WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 12/2003

 GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU VỀ TRƯƠNG VĨNH KƯ (1837-1898)

Nguyên Vũ

L.T.G.: Tôi vốn không chuyên biệt về khía cạnh chính trị trong giai đoạn Pháp thuộc. Lại không định viết tiểu sử các tác nhân, ngoại trừ tập Nhân Vật Chí (kư tên Chính Đạo) ghi chép vắn tắt dài theo hơn phần tư thế kỷ nghiên cứu vừa qua (đă tái bản, có bổ sung năm 1997, và sẽ in lần thứ ba năm 2005). Những tài liệu phát hiện về Petrus Key cũng như các tác nhân lịch sử cận và hiện đại thường rất t́nh cờ. Với ước muốn dùng các thay đổi văn hóa và xă hội để giải thích chiến thắng của người Cộng Sản năm 1975, ngoài những vấn đề ngoại giao, chính trị, kinh tế, không thể không nghiên cứu thêm các tôn giáo và ư thức hệ tại Việt Nam trước năm 1945. Bởi vậy, năm 1996, khi t́m đọc các tài liệu về Giám mục Dominico Lefèbvre, vô t́nh bắt gặp lá thư thủ bút của Petrus Key vào cuối tháng 3/1859 để tự tiến thân với các quan tướng Pháp. Khi đọc tư liệu của Trung tá Hải quân Henri Rieunier, cựu chánh văn pḥng của Jean Bernard Jauréguiberry, cũng người cầm đầu phái bộ Pháp của “Cochinchine” [Nam Kỳ] bên cạnh sứ đoàn Phan Thanh Giản năm 1863, mới xác tín rằng Petrus Key, thông ngôn hạng nhất của Soái phủ Sài-g̣n, là thông ngôn của phái bộ Pháp, dưới quyền Gabriel Aubaret, mà không phải của sứ đoàn Việt như thường huyễn truyền (thông ngôn của triều Nguyễn là hai người khác, kể cả một linh mục Việt, Nguyễn Hoằng). Khi đọc tư liệu văn khố Hội truyền giáo hải ngoại, mới biết chính sách mua trẻ mồ côi để tăng số giáo dân và thày kẻ giảng (thí dụ như Lettre commune năm 1858), và từ đó hiểu tại sao những Petrus Key và Ngô Đ́nh Khả v.. v... bỗng dưng trở thành các “chú” của nhà Chúa Blời. Đọc tư liệu Joseph Page và Jauréguiberry mới rơ nghị quyết của Ủy Ban Cochinchine năm 1857 yêu cầu sử dụng “thày kẻ giảng và 600,000 giáo dân Ki-tô làm ṇng cốt” cho “tân trào” bảo hộ Pháp. Đọc tài liệu trường Collège général de Pinang mới rơ chương tŕnh huấn luyện các thày kẻ giảng bản xứ, và đại cương về các chủng sinh [Nên không thể không đặt câu hỏi Petrus Key tốt nghiệp trường Pinang chưa mà không được thụ phong linh mục hay thày kẻ giảng ở Pinang, đă phải vội vă “cưỡi ngựa”, vượt sông vượt biển về Cái Nhum chờ đón những sứ giả “Moises và Jacobs” mà “Thiên chúa” gửi sang “giải phóng” giáo dân Việt năm 1858? Phải chăng v́ Lefèbvre (người ngày đêm trông đợi binh thuyền Pháp tới đ̣i vua Tự Đức nợ máu) đă được thông báo về Nghị quyết 1857 của Ủy Ban Cochinchine, yêu cầu thiết lập một tân trào với các thày kẻ giảng làm trụ cốt và sự trợ giúp của 600,000 giáo dân?].

