|
Nhân năm Khỉ:
Bàn về nguồn gốc con người hiện
đại
Nguyễn Văn Tuấn
Có thể nói rằng trong 12 con vật được dùng làm
biểu tượng cho chu ḱ 12 năm, khỉ là con vật quan trọng nhất, thông minh nhất,
và gần gũi nhất với con người. Từ điển Tiếng Việt giải thích rằng khỉ là “thú
cao cấp gần với người, biết leo trèo, bàn chân bàn tay có thể cầm nắm được”.
Giải thích như thế không sai, nhưng cũng như bao nhiêu từ ngữ chuyên môn khác,
nó không đầy đủ [1]. Quả thật, trong tất cả động vật, khỉ là loài động vật
giống con người nhất. Khỉ được đề cập ở đây bao gồm những động vật như ape
(mà chúng ta thường gọi là “khỉ không đuôi”), tinh tinh (chimpazee), vượn
(gibbon), khỉ đột (gorilla), và đười ươi (orang-utan). Cùng với vượn, tinh tinh,
đười ươi và con người, khỉ được các nhà động vật học xếp vào loại động vật linh
trưởng cao nhất trong các loài vật có vú.
Ngày nay, càng ngày chúng ta càng có nhiều bằng
chứng khoa học có tính thuyết phục cao cho thấy khỉ, mà cụ thể là tinh tinh,
chính là tổ tiên của con người hiện đại. Nói một cách thẳng thừng hơn, bạn đọc
và tôi, là bà con của khỉ. Nói cho cụ thể hơn, tất cả chúng ta –dù là người da
vàng, da đen, da đỏ, hay da trắng – đều có chung một tổ tiên: khỉ.
Đó là một giả thuyết về nguồn gốc con người hiện
đại trên thế giới ngày nay. Mới nghe qua phát biểu đó, chắc có người sẽ cau mày
nói thầm: Lại một giả thuyết giật gân của mấy ngài khoa học! Ừ, một giả
thuyết hay đấy, nhưng có thực như vậy không? Nói một cách ví von, trái tim
của phương pháp khoa học nằm ngay trong câu hỏi đó. Những câu hỏi đơn giản mang
tính hoài nghi như thế chính là yếu tố làm nên cái mà chúng ta gọi là khoa
học. Một lời giải thích về một hiện tượng nào đó chưa đủ để làm nên một giả
thuyết khoa học. Tương tự, ư kiến của các chuyên gia, dù là chuyên gia hàng đầu,
cũng không hẳn là khoa học. Khoa học hiện đại là một mảnh đất b́nh đẳng. Nó
đ̣i hỏi bằng chứng. Không chỉ đơn thuần bằng chứng, mà là bằng chứng được thu
thập một cách khách quan và chính xác, những chứng cớ mà tất cả chúng ta có thể
thấy được, sờ được, và đo lường được. Một giả thuyết khoa học phải được phát
biểu cụ thể và rơ ràng, và phải có bằng chứng để yểm trợ, tốt nhất là bằng chứng
được thu thập một cách độc lập từ nhiều nơi khác nhau.
Nếu một giả thuyết đáp ứng những điều kiện trên
đây, th́ giả thuyết đó có phải là sự thật, là chân lí? Không hẳn. Theo
triết gia Karl Popper, không bao giờ và không ai có thể chứng minh một giả
thuyết là sự thật cả. Chúng ta chỉ có thể chứng minh một giả thuyết nào đó là
sai lầm, chứ không chứng minh được nó là sự thật. Theo Popper, khoa học chỉ có
thể phát biểu rằng bằng chứng có nhất quán hay phù hợp với một giả
thuyết hay không, chứ bằng chứng không có khả năng chứng minh một giả thuyết là
sự thật. C̣n Frederick Nietzsche th́ cho rằng cái đẹp tuyệt vời của một giả
thuyết là nó có thể bị bác bỏ. Về mặt lí thuyết và đứng trên phương diện trừu
tượng, có lẽ Nietzsche nói đúng; nhưng trong thực tế, kinh nghiệm của người viết
bài này cho thấy trong giới khoa học không phải ai cũng vui ḷng chôn vùi giả
thuyết của ḿnh sau khi tiêu ra nhiều năm và công sức để làm nghiên cứu, để phát
triển một giả thuyết.
Trong nghiên cứu về quá tŕnh tiến hóa và nguồn
gốc con người, những tranh luận giữa hai hay nhiều giả thuyết là một chuyện rất
thường, bởi v́ đứng trước một bằng chứng, giới khoa học có nhiều cách diễn dịch
khác nhau. Trong lĩnh vực nghiên cứu về nguồn gốc con người hiện đại, những
tranh luận ngày càng càng trở nên gay gắt, đến nỗi có người than rằng lĩnh vực
nghiên cứu này sắp trở thành một môi trường tranh căi hơn là làm sáng tỏ vấn đề.
