|
Chiến tranh và không bao giờ phải nói xin lỗi
(*)
Samantha Power
Có
thời vào giữa
thập niên 1960s, cuộc chiến Việt Nam c̣n được mệnh danh là “Cuộc chiến của
McNamara.” Robert S. McNamara là Bộ trưởng Quốc pḥng trong chính phủ của John
F. Kennedy và Lyndon B. Johnson trong 7 năm liền. Trong thời gian đó, Mĩ lún
sâu vào cuộc chiến Việt Nam, nâng sự hiện diện của quân đội Mĩ từ vài ngàn quân
đến gần nửa triệu quân. Danh tiếng của McNamara được biến từ một “thần đồng”
thành một người lái buôn chiến tranh. Năm 1965, tín đồ của giáo phái Quaker tự
thiêu ngay phía dưới văn pḥng làm việc của McNamara ở Lầu năm góc để phản đối
chính sách leo thang chiến tranh của Mĩ ở Việt Nam. Năm 1967, nhiều người biểu
t́nh chống chiến tranh t́m cách đốt cháy căn nhà nghỉ mát của ông ở Aspen,
Colorado. Và, năm 1972, một nghệ sĩ phát hiện McNamara trên một chiếc phà ở New
York và t́m cách đẩy ông ta xuống Đại Tây Dương.
Một phần tư thế kỉ sau, McNamara phá vỡ sự im
lặng bằng cách xuất bản cuốn “In Retrospect” (Hồi tưởng), một hồi kí bán
chạy nhất trong năm. Trong hồi kí, McNamarra tự hỏi làm sao ông và đồng nghiệp
lănh đạo của ông có thể tạo nên một cuộc chiến mà sau này ông tự thú nhận là sai
lầm, hết sức sai lầm. Nhưng trước 3 triệu cái chết của người Việt Nam, và hơn
58.000 cái chết của người Mĩ, nhiều người thấy sự thú tội của McNamara là một
hành động thiếu tương xứng, nếu không muốn nói là thiếu lương thiện. Trong một
bài xă luận nóng bỏng vào năm 1995, tờ New York Times bác bỏ những lời
biện bạch và nước mắt nhạt nhẽo của ông, một người dù bị dày ḍ về tinh thần,
nhưng sẵn sàng chấp nhận một chức vụ cao cấp trong Ngân hàng Thế giới (World
Bank).
Trong vài năm qua, những tranh luận về cuộc
chiến Việt Nam và tranh luận về những lời biện minh của Robert McNamara chẳng
những không ngừng mà c̣n có vẻ tăng lên theo thời gian. Lí do là v́ một phần
ông McNamara, nay đă 87 tuổi, không chịu dừng lại một chỗ. Trong phim thời sự “The
Fog of War: Eleven Lessons From the Life of Robert S. McNamara,” (tạm dịch:
Sương mù chiến tranh: 11 bài học từ cuộc đời của Robert S. McNamara) mới
được tŕnh chiếu, nhà làm phim tài danh Errol Morris cho McNamara một cơ hội lớn
để phản ánh cuộc đời và sự nghiệp của ḿnh trên màn ảnh tivi.
Dù McNamara sử dụng cuốn phim để quảng bá những
“bài học” của 60 năm lăn lộn trong chính trường của ḿnh, nhưng ông Morris lại
có một chương tŕnh nghị sự riêng: đặt vấn đề đạo lí. Morris đặt vấn đề một
cách tinh vi. Làm thế nào mà những người đứng đắn lại có thể liên lụy vào những
hành động ghê tởm? Và một khi họ đă phạm tội ác, họ sẽ nói ǵ với những nạn
nhân của họ, họ phải sống với lương tâm ḿnh ra sao và truyền đi kinh nghiệm của
ḿnh như thế nào? Đó cũng là những câu hỏi làm cho người Mĩ từng mê hoặc và
kinh tởm trước những hành động của Robert S. McNamara. Và, sự trốn chạy lỗi lầm
của những người cầm cán cân lănh đạo nước Mĩ làm cho uy tín của Mĩ trên trường
quốc tế bị xói ṃn, và làm cho người Mĩ mù quáng trước những bài học lịch sử.