Công bố những tài liệu mới phát hiện này hay không, chúng vẫn nằm ở đó, thu thập bụi thời gian và chờ ngày bị mục nát, nếu chưa được những người nghiên cứu khác t́m đọc. Nhưng tôi đă quyết định công bố tất cả các sử liệu t́m được suốt hơn 20 năm qua, dưới sự hướng dẫn của ánh sáng lương tâm nghề nghiệp. Sự thực nhiều khi khiến đau ḷng, nhưng hậu thế Việt Nam xứng đáng và có quyền được hiểu biết những sự thực ấy. Họ có đọc chăng, suy nghĩ ǵ, đó là quyền của họ. Gần trọn nửa đời bị bưng tai, bịt mắt tại Việt Nam, thấy xà cừ mà tưởng lầm là bạc—nửa đời trăn trở dưới vực thẳm giữa những triền đá dựng đứng, dốc ngược của sự ngu dốt sặc sỡ và lừa dối hào nhoáng—khiến tôi không-thể-không công bố chúng. Thứ bóng tối kinh hoàng nhất là bóng tối của sự ngu dốt, khiến nhân diện nhợt nhạt, trí tuệ hôn ám. Nỗi hổ nhục sâu cay nhất, nói theo Socratus, là cứ tưởng ḿnh “biết rồi!” những điều ḿnh thực sự chẳng biết ǵ cả. (Xem Nguyên Vũ, Paris: Xuân 1996, Houston: Văn Hóa, 1997; và, Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, 1883-1945, 3 tập, Houston: Văn Hóa, 1999-2000)

Đăơ hẳn tôi hiểu rất rơ rằng công bố các tư liệu văn khố mới phát hiện không có nghĩa tất cả những người đương thời sẵn sàng chấp nhận sự thực ấy. V́ như tôi đă nhắc đó đây, cảm nhận về lịch sử (a perception of history) thường ảnh hưởng đám đông hơn chính sự thực lịch sử. Đó là nỗi buồn riêng ḿnh ḿnh biết của người c̣n giữ được sự lương thiện trí thức. Hoặc, nói theo những sách vở cổ thời Tây phương, đó là hớp độc dược mà Socratus (470-399 TTL) phải nuốt qua cuống họng v́ tội “làm ung hoại tuổi trẻ”, hay con thuyền chở chàng “nô lệ” Plato (427-347 TTL); nhưng nhất định không thể là lời xin lỗi nghẹn ngào, ứa nước mắt của Galliléo Galiéli (1564-1642) về việc phát hiện ra rằng trái đất quay quanh mặt trời, mà không phải mặt trời quay quanh trái đất như Giáo Hội dạy bảo, và đă trở thành một thứ “kinh điển đă thiết lập” [establsihed literature]. Hoặc, nói theo ngôn ngữ hiện đại, là nỗi buồn đứt ruột của những nhà y học đă t́m cách tái tạo [cloning] được một bào thai sơ khai, nhưng đang chịu đủ thứ búa ŕu dư luận (như bị kết án là kiêu ngạo, không tin ở Thượng đế, thiếu đạo đức, không chấp nhận và thách thức thuyết sáng tạo của đạo Ki-tô); có thể bị luật pháp ngăn cấm. Nên chẳng có ǵ đáng ngạc nhiên khi nghe lời ong tiếng ve về những tài liệu lịch sử mới phát hiện đó, như muốn “bêu xấu,” hay “nói xấu,” làm giảm uy tín các “lănh tụ” dưới thời Pháp thuộc, hoặc chính những người đang cai trị ở Việt Nam. Cũng chẳng ngạc nhiên khi thấy xuất hiện các “tác phẩm” của bầy cuồng tín tôn giáo và ư thức hệ, nhắm hạ nhục và nguyền rủa, vu cáo những người t́m sự thực.

Người trí thức lương thiện, dĩ nhiên, luôn ấm như Xuân mà lạnh như Thu trước lời lăng mạ, hay mưu mô chồn cáo của loài tinh tinh, và ngay cả bạo lực. Hành tŕnh vào tri thức và chân lư phải trả giá rất đắt. H́nh ảnh của Promotheus bị kền kền moi gan, móc mắt suốt 13 kiếp trên đỉnh núi Olympia v́ dám “đánh cắp lửa trời,” soi sáng cho trần gian, là cái giá phải trả ấy. Và, dĩ nhiên, núi lên càng cao, càng lạnh. T́m hiểu và công bố những tội ác xâm phạm nhân quyền của quốc dân Việt là điều không một người Việt nào có thể xao lăng; bất kể cái giá phải trả!