T́nh trạng này xảy ra một phần v́ những bất đồng ư kiến trong việc diễn dịch các
bằng chứng liên quan đến giả thuyết về nguồn gốc con người. Những dữ kiện và
hiện vật trong bộ môn nghiên cứu cổ nhân chủng học (paleoanthropology)
thường rất hiếm và rất khó mà truy t́m. Do đó, vấn đề không phải chỉ đơn giản
là thu thập thêm bằng chứng để yểm trợ và bác bỏ một giả thuyết, mà là việc truy
t́m các hài cốt và bộ xương hóa thạch (trong bài này tôi sẽ gọi tắt là thạch
cốt) đ̣i hỏi một kiến thức rộng và một nỗ lực lớn, cộng với khả năng tổ chức,
tiền bạc, và quan trọng hơn hết là ... may mắn. Các giả thuyết mới thường đến
với công chúng rất dễ, nhưng qua những bằng chứng mới nhất, chúng cũng ra đi
cũng rất nhanh.
Thành ra, theo dơi và chứng
kiến những cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu nhân chủng học về nguồn gốc
con người hiện nay là một điều thú vị và ... bổ ích. Cuộc tranh luận “nóng”
hiện nay xoay quanh một câu hỏi quan trọng: Con người hiện đại xuất hiện từ lúc
nào, từ đâu, và tiến hóa ra sao? Tôi dùng cụm từ
“con người hiện đại” ở đây là để chỉ chúng ta – bạn đọc và tôi – trong
đại gia đ́nh con người đang sống hay mới qua đời cách đây vài trăm năm.
Charles Darwin là người đề xướng một giả thuyết
được xem là cổ điển, và ngày nay được biết đến qua cụm từ Giả thuyết Phi châu
(“Out of Africa hypothesis.”) Darwin là người đầu tiên lí giải rằng loài
tinh tinh là những người anh em họ gần nhất của con người hiện đại. Bởi v́ tinh
tinh chỉ sinh sống ở Phi châu, cho nên con người hiện đại có nguồn gốc từ Phi
châu. Giả thuyết này c̣n lí giải rằng con người hiện đại tiến hóa ở Phi châu và
từ đó tản mát định cư khắp thế giới.
Theo thuyết này, tổ tiên con người và tổ tiên
loài tinh tinh tách rời khoảng 5 triệu năm trước. Khoảng 2,5 triệu năm sau đó,
con người phát triển thành giống người Homo habilis. Giống người Homo
habilis có khả năng làm những dụng cụ thô sơ bằng đá, và có hai chân. Dung
lượng năo của Homo habilis cao hơn loài tinh tinh, nhưng thấp hơn so với
con người hiện đại. Khoảng 2 triệu năm trước, Homo habilis tiến hóa
thành loài Homo erectus (loài người đi đứng thẳng lưng), và chính giống
người này tản mát khỏi Phi châu và đi khắp thế giới. Đến khoảng 500.000 năm
trước Homo erectus tiến hóa thành Homo Sapiens (loài người thông
minh). Người Homo Sapiens có dung lượng và h́nh dạng năo giống với con
người hiện đại ngày nay.
Nói một cách ngắn gọn, Giả thuyết Phi châu phát
biểu rằng con người hiện đại chỉ có mặt khoảng 100.000 đến 200.000 năm trở lại
đây, và tất cả đều xuất phát từ Phi châu. Darwin c̣n tiên đoán rằng hài cốt của
con người hiện đại sẽ được phát hiện ở Phi châu.
Một giả thuyết “ḱnh địch” khác là Giả thuyết
Nhiều vùng (Multiregional hypothesis) lí giải rằng con người hiện đại
tiến hóa trong nhiều địa bàng trên thế giới từ các loài vật tiền thân có tên là
Homo erectus (tức người đứng thẳng) khoảng 1 đến 2 triệu năm trước đây.
Theo trường phái này, các sắc dân tiến hóa theo một chiều hướng song song nhau
đến thời ḱ hiện đại cùng một thời gian. Bởi v́ các sắc dân sống cô lập với
nhau, họ phát triển những đặc tính cơ thể và sinh lí riêng cho từng vùng, mà
ngày nay chúng ta ghi nhận là những khác biệt mang tính “chủng tộc”. Giả thuyết
Nhiều vùng tiên đoán rằng các thạch cốt của con người hiện đại sẽ được phát hiện
khắp các vùng thuộc Thế giới Cổ (Old World) và độ tuổi của chúng cũng sẽ tương
đương nhau. Giả thuyết Nhiều vùng c̣n tiên đoán rằng các sắc dân cổ sẽ có nhiều
đặc tính cơ thể như xương chẳng hạn mang tính liên tục và giống với các sắc dân
hiện đại trong vùng. Chẳng hạn như, theo Giả thuyết Nhiều vùng, giống người
Neandertals [2], một sắc dân cổ ở Âu châu, sẽ có nhiều đặc tính di truyền
giống như người Âu châu hiện nay.