Ông Morris là một nhà làm phim thời sự tài ba.
Trong phim, ông truy t́m được những chứng liệu mới toanh và khiêu khích liên
quan đến những ḱ bỏ bom lửa vào nước Nhật trong Thế chiến thứ II và ư định dùng
bom nguyên tử của Kennedy trong cuộc chiến Việt Nam. Ông c̣n moi ra một số thú
nhận đáng chú ư của McNamara. Hơn thế nữa, Morris cho tŕnh chiếu cuốn phim vào
một thời điểm mà chiến tranh và vũng lầy chiến tranh đang nằm trong tâm trí của
người dân Mĩ. Tái thẩm định cuộc chiến Vietnam và những h́nh ảnh sống động, đầy
sức sống của những anh chàng GI hăng hái muốn phục vụ cho tổ quốc, người ta
không thể không nhớ đến những người lính từng bị dẫn dắt vào con đường chết chóc
v́ những ư thức hệ liều lĩnh, những thông tin t́nh báo tồi dở, và sự xấc xược
của những nhà lănh đạo. Cuốn phim c̣n cho chúng ta thấy những quyết định nhưng
sai lầm, dù nhỏ, vẫn có thể dẫn đến những hậu quả không lường, và niềm tin cũng
như sự dốt nát của chúng ta về văn hóa địa phương làm suy yếu những mục tiêu của
chún ta. (Trong số 11 bài học mà Morris lượm lặt từ McNamara, Bài học số 1 là
“Thấu cảm với kẻ thù.”)
Nhưng Morris ít quan tâm đến chính sách mà lại
chú trọng đến những lời nói trừu tượng. Trong một cuộc phỏng vấn ở New York,
nơi ông ta đang tŕnh chiếu cuốn phim, Morris cho biết ông chú ư đến McNamara bởi
v́ ông say mê t́m câu trả lời cho câu hỏi: tại sao những
người
hành xử
ác ôn tin vào những ǵ họ làm là đúng. Ở đây, Morris có vẻ đi vào một lănh địa
xám của đạo lí con người. Nếu những người bác ái tràn ngập trái đất th́, như
cuốn phim nhận xét, cuộc sống của chúng ta sẽ đơn giản hơn, và có lẽ sẽ an toàn
hơn. Nhưng câu chuyện phức tạp hơn như thế khi mà một người như Robert McNamara
— người không chỉ phóng khoáng, nhưng c̣n có khả năng tự phê b́nh — cùng sống
trên trái đất này với chúng ta.
Màn sôi nổi và ấn tượng nhất trong phim Sương
mù chiến tranh là cảnh không quân Mĩ bỏ bom lửa xuống 67 thành phố ở Nhật
trong Thế chiến thứ II. Lúc đó, McNamara làm việc dưới quyền của Tướng Curtis
LeMay trong Không quân Mĩ. Ông Morris phát hiện một số báo cáo của chính phủ Mĩ
làm cho chúng ta phải lạnh xương sống. Những báo cáo này cho chúng ta biết Mĩ
đă đi đến chiến thắng bằng những tính toán lạnh lùng như thế nào. Trong Bài học
số 9, McNamara tuyên bố “Để thực hành một thiện ư, chúng ta phải chấp nhận ra
tay một cách độc ác.” Trong một cuộc không kích, McNamara kể lại: “Chúng tôi
thiêu chết 100.000 thường dân Nhật ở Tokyo — đàn ông, đàn bà, và trẻ em.”