Trong tập Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I, kư tên thực Vũ Ngự Chiêu, tôi đă tŕnh bày trường hợp Petrus Key khá đầy đủ. Dựa trên tài liệu văn khố mà không phải những tác phẩm và nguồn tin đă xuất bản suốt hơn trăm năm qua (thường chỉ sao chép lại những lỗi lầm của người đi trước, rồi thêm thắt chỗ này, chỗ nọ, tự nhận của ḿnh), tôi  nghĩ những ǵ  viết về Petrus Key đă tạm đủ. Petrus Key, trong ḍng lịch sử quốc dân, chỉ là một tác nhân bản xứ phụ thuộc (thày kẻ giảng bỏ tu, làm thông ngôn và công tác văn hóa) trong chính sách xâm lăng và cai trị Việt Nam của người Pháp (1858-1945, 1945-1955). Sự khác biệt giữa những Petrus Key, Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu Bài, v.. v... chỉ là vấn đề lượng hơn phẩm, về h́nh thức [pathos] hơn thực chất [ethos]. Những lời đả kích, chụp mũ quàng xiên nhắm vào những người nghiên cứu sử nào đủ biến đen thành trắng? Phấn son nào đủ tô hồng, chuốt lục cho những khuôn mặt không thể chuốt lục, tô hồng? Dẫu vậy, người học sử nghiêm túc thường cố tránh phê b́nh, đánh giá trong các nghiên cứu của ḿnh, chỉ nỗ lực tái dựng sự kiện lịch sử, một cách trung thực tối đa, với những tài liệu có trong tay. Phán xét là của hậu thế. Nên, tôi đă chỉ dùng một thuật ngữ phi-chính-trị để mô tả họ: Thành phần trung gian bản xứ. Thuật ngữ này có thể dùng chung cho bất cứ một xă hội bị ngoại bang đô hộ hay chiếm đóng nào, trong bất cứ giai đoạn lịch sử nào.

Sở dĩ trong tâm bút Ngàn Năm Soi Mặt này phải trở lại vấn đề Petrus Key v́ hai lư do. Trước khi hoàn tất bộ Các vua cuối nhà Nguyễn, trong tập tâm bút Paris: Xuân 1996 (1997) kư tên Nguyên Vũ, tôi đă công bố một tài liệu then chốt trong cuộc đời sự nghiệp chính trị (và từ đó, văn học) của Petrus Key. Đóù là lá thư Petrus Key viết cho Hải quân Trung tá Jauréguiberry vào cuối tháng 3/1859, do Phụ tá Giám mục Borelle chuyển giao, tự tiến thân để làm thông ngôn cho Pháp, hoặc do tự nguyện, hoặc theo lời xúi dục của các bề trên, hoặc cả hai. Bức thư này đă được in lại phần nào trong nguyệt san Quốc Dân (xuất bản tại Houston) năm 1996 và tập Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I (1997, tr. 68). Có người không được đọc số báo hay tập sách trên, hoặc tảng lờ phóng ảnh tài liệu trong đó, đặt câu hỏi thực chăng có lá thư “nói xấu” Petrus Kư ấy. Một câu hỏi đầy khôi hài. V́ trong cuốn Paris: Xuân 1996, tôi trưng dẫn xuất xứ khá rơ ràng: Đóù là tư liệu của Jauréguiberry, hiện cất giữ trong Văn khố sử học Hải quân Pháp [Service historique de la Marine] tại Château de Vincennes. (Xem thêm Vũ Ngự Chiêu, Các vua, tập I, tr. 110, 130chú32, 297) Muốn biết tài liệu trên có thực hay chăng, một người trí thức lương thiện chỉ cần đến Château de Vincennes, hoặc nhờ thân hữu ở Paris kiểm chứng giùm. V́ chắc chắn không một nhà nghiên cứu nào có thể cho in lại toàn bộ những tư liệu văn khố ḿnh phát hiện.