Vấn đề c̣n lại là thu thập bằng chứng một cách
khách quan để xem giả thuyết nào đáng được tin cậy hơn. Trong vài mươi năm gần
đây, với sự phát triển phi thường của bộ môn khoa học di truyền và công nghệ
sinh học, việc nghiên cứu nguồn gốc con người đă chuyển từ việc thu thập các
bằng chứng ngôn ngữ học và cơ thể học sang việc thu thập bằng chứng di truyền
học. Kết quả của nhiều nghiên cứu quan trọng về di truyền học trong thời gian
gần đây có vẻ không phù hợp với Giả thuyết Nhiều vùng, nhưng có vẻ nhất quán với
Giả thuyết Phi châu hơn. Hiện nay, có 4 nhóm bằng chứng độc lập “yểm trợ” cho
Giả thuyết Phi châu.
Bằng chứng 1: Mối liên hệ huyết thống giữa khỉ
và con người
Một giả thuyết được phần đông giới nhân chủng
học chấp nhận là khoảng 10 triệu năm trước đây, có ít nhất là hai giống khỉ sinh
sống ở Phi châu. Một giống là tổ tiên của loài khỉ đột ngày nay, và một giống
là tổ tiên chung của tinh tinh và con người. Khoảng 5 triệu năm sau, giống khỉ
tổ tiên của tinh tinh và con người tách ra hai giống khác nhau: một trở thành tổ
tiên của loài tinh tinh, và một trở thành tổ tiên của con người.
Giả thuyết trên được xây dựng bằng các dữ kiện
di truyền học. Trong bất cứ gen nào hay dăy DNA nào được khảo sát, con người và
tinh tinh có cấu trúc gen và DNA giống nhau hơn là giữa tinh tinh với khỉ đột.
Nếu so sánh DNA của con người và DNA của tinh tinh, sự trùng hợp lên đến 98.4%,
tức chỉ khác biệt 1.6%. Phân tích chuỗi DNA trong hệ thống máu globin, mức độ
trùng hợp giữa con người hiện đại và tinh tinh là 98.76%, tức chỉ khác biệt trên
dưới 1%. Những khác biệt về chuỗi DNA và đột biến này giúp cho các nhà khoa học
ước tính được thời gian mà con người và khỉ tách rời ra thành hai nhóm độc lập.
Chính v́ sự trùng hợp di truyền này, nhiều nhà
nhân chủng học đề nghị xếp loại tinh tinh thành 3 nhóm: nhóm 1 gồm Pan
troglodytes (hay những tinh tinh ‘thường’), nhóm 2 gồm Pan paniscus (c̣n
gọi là bonobo hay pygmy chimpazee – tinh tinh nhỏ), và nhóm 3 là
... chúng ta, tức Homo sapiens, người thông minh.
Tuy nhiên, con người có 23 cặp nhiễm sắc thể
(chromosomes), c̣n tinh tinh (và ngay cả khỉ đột, đười ươi) có đến 24 cặp nhiễm
sắc thể. Nghiên cứu kĩ cho thấy hai cặp nhiễm sắc thể trong tinh tinh nhập
thành nhiễm sắc thể số 2 trong con người. Không ai biết tại sao có sự khác biệt
nhỏ này, nhưng nó có thể là là yếu tố quyết định sự khác biệt giữa con người và
loài tinh tinh mà chúng ta thấy ngày nay.
Thời điểm mà con người và loài tinh tinh trở nên
độc lập nhau (tức khoảng 5 triệu năm về trước) cũng phù hợp với những dữ kiện
khảo cổ nhân chủng học. Năm 1995, một nhóm nghiên cứu thuộc Trường đại học
California tại Berkely và đồng nghiệp ở Ethiopia công bố một công tŕnh nghiên
cứu cho thấy, qua phân tích sọ và xương đùi phát hiện ở Ethiopia, con người và
loài tinh tinh bắt đầu tách riêng ra khoảng 4,3 triệu năm về trước.
Bằng chứng 2: Bà Eve
Tháng Tư năm nay, Một nhóm nghiên cứu thuộc Đại
học Maryland (Mĩ) do Nhà nghiên cứu Sarah Tishkoff dẫn đầu công bố một phân tích
di truyền học trên hơn 600 người Tanzania (hiện đang sống) trong 14 bộ lạc thuộc
4 nhóm ngôn ngữ khác nhau [3]. Họ phân tích khuynh hướng phân bố của các mảng
DNA nhỏ có tên là mitochondrial DNA (hay c̣n gọi tắt là mtDNA) [4]. Đây
là một phương pháp phân tích đáng tin cậy nhất và chính xác nhất để truy t́m
nguồn gốc con người, bởi v́ các mảng DNA nhỏ này chỉ hiện diện trong buồng trứng,
và v́ thế chỉ di truyền trong giống cái. Tỉ lệ đột biến (tức những biến đổi
mtDNA) là một thước đo khoảng thời gian từ khi có con người trên trái đất. Chủ
nhân của mảng mtDNA (dĩ nhiên là một phụ nữ) thường được gọi là Bà Eve.
