứ một phê phán nào, dù là nhẹ nhàng nhất, cũng bị loại bỏ. Các
bài báo nghiên cứu trong Hội nghị Quốc tế Nghiên cứu Chu Ân Lai xuất bản vào nằm
1999 cũng bị kiểm duyệt 3 lần trước khi đưa cho nhà in.
Nghiên cứu về Chu Ân Lai trong các đại học Trung
Quốc không đi đến đâu, bởi v́ đề tài này quá tế nhị và nhạy cảm đến độ không ai
có một ư tưởng mới về nhân vật họ Chu. Tại một viện nghiên cứu về Chu Ân Lai,
số lượng nhà nghiên cứu teo dần đến c̣n một nhà nghiên cứu duy nhất, v́ các nhà
nghiên cứu khác đều bỏ nghề để chuyển qua nghiên cứu những đề tài dễ xuất bản
hơn. Một nhà khoa bảng Trung Quốc cho biết “Hoặc là anh không thể xuất bản,
hoặc là anh đóng vai nhà tuyên truyền.”
Những ai nhất định theo đuổi nghiên cứu về Chu
th́ phải đổi tên họ để xuất bản tác phẩm của ḿnh ở nước ngoài. Một nhà nghiên
cứu cho công bố một bài nghiên cứu 40 trang trong một tập san ở Hồng Kông nhưng
phải lấy tên họ ma và địa chỉ ma tại một trường đại học ở Nam Hàn.
Hiện nay, cuốn sách chỉ có bản tiếng Hoa, và
đang được dịch sang tiếng Anh. Song, một số nhà Trung Quốc học và kí giả ngoại
quốc thông thạo tiếng Hoa đă đọc và có nhiều bài điểm sách. Nhưng một điều thú
vị là một số nhà b́nh luận Tây phương có vẻ phóng đại những ǵ Cao viết trong
sách về Chu Ân Lai. Thực ra, Cao không muốn che dấu lỗi lầm, mà cũng chẳng muốn
chỉ trích họ Chu. Có thể nói Cao có cảm t́nh với Chu Ân Lai. Cao tâm sự:
“Nhiệm vụ của người viết sử là phát hiện sự thật lịch sử và để cho người đọc tự
xét đoán.” Trong chiều hướng đó, cuốn sách của Cao là một cống hiến có ư nghĩa
vào việc nghiên cứu Chu Ân Lai và là một nguồn tài liệu tham khảo quan trọng về
một nhân vật lịch sử có nhiều quan hệ với Việt Nam.
Chú thích:
Bài viết này không phải là một bài điểm sách, bởi v́ tôi chưa đọc quyển
“Những năm cuối đời của Chu Ân Lai”. Bài viết này thực chất là một tổng hợp
những bài điểm sách bằng tiếng Anh, và một phần lớn nội dung của bài viết này
dựa vào bài điểm sách của John Pomfret, “Chinese Hero Is Taken Off His Pedestal”,
đăng trên tờ Washington Post, số ra ngày 9/12//2003.
|