Nhưng như trên đă nói, cảm nhận về lịch sử thường có tính cách thuyết phục hơn chính sự thực lịch sử. Người ta thường chỉ thích đọc và “khám phá” những ǵ ḿnh tin là sự thực hơn chính sự thực. Bản thân tôi vẫn chưa quên được sự phản kháng từ chính nội tâm ḿnh khi t́m thấy tập hồ sơ xin nhập học Trường Thuộc Địa (Ecole coloniale) Pháp, theo lối cổng hậu, của Nguyễn Tất Thành vào tháng 9/1911; hồ sơ hoạt động cho t́nh báo Liên Sô Nga, Trung Cộng, và t́nh báo Mỹ của Lin, Hồ Quang hay Lucius; hoặc công tŕnh của Quân ủy Trung Cộng, cùng các Tướng Trần Canh, Vi Quốc Thanh, “hóa phép” Vơ Nguyên Giáp thành một danh tướng; hồ sơ về việc Phạm Văn Đồng nh́n nhận lănh hải mới do Trung Cộng vẽ ra năm 1958 để có quân viện đánh chiếm miền Nam và 300,000 cố vấn Trung Cộng, v.. v... Hoặc, tài liệu lần đầu tiên tiết lộ về cuộc đảo chính cung đ́nh không đổ máu ngày 2/5/1933, cuộc từ chức ngày 18/7/1933 của Ngô Đ́nh Diệm (1897-1963) cùng âm mưu của các phe Ki-tô giáo chống lại kế hoạch “đại cải cách” của Toàn quyền Pierre Pasquier; lá thư đề ngày 21/8/1944, trong đó Giám mục Ngô Đ́nh Thục (1897-1984) xin Toàn quyền Jean Decoux nghĩ tới công lao hăn mă của cha ḿnh, Ngô Đ́nh Khả (như đă đào mả “rebelle“ [ngụy hay giặc] Phan Đ́nh Phùng ở Tây Bắc Quảng-b́nh năm 1896), mà nương tay với hai em Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Diệm; hay việc Ngô Đ́nh Nhu và Ngô Đ́nh Khôi thú nhận với Paul Arnoux, Tổng Giám đốc Cảnh Sát Đông Dương, rằng chế độ Bảo hộ Pháp là “bát cơm” [bol de riz] ḍng họ Ngô. Từ thái độ phản kháng âm thầm ấy—giống như h́nh ảnh một tù nhân bị giam giữ trong hang tối quá lâu, thường quáng mắt khi đột ngột bị lôi kéo ra ngoài trời rực nắng— đến sự rẫy rụa, ḥ hét giận dữ là lẽ tự nhiên. Hơn nữa, sau gần hai thế kỷ bị bưng tai, bịt mắt và tẩy năo bằng truyền đơn khẩu hiệu, trí óc nhiều người đă được điều kiện hóa trong khuôn khổ các truyền đơn khẩu hiệu ấy. Nên chỉ có trắng và đen. Có đạo và ngoại đạo. Thù và bạn. Cộng Sản và Quốc Gia. Yêu nước và Việt gian. Ta và địch. Phe ta và phe địch. Ta phải trường tồn, hay đẹp, địch phải xấu xa, cần bị tiêu diệt. Không c̣n một khoảng trống nào cho lẽ phải, hay sự suy lư vượt lên trên những dấu mốc nhị nguyên sỉn tanh dấu máu hận thù ấy. Con người bị hạ thấp xuống đâu đó gần con vật thí nghiệm của Pavlov. Chỉ cần một tiếng chuông gióng lên thôi đă có những biến chứng sinh học.