Khoảng 900.000 thường dân Nhật bị chết trong cuộc chiến. McNamara có hay biết
ǵ những thảm trạng này hay không? Ông trả lời: “Th́ tôi là một phần trong bộ
máy [chiến tranh] đề nghị những hành động đó.” McNamara c̣n cho biết Tương LeMay
từng nói như sau: “Nếu chúng ta thua trận, chúng ta sẽ trở thành những tên tội
phạm chiến tranh.” McNamara nói tiếp: “Và tôi nghĩ ông ấy nói đúng. Ông ấy và
cả tôi nữa
từng hành xử
như
là những tên tội phạm chiến tranh.”
Khi đề cập đến cuộc chiến Việt Nam, McNamara là
một người đầu tiên chủ trương leo thang chiến tranh, nhưng sau này ông cũng là
một trong những người đầu tiên thấy sự sai lầm trong chính sách này. Ấy thế mà
trước công chúng, ông tiếp tục bảo vệ chiến tranh. Ngay cả sau khi ông bị Tổng
thống Johnson đẩy ra khỏi chính phủ vào năm 1967, ông vẫn không chịu nh́n nhận
nhầm lẫn của ḿnh, dù cuộc chiến tiếp tục càng ngày càng ác liệt trong 8 năm sau.
Ngày
nay, ông không muốn b́nh luận ǵ về cuộc chiến Iraq, có lẽ v́ ḷng trung thành
với bộ máy chiến tranh của chính phủ Mĩ. Khi được đề cập rằng bất đồng quan
điểm là một h́nh thức trung thành cao cả nhất, McNamara nói, “Tôi cho rằng nếu
một cựu bộ trưởng quốc pḥng b́nh luận, nhất là b́nh luận có tính cách phê phán,
về một tổng thống đang giữa lúc chiến tranh với hàng trăm ngàn binh sĩ Mĩ đang
liều ḿnh, th́ đó là một hành động thiếu trách nhiệm. V́ thế, tôi không b́nh
luận ǵ, và sẽ không có ư kiến ǵ để nói nay mai.”
Song, chúng ta có thể suy đoán được quan điểm của McNamara qua cuốn phim. Ông
hỏi một cách ví von: “Cái ǵ làm cho chúng ta toàn trí toàn thức?” và tự trả lời
“Nếu chúng ta không có khả năng thuyết phục các quốc gia bạn về chính nghĩa của
chúng ta, th́ lập luận của chúng ta cần phải được xem xét lại.”
Xem xét lại lập luận không phải là một hành động
tự nhiên của các chính trị gia Mĩ. Thực ra, McNamara là một chính khách trong
số rất ít các quan chức cao cấp của Mĩ dám nh́n nhận lỗi lầm lớn một cách tự
nguyện. Trong một cuộc phỏng vấn tháng qua, tôi hỏi ông tại sao. Ông trả lời:
“Người ta không muốn thú nhận lỗi lầm. Đạo Catô La Mă, các đại công ti, các cơ
quan ngoài chính phủ, và các cơ quan chính trị ít khi nào dám nh́n nhận rằng
ḿnh đă sai lầm. Nguyên tắc của tôi là trực diện với các vấn đề khó khăn.
Tranh luận với người ḿnh ngưỡng mộ rồi làm bạn với họ là một điều hết sức khó
khăn. Nhưng chúng ta cần phải tranh luận.”
Cho đến nay, McNamara đă học được cách nói về
những vết thương ḷng trong quá khứ của ông y như cách mà người ta học cách nói
về cái chết của một người thân trong gia đ́nh: học như con vẹt. Trong cuộc tṛ
chuyện giữa chúng tôi (tôi và McNamara), ông thường lặp lại nguyên văn những ǵ
ông phát biểu trước ống kính. Thay v́ trả lời những câu hỏi “tế nhị” (như vấn
đề hạn chế vũ khí hạt nhân, như Ṭa án h́nh sự quốc tế (International Criminal
Court), ông t́m cách chuyển chủ đề một cách khéo léo. Mặc dù cố gắng tỏ ra cứng
rắn, trong nhiều trường hợp McNamara vẫn không tự chủ được cảm xúc trong khi thu
h́nh cho cuốn phim Sương mù chiến tranh — “một dấu hiệu của sự yếu đuối”
như ông ngượng nghịu nói với tôi.