Cố nhiên, vào thời đó có thể có nhiều phụ nữ cũng có thể là chủ nhân hay có cùng
mảng mtDNA với Bà Eve, nhưng theo thói quen, người ta gọi Bà Eve cho gọn.
Tiến sĩ Tishkoff và đồng nghiệp của bà chọn các
sắc dân Đông Phi châu để làm nghiên cứu v́ những lí do sau đây: Thứ nhất, ở đây,
mức độ khác biệt về ngôn ngữ, văn hóa, thể chất con người rất cao. Có bộ lạc
người Đông Phi châu rất cao, nhưng cũng có bộ lạc mà phần lớn có chiều cao rất
thấp; có bộ lạc da rất đen, nhưng cũng có bộ lạc da chỉ ngâm đen; có bộ lạc mặt
tṛn, nhưng cũng có bộ lạc mặt nhỏ và hẹp, v.v... Những khác biệt về đặc tính
nhân trắc và văn hóa này trong cùng một vùng là một đặc tính lí tưởng cho việc
nghiên cứu cổ nhân chủng học và di truyền học. Nói theo ngôn ngữ của di truyền
học, Đông Phi châu là nơi có gen rất đa dạng, và càng đa dạng th́ việc phân tích
và phân loại càng dễ dàng hơn. Thực vậy, các bộ lạc trong năm sắc dân này có
quá nhiều đột biến gen so với các sắc dân, đó là một dấu hiệu cho thấy vùng Đông
Phi châu là một vùng đất mà con người từng có mặt rất lâu đời. Công tŕnh
nghiên cứu này cho thấy 5 sắc dân Đông Phi có một nguồn gốc lâu đời hơn cả người
!Kung San ở vùng Nam Phi châu, những người mà trước đây chúng ta tin rằng có
mtDNA lâu đời nhất.
Nếu nhận dạng theo bộ lạc, 5 sắc dân này là:
người Sandawe, nói tiếng "click" có liên hệ với người tóc rậm (c̣n gọi là người
rừng, hay Bushmen chuyên sống gần vùng sa mạc) của dân tộc Kalahari; người
Burunge và Gorowaa, họ di dân từ Ethiopia đến Tanzania chỉ trong ṿng 5.000 năm
trở lại đây; và người Maasai và Datog, những người có thể xuất phát từ Sudan. Nỗ
lực của nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Tishkoff c̣n góp phần xây dựng nên một ngân
hàng chứa các dữ kiện về mtDNA. Qua mtDNA, các nghiên cứu chứng minh rằng 5 sắc
dân này là những sắc dân có mặt lâu đời nhất trên thế giới mà chúng ta từng biết
đến. Điều này có nghĩa là Bà Eve là một người gốc Đông Phi châu hay Đông
Bắc Phi châu. Có thể vùng đất thuộc Ethiopia hay Sudan ngày nay là nơi mà con
người hiện đại khai sinh.
Nếu tỉ lệ đột biến mtDNA không thay đổi theo
thời gian (một giả định được xem là đáng tin cậy), và bằng một phương pháp thống
kê học, các nhà khoa học có thể ước đoán rằng tổ tiên lâu đời nhất của con người
hiện đại khai sinh khoảng 170.000 năm về trước. Nên nhớ rằng chỉ “có thể” thôi.
Nhưng điều quan trọng là ước tính này nhất quán với bằng chứng từ các thạch cốt.
Bằng chứng 3: "Trưởng lăo" Idaltu
Tháng 6 vừa qua, một nhóm nghiên cứu liên quốc
gia gồm Tim White và F. Clark Howell thuộc Đại học California tại Berkeley, và
một nhóm nghiên cứu do Berhane Asfaw thuộc Rift Valley Research Service ở Addis
Ababa, công bố khám phá liên quan đến 3 sọ người hóa thạch trong vùng Herto
Bouri của Ethiopia [5]. Một điểm đáng chú ư nhất của 3 sọ người đó là tất cả
đều là phái nam; trong đó có một sọ có lẽ của một em bé 6 hay 7 tuổi. Ngoại trừ
một vài trường hợp mất răng, và vài thiệt hại phần trái của sọ, những sọ hóa
thạch này đều có đầy đủ đặc tính của con người hiện đại. Dùng phương pháp quang
tuyến isotope, các nhà nghiên cứu ước tính ba sọ người này có độ tuổi từ 154.000
đến 160.000 năm. Nói một cách khác ba người này sống trong khoảng thời gian kể
trên.