Bởi thế, tôi chỉ cười, khi có người tung tin rằng các tài liệu tôi t́m thấy là “giả mạo,” hay “sai lầm,” hoặc việc công bố có “dụng tâm” nếu không phải “có thiên kiến.” Là người nghiên cứu sử chuyên nghiệp, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm và sẵn sàng ghi nhận những sai lầm, nếu có, của ḿnh. Sai lầm nếu có trên, chỉ thuần do kỹ thuật, hoặc do tôi chưa có dịp tham khảo đầy đủ tư liệu, mà chẳng bao giờ do tiên kiến “xây dựng kỳ đài lịch sử” tưởng niệm, vinh danh, hay “đào mộ” vùi chôn một tác nhân nào. Hơn nữa, được huấn luyện chuyên nghiệp khá cao về sử học, tôi hiểu được tầm quan trọng của sự khách quan cũng như lương tâm nghề nghiệp. Nên tôi đă im lặng, cười, trước luận điệu chỉ trích hàm hồ, v́ tự hiểu riêng ḿnh nhất thời khó đủ sức lay chuyển, nói chi đập phá những kiến thức giả ngụy do các tài liệu tuyên truyền mạo danh là “sử”—Những tài liệu tuyên truyền viết từ những chân trụ đồng chơm chởm giáo mác của Mă Viện; từ “boong” chiến hạm hay nh́n nhắm dài theo ṇng những khẩu đại bác đen bóng của các thế lực thực dân; được “vẩy nước thánh” với những lời cầu nguyện trên những cây thập tự giá, hay, những tiếng “rao giảng” “thánh chiến,” “nghĩa vụ quốc tế” của những kẻ cuồng tín; hoặc, lanh lảnh tiếng reo ḥ, chiêng khua, trống gơ đệm nhịp cho các cánh tay giơ cao ngọn giáo, lưỡi mác của người bản xứ để tự ca ngợi sự oai hùng, vĩ đại của các chiến công “châu chấu đá voi.”

Như tôi đă cười, im lặng, khi một cháu bé 10-12 tuổi, con bà bạn mới từ Việt Nam qua Mỹ định cư, chỉ vào h́nh b́a tập Hồ Chí Minh, 1892-1969 bảo tôi “Bác sai rồi, cụ Hồ sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 mới đúng!” Bị nhồi sọ từ nhỏ những “sự thực giả ngụy,” đệm nhịp bằng những bài đồng ca như “đêm qua em nằm mơ thấy .... ,“ phản ứng của cháu con bà bạn dễ hiểu thôi! Giận, trách mới thực là sai lầm. Tôi tin rằng mai này khi lớn khôn lên, được đọc sách sử thế giới, cháu sẽ mỉm cười nghĩ đến chuyện cũ.

Như tôi đă cười, im lặng, khi thấy các tác giả tập Vàng Trong Lửa trong nước  cho rằng Nguyễn Thế Anh và tôi—qua tập Một Ngôi Trường Khác Cho Nguyễn Tất Thành—“không hiểu nổi hành tŕnh t́m đường cứu nước” của cậu Nguyễn Tất Thành, tức Hồ Chí Minh sau này. Một câu phê b́nh thuần túy để phê b́nh, hay chỉ với mục đích giới thiệu tựa sách của Nguyễn Thế Anh và tôi?

Và, như tôi cũng đă chỉ im lặng, cười, chẳng bận tâm đối đáp với vài ba kẻ cóp nhặt các tư liệu tôi đă sưu khảo được sau hai thập niên làm việc tại các văn khố, chép vào sách họ, tự xưng đă tham khảo các tài liệu văn khố trên. Rồi “bí ẩn” rông càn về tục kÿ húy, cuộc đảo chính không đổ máu ngày 2/5/1933, cao giọng cung văn những thành phần trung gian bản xứ theo đạo Ki-tô, v.. v.. (Nhưng v́ là của giả, trộm cắp vặt, vẫn không che dấu nổi sự dốt nát). Lại c̣n cao giọng vu cáo tôi là “phịa” ra những tư liệu đă phá vỡ thứ kiến thức ao tù, ruộng cạn, và/hay đạp đổ loại niềm tin kiểu b́nh nước cạn, mặn chát tại các góc tối tăm của Nguyên Hồng trong Những nhân vật ấy đă sống với tôi.

[Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, trong tập II bộ Thực chất Giáo hội La Mă, đă có vài chương dành riêng cho hiện tượng “ziết sử” thế-giới-thứ-ba này].

Tôi không có và không muốn phí  th́ giờ với loại mà Giáo sư Quang gọi là côn-đồ-văn- hóa, chẳng những thiếu kiến thức sử học, mà c̣n hàm hồ đầy tư tâm. Nhưng thái độ của tôi hẳn đă khác nếu lời cáo buộc trên do một người học sử chuyên nghiệp đưa ra. Tôi sẵn