Trước
ống kính, ông giữ mặt cứng
rắn và lạnh lùng khi ông cho biết vợ ông và một người con trai của ông bị bệnh
loét dạ dày khi ông c̣n giữ chức bộ trưởng
quốc pḥng. Vợ
ông chết năm 1981, và ông cho rằng bà chết v́ căng thẳng thần kinh. Nỗi xúc
động của McNamara chỉ bớt hơn chút khi ông tiếp tục nói đến những điều mà nhất
định ông biết là không đúng sự thật. Ông quả quyết: “Nhưng
đó là những
năm tháng đẹp nhất trong đời tôi”. Nhưng sau đó ông bắt đầu rơi
nước mắt: “Tất cả người thân trong gia đ́nh tôi đều hưỡng
lợi từ đó.” Trong cuộc phỏng vấn với chúng tôi, đôi mắt McNamara hầu như lúc
nào cũng ứa nước mắt vào những thời điểm gay cấn. Dù có vài chính trị gia dùng
cái khóc để chiếm cảm t́nh, nhưng trong trường hợp của McNamara, người nổi tiếng
là có khả năng tự chế ngự chính ḿnh, những giọt nước mắt của ông có vẻ được ứa
ra một cách có tính toán; hay là bằng chứng cho thấy sự quỉ quái trong con người
ông áp đảo hẳn tư thế trước công chúng của ông.
Ngày nay, điều làm cho người ta nổi điên về
McNamara không phải là vai tṛ của ông trong cuộc chiến Việt Nam nhưng là điều
mà có người cho là sự “tử v́ đạo” của ông ta trước công chúng. Đúng: những ǵ
ông ta nói ngày nay là thiên vị, và không làm cho người ta thỏa măn. Đúng: cuốn
sách giúp cho ông lao vào ánh sáng của dư luận công chúng. Đúng: khi nói đến
Việt Nam ông ta chỉ có thua lỗ. Nhưng với việc tự nguyện khai quật quá khứ,
McNamara cũng tự ḿnh chế diễu chính ḿnh, và làm sống lại những thời điểm tồi
nhất trong cuộc đời hoạt động của ông. Dù bị chế nhạo và mỉa mai, McNamara sẵn
sàng nhận lỗi, và tự hành động đó đă cho thấy ông có tư cách hơn nhưng người như
Dean Rusk, Henry Kissinger, và ba vị tổng thống Mĩ, những người không có ư định
noi gương McNamara.
Trong thời gian qua, Thượng nghị viện Mĩ không
mở một cuộc điều nghiên nào về những nhầm lẫn trong cuộc chiến Việt Nam, và điều
này cũng có nghĩa là các nhà vạch định chính sách của chính phủ Mĩ không muốn
ngoái nh́n quá khứ. Họ phải tiếp tục đi tới và tring thành với chính phủ. Vời
sự h́nh thành những ṭa án h́nh sự quốc tế, ṭa án tội ác chiến tranh quốc tế,
ngày nay các quan chức Mĩ được khuyến cáo là nên tránh những phát biểu linh tinh
trước công chúng, v́ họ sợ sẽ bị đưa ra ṭa án quốc tế. Dù nh́n nhận cuộc chiến
ở Việt Nam là sai trái, hay những cuộc ám sát giết người trong thời chiến tranh
lạnh là sai trái, hay cuộc liên minh với Saddam Hussein là sai trái, các quan
chức Mĩ luôn nh́n về tương lai. Họ ít khi nào chịu nh́n nhận trách nhiệm cho
những thất bại, cho những can thiệp làm chết và d8au khổ cho hàng triệu triệu
người trên thế giới. Họ chống lại các cuộc tranh luận — trong nội bộ hay ngoài
công chúng — về những ư định tốt đẹp nhưng bị lạc đường lầm lối. Và họ cũng
không khi nào xin lỗi cho những việc làm sai trái và tàn ác của họ.