Khi các nhà nghiên cứu rửa sạch và ráp nối những
mảnh sọ với nhau, họ có thể cho ra một câu chuyện hoàn chỉnh. Cũng giống như
con người hiện đại, những chủ nhân của 3 sọ này có khuôn mặt nhỏ, hơi dài. Dung
lượng sọ của một người có mă số BOU-VP-16/1 là 1.450 cm3, tức là rộng
hơn dung lượng của một con người hiện đại. Mặc dù sọ của người Herto (một sắc
dân Phi châu) lớn và dài hơn con người hiện đại, các nhà nghiên cứu cho rằng
người Herto có lẽ là một giống người thông minh hiện nay, Homo sapiens,
đầu tiên vừa được phát hiện, tức là tổ tiên trực tiếp của chúng ta ngày nay.
Cũng như nhóm nghiên cứu Đại học Maryland, qua 3 sọ người này, Tim White và đồng
nghiệp ông ta kết luận rằng nguồn gốc của con người hiện đại quả bắt nguồn từ
Phi châu.
Bởi v́ sọ người Herto vừa được phát hiện không
đồng dạng với các hài cốt con người cổ xưa từ bất cứ một vùng nào trên thế giới,
các nhà nghiên cứu phải xếp 3 sọ người này vào một nhóm mới và đặt tên là
Homo sapiens idaltu. Chữ idaltu xuất phát từ tiếng Afar ở Ethiopia,
và có nghĩa là “trưởng lăo.”
Ngay cả các nhà nghiên cứu không tham gia vào
công tŕnh nghiên cứu trên cũng đồng ư rằng 3 sọ người Herto là một bằng chứng
thuyết phục nhất về con người hiện đại, và phù hợp với Giả thuyết Phi châu về
nguồn gốc con người hiện đại. Sọ người Herto c̣n cung cấp một bằng chứng nhất
quán với sự chuyển tiếp về niên đại trong các sắc dân Phi châu được khám phá
trong vài năm qua. Chẳng hạn như các sọ người và thạch cốt thuộc giống người
đứng thẳng (Homo erectus) từ Daka, có niên đại khoảng 1 triệu năm về
trước, và sọ người cổ Bodo với niên đại khoảng 500.000 năm. Ngoài ra, thạch cốt
từ Omo Kibish, cũng thuộc Ethiopia, có niên đại thấp hơn sọ người Herto. (Tuy
nhiên niên đại của thạch cốt từ Omo Kibish được xem là mơ hồ, một phần v́ những
thạch cốt này là những mảnh vụn, rời rạc, và một phần là do phương pháp đánh giá
niên đại không có độ tin cậy cao). Nhưng một vài thạch cốt được khám phá cũng
gần vùng Omo Kibish vào năm 1967, và qua các phương pháp ước tính đáng tin cậy
hơn, có niên đại khoảng 125.000 năm. Hơn thế nữa, một số thạch cốt từ Qafzeh
thuộc Do Thái – tức là một hướng di dân từ Phi châu – có niên đại khoảng 92.000
năm.
Tất cả những phát hiện trên đây cho thấy Phi
châu là nơi mà con người xuất hiện sớm nhất. Nhưng những phát hiện này không
loại trừ khả năng các giống dân cùng tiến hóa một lượt trong các vùng khác trên
thế giới, như những người theo Giả thuyết Nhiều vùng đề nghị. Một cách thử
nghiệm đáng chú ư nhất của các nhà khoa học theo Giả thuyết Nhiều vùng là nghiên
cứu trên giống dân cổ Neandertals, một giống dân chỉ t́m thấy ở Âu châu. Theo
họ, giống dân Neandertals (sống vào khoảng 200.000 đến 27.000 năm trước đây) thể
hiện một sự chuyển tiếp từ người Âu châu Homo erectus đến người thông
minh ngày nay (Homo sapiens sapiens). Thế th́ câu hỏi được đặt ra là: Có
phải sọ người Herto chỉ đơn thuần là tổ tiên của những người Phi châu mà thôi (cũng
như giống dân Neandertals là tổ tiên người Âu châu ngày nay?)
Câu trả lời là "Không." Lí do đơn giản là
những sọ người Herto cho thấy người
Phi châu đă phát triển bộ xương của một con người hiện đại, c̣n các thạch cốt
của giống dân Neandertals vẫn chưa
thể xem là con người
hiện đại.
Bằng chứng 4: Giống người Neandertals
Năm 1997, Svante Paabo thuộc Viện nghiên cứu
tiến hóa nhân chủng học (Max Planck Institute for Evolutionary Anthropology) tại
Leipzig, Đức, là người đầu tiên chiết mtDNA từ giống dân Neandertal [6]. Công
tŕnh nghiên cứu này được đánh giá là công phu, độc đáo, là “tour de force” về
phương pháp nghiên cứu trong tiến hóa học. Mảng mtDNA của giống dân Neandertal
được so sánh với mtDNA của 2.000 người hiện đang sống ṿng quanh thế giới. Kết
quả cho thấy, tính trung b́nh, tỉ lệ đột biến giữa các nhóm dân số trên thế giới
khác nhau khoảng 27 (trong tổng số 379 đột biến được nghiên cứu). Ngoài ra,
mtDNA của giống dân Neandertals không đồng dạng với mtDNA của người Âu châu. Nói
một cách khác, qua bằng chứng di truyền học, giống dân Neandertals không phải là
tổ tiên của người Âu châu ngày nay. Đây là một khám phá quan trọng, v́ nó loại
bỏ vai tṛ của người Neadertals trong việc suy luận về nguồn gốc con người hiện
đại. Đó là một khám phá đánh một “đ̣n chí tử” vào Giả thuyết Nhiều vùng.