Chỉ trong vài trường hợp hết sức cá biệt, khi
các quan chức Mĩ tỏ vẻ hối hận cho những chính sách trước đây của đồng nghiệp,
nhưng với một thái độ tự nhiên, thoải mái. Nhưng đối với những quốc gia là nạn
nhân của các chính sách đó, những thái độ “hối hận” của các quan chức Mĩ chỉ
được nh́n như là những hành động giả tạo, thiếu thành thật.
Cũng theo truyền thống đó, McNamara chưa bao giờ
xin lỗi với người dân Việt Nam hay người dân Mĩ trong cuộc chiến Việt Nam. Nhưng
ông ta từng phá lệ bằng cách bày tỏ ân hận cho những chính sách sai lầm. “Tôi
rất tự hào về những thành quả của tôi,” ông nói trong phim, “Tôi tiếc là trong
quá tŕnh đạt được
những thành quả đó, tôi đă phạm phải sai lầm.”
Errol Morris cho biết việc McNamara không chịu
xin lỗi người Việt và người Mĩ luôn ám ảnh ông. Nhưng sau khi thu h́nh suốt 23
giờ liền, phỏng vấn, nói chuyện qua điện thoại và ăn trưa chung với McNamara,
Morris cảm thấy sự bất b́nh của ḿnh lắng xuống chút ít. Thật ra, Morris càng
lúc càng cảm thấy mến Robert McNamara, và hiểu tại sao có quá nhiều đả kích, tố
cáo chống McNamara, nhưng ông chẳng bao giờ đính chính hay trả lời. Morris nói,
“Một lời xin lỗi có khả năng làm cho chúng ta lớn mạnh hơn. Nếu người có lỗi nói
‘tôi thành thật thành thật thành thật cuối đầu xin lỗi’, và chúng ta nói ‘Tôi
tha lỗi cho anh’, hay chúng ta nói ‘Rất tiếc tôi thấy xin lỗi không cũng chưa đủ’.
Người ta rất muốn nói ‘Tôi không tha thứ những ǵ anh đă làm’ và họ tưởng tượng
rằng một lời xin lỗi không bao giờ có thật.”
Dĩ nhiên, sưu tầm những bài học lịch sử không có
nghĩa là chúng ta có thể áp dụng chúng. Ngay sau khi Donald Rumsfeld nhậm chức
bộ trưởng quốc pḥng vào năm 2000, ông ta làm một việc bất thường là cho phổ
biến một bản thông cáo viết về sự nghiệp 40 năm của ông. Những bài học của
Rumsfeld không phải là không giống với những bài học của McNamara mà Morris sưu
tập. Những bài học của Rumsfeld là như sau (trích):
“Tiến vào dễ hơn là thoát ra”
“Không nên chia thế giới thành ‘họ’ và ‘ta’.”
“Viếng thăm những người tiền nhiệm trong các
chính phủ trước . . . Cố gắng làm những
lỗi lầm độc đáo, chứ
không nên lặp lại những lỗi lầm của họ.”
Những bài học đó c̣n được gọi là “Điều lệ của
Rumsfeld,” được dán vào trang nhà internet của Nhà năm góc khi Rumsfeld nhậm
chức. Nhưng gần đây, chúng đă bị biến mất.
(*)
Nguyễn Văn lược dịch từ bài “War and Never Having to Say You're Sorry”
của tác giả Samantha Power, đăng trên tờ New York Times, số ra ngày 14/12/2003.
Samantha Power là tác giả cuốn sách mới xuất bản “A Problem From Hell: America
and the Age of Genocide” (Một vấn đề từ địa ngục: Mĩ và thời đại diệt chủng).
Power vừa đoạt giải Pulitzer năm 2003.
|