Nhưng các nhà khoa học theo Giả thuyết Nhiều
vùng vẫn chưa chịu thua. Giáo sư Milford Wolpoff thuộc Đại học Michigan và Giáo
sư Alan Thorne thuộc Đại học Quốc gia Úc châu ở Canberra, chất vấn kết luận của
công tŕnh nghiên cứu trên. Họ đề nghị nghiên cứu thêm các mảng mtDNA từ một số
người Neandertals khác, v́ họ nghi ngờ rằng mẩu mtDNA của nhóm Paabo dùng c̣n
quá nhỏ và có thể quá cá biệt, không đại diện cho tổng thể giống dân Neandertals
được. Họ c̣n tiên đoán rằng mtDNA của giống dân Neandertal sẽ đồng dạng với
người Âu châu cổ hơn là người Âu châu đang sống ngày nay. Đó là một phê b́nh
công bằng.
Để khắc phục nhược điểm mà Wolpoff vae Thorne
nêu lên, một số nhóm nghiên cứu khoa học trên thế giới bèn tiến hành nhiều
nghiên cứu để thử nghiệm giả thuyết của Milford Wolpoff và Alan Thorne, bằng
cách dùng phương pháp nghiên cứu của nhóm Max Planck. Kết quả của tất cả các
nghiên cứu này đều nhất quán một điều: mẩu mtDNA của giống dân Neandertal khác
xa với mẩu mtDNA của người Âu châu cổ hay người Âu châu hiện nay. Chẳng hạn như
công tŕnh nghiên cứu của Giorgio Bertorelle và đồng nghiệp thuộc Đại học
Ferrara (Ư) cho thấy mẩu mtDNA của hai nhóm người Âu châu cổ (Cro-Magnons ở Ư)
có niên đại 23.000 đến 24.720 năm rất khác với 4 mẩu mtDNA của giống dân
Neandertals có niên đại từ 42.000 đến 29.000 năm [7]. Mức độ khác biệt giữa hai
mẩu mtDNA khá cao: 22 đến 28 trong số 360 đột biến nghiên cứu. Điều quan trọng
là các mẩu mtDNA của người Cro-Magnon, như dự đoán, rất tương đương với mẩu
mtDNA của người Âu châu ngày nay, với tỉ lệ đột biến chỉ khác nhau có 1 trong số
2.566 mẩu mtDNA!
Nói một cách khác, mtDNA của người Âu châu đang
sống hiện nay cũng chính là mtDNA của người Cro-Magnons, và do đó, giống dân
Neandertals không phải là một giống người nằm trong quá tŕnh tiến hóa từ
Homo erectus sang người Homo sapiens hiện đại. Giống dân
Neandertals không phải là tổ tiên của người Âu châu hiện đại.
Bằng chứng và tính thuyết phục
Giả thuyết Phi châu về nguồn gốc con người hiện
đại càng ngày càng trở nên thuyết phục. Thuyết phục là v́ hầu hết các nghiên
cứu, nhất là nghiên cứu di truyền học, đều cho ra một câu trả lời kiên định,
trước sau như một. Câu trả lời này phù hợp với giả thuyết rằng con người hiện
đại, dù là ở Á, Âu, Mĩ châu đều có tổ tiên xuất phát từ Phi châu, đặc biệt là từ
Đông Phi châu nói chung, và Ethiopia hay Sudan nói riêng, bởi v́ nơi đây là quê
hương của những thạch cốt con người cổ nhất thế giới. Các nghiên cứu này cũng
loại bỏ khả năng vế mối liên hệ giữa người Neandertals và con người hiện đại, và
do đó, không nhất quán với Giả thuyết Nhiều vùng.
Mặc dù sức thuyết phục của các nghiên cứu này
rất cao, chúng ta cần phải cảnh giác rằng những thạch cốt dùng trong nghiên cứu
chỉ nói cho chúng ta biết h́nh dạng của tổ tiên chúng ta ngày xưa, và nơi và
thời gian mà họ từng sinh sống. Công tŕnh nghiên cứu của White-Howell-Asfaw
cho thấy thạch cốt khám phá từ Ethiopia có niên đại khoảng 160.000 năm. Các nhà
khoa học theo Giả thuyết Phi châu đang ăn mừng.
Nhưng các nhà khoa học theo Giả thuyết Nhiều
vùng chắc chắn là chưa đầu hàng, hay ít ra là họ cần một thời gian để tuyên bố
đầu hàng. Hiện nay, họ bị mất rất nhiều cảm t́nh viên. Giáo sư Wolpoff vẫn
kiên tŕ bảo vệ Giả thuyết Nhiều vùng mà ông từng đề nghị nhiều năm trước đây. Có
thể nhiều khám phá sắp tới sẽ làm cho cán cân khoa học nghiêng về phía Giả
thuyết Nhiều vùng, nhưng họ cần phải có nhiều – rất nhiều bằng chứng – để bác bỏ
Giả thuyết Phi châu.
Tản mát ra khỏi Phi châu
Nếu tổ tiên con người hiện đại xuất
phát từ Phi châu, th́ một câu hỏi được đặt ra là sau đó họ đi đâu, vào lúc nào?
Bằng chứng khảo cổ học cho chúng ta nhiều thời điểm mà con người di dân ra khỏi
Phi châu, và những thời điểm này có thể đối chiếu với bằng chứng di truyền học
để cho ra một câu chuyện di dân tương đối hoàn chỉnh. “Bằng chứng di truyền” ở
đây là những phân bố DNA và gen trong các sắc dân hiện đại trên khắp 5 châu.
Qua những phân bố DNA và gen, chúng ta có thể ước tính những khoảng cách di
truyền giữa các sắc dân [8]. Khoảng cách di truyền càng gần có nghĩa là hai sắc
dân càng giống nhau. Kết quả phân tích này có thể tóm gọn như sau [9]:
|
|
Khoảng cách di truyền |
Thời điểm định cư đầu tiên (1000 năm) |
|
Phi châu – Á châu |
0.206 |
100 |
|
Á châu – Úc châu |
0.100 |
55 |
|
Á châu – Âu châu |
0.097 |
43 |
|
Âu châu – Mĩ châu |
0.089 |
15 – 50 |
Theo kết quả phân tích khoảng cách
di truyền giữa các sắc dân và các hiện vật cổ, chúng ta có thể khẳng định rằng
con người hiện đại di dân ra khỏi Phi châu và đến Á châu vào khoảng 100.000 năm
trước đây. Có thể trong đợt di dân đầu tiên họ đến vùng Trung Đông, nhưng không
thể định cư được v́ thời tiết khắc nghiệt, sau đó có thể họ phải làm thêm một
hành tŕnh thứ hai từ Trung Đông đến tận vùng Đông Nam Á châu. Cũng có thể họ
đi thẳng từ Đông Phi châu, dọc theo đường biển Ả Rập ngày nay băng ngang qua Ấn
Độ, và đến định cư ở Đông Nam Á.
Từ Đông Nam Á, họ lại di cư một lần nữa: nhóm
một đi về hướng nam ra Úc châu và Tân Guinea; nhóm hai đi về hướng bắc đến Trung
Quốc và Nhật Bản, và cuộc di dân này xảy ra vào khoảng 55.000 năm trước đây.
Điều này cũng phù hợp với các dữ kiện di truyền gần đây cho thấy người Trung Hoa
ngày nay, nhất là người Trung Hoa ở phía nam Trung Quốc rất gần và có tổ tiên ở
vùng Đông Nam Á châu [10-11]. Ngoài ra, gần đây, một nghiên cứu mtDNA [tuy chưa
đầy đủ] c̣n cho thấy người Việt có thể là một dân tộc cổ nhất trong vùng Đông
Nam Á [12].
Cuộc định cư ở Âu châu có lẽ xuất phát từ ngả
Tây Á châu và Bắc Phi châu, vào khoảng 43.000 năm về trước. Thời điểm di dân từ
Đông Bắc Á châu vào Mĩ châu là khó đoán nhất. Dựa vào bằng chứng khảo cổ, giới
khảo cổ học cho rằng cuộc di dân đó xảy ra vào khoảng 15.000 đến 50.000 năm
trước đây, nhưng đây chỉ là một ước tính rất “thô”, và sự nhất quán với bằng
chứng về khoảng cách di truyền không mấy cao.
Nói tóm lại, một số nghiên cứu quan
trọng gần đây cho thấy con người hiện đại như chúng ta có nguồn gốc từ Phi châu,
cụ thể là Đông Phi châu. Từ Phi châu, tổ tiên chúng ta di cư đến Á châu, và từ
Á châu họ tản mát đi khắp 4 châu c̣n lại, kể cả các ḥn đảo vùng nam Thái B́nh
dương. Tất nhiên, đây chỉ là câu chuyện mới được phát họa, nhiều chi tiết vẫn
c̣n trong ṿng nghiên cứu thêm. Một trong những chi tiết mà chúng ta cần t́m
hiểu thêm là mối liên hệ giữa người Việt hiện nay và các dân tộc trong vùng Đông
Nam Á châu. Tổ tiên gần nhất của chúng ta xuất phát từ đâu, họ đến Việt Nam
bằng cách nào, vẫn c̣n là những vấn đề khoa học “nóng”, đ̣i hỏi nhiều nghiên cứu
về di truyền học, khảo cổ học, và ngôn ngữ học. Tuy nhiên, với sự tiến bộ phi
thường về khoa học di truyền và công nghệ sinh học trong khoảng mười năm qua trở
lại đây, tôi tin rằng việc nghiên cứu quá tŕnh lịch sử di truyền của người Việt
chúng ta sẽ đem lại nhiều kết quả thích thú và làm sáng tỏ hơn về nguồn gốc tổ
tiên của chúng ta.
Chú thích và tài liệu tham khảo
[1] Trong thực tế, không phải loài nào cũng hái
lượm bằng bàn tay hay bàn chân. Trong số hơn 200 loài khỉ, giới khoa học phân
biệt hai loài khỉ chính: một loài sinh sống trong vùng Nam và Trung Mỹ (c̣n gọi
là New World monkeys – tức khỉ thế giới mới, c̣n một loài sinh
sống ở các vùng Á châu và Phi châu (c̣n gọi là Old World monkeys, khỉ
thế giới cũ). Khỉ ở Phi châu và Á châu có 32 răng (như con người), nhưng
khỉ ở Mỹ châu có đến 36 răng. Khỉ Phi châu và Á châu không có khả năng lượm đồ
vật bằng đuôi, trong khi đó một số khỉ Mỹ châu có khả năng này. Khỉ Phi châu và
Á châu có hai lỗ mũi gần nhau, nhưng khỉ Mỹ châu có lỗ mũi cách xa hơn và cân
đối hơn.
[2] Năm 1856 (3 năm trước khi Charles Darwin
xuất bản cuốn The Origin of Species), người ta phát hiện một sọ người có
vẻ khác với người hiện đại. Sọ người này được phát hiện tại Sông Neander. Sau
này, người ta phát hiện thêm nhiều sọ người tương tự chung quanh sông Neander.
Do đó, sau này giới khảo cổ học đặt tên cho giống người này Neandertal.
[3] Tishkoff, S. A., K. Gonder, J. Hirbo, H.
Mortensen, K. Powell, A. Knight and J. Mountain. The genetic diversity of
linguistically diverse Tanzanian populations: A multilocus analysis. American
Journal of Physical Anthropology Supplement 2003; 36:208–209.
[4] Không như DNA nằm trong nhân của tế bào,
Mitochondrial DNA nằm ngoài nhân của tế bào. MtDNA chỉ lưu truyền trong giống
cái (ví dụ như từ mẹ sang con gái) do đó chúng rất có ích trong việc trùy t́m
những mối quan hệ di truyền giữa các nhóm dân. Nhưng mtDNA có hai nhược điểm: (i)
mtDNA có nhiễm sắc rất nhỏ, chỉ khoảng 16500 mẫu tự (tức chỉ khoảng 16 kilobases);
và (ii) sự phân phối của các mẫu tự cũng không đồng đều.
[5] White, T. D., B. Asfaw, D. DaGusta, H.
Gilbert, G. D. Richards, G. Suwa and F. C. Howell. Pleistocene Homo sapiens
from Middle Awash, Ethiopia. Nature 2003; 423:742–747.
[6] Krings, M., A. Stone, R. W. Schmitz, H.
Krainitzki, M. Stoneking and S. Paabo. Neandertal DNA sequences and the origin
of modern humans. Cell 1997; 90:19–30.
[7] Barbujani, G., and G. Bertorelle. Were
Cro-Magnons too like us for DNA to tell? Nature 2003; 424:127.
[8] Khoảng cách di truyền (hay c̣n gọi là
genetic distance) là một thông số di truyền học đo lường mức độ khác nhau giữa
các nhóm dân. Chỉ số này có giá trị tối thiểu là 0 (tức hai nhóm dân giống nhau
về mặt di truyền), và giá trị tối đa là 1 (tức hai nhóm dân hoàn toàn khác nhau).
[9] Cavalli-Sforza LL. Genes, people and
languages. Penguin Books, 2001. Chương 1 (trang 1 – 33) và Chương 3 (trang 57 –
91).
[10] Chu JY, et al. Genetic relationship of
populations in China,” tác giả J. Y. Chu và đồng nghiệp, Proceedings of the
National Academy of Science (USA) 1998; 95: 11763-11768.
[11] Su B, et al. Y-chromosome evidence for a
northward migration of modern humans into eastern Asia during the last Ice Age.
American Journal of Human Genetics 1999; 65:1718-1724.
[12] Ivanova R, et al. Mitochondrial DNA
polymorphism in the Vietnamese population”, tác giả và đồng nghiệp, European
Journal of Immunogenetics 1999; 26:417-422.
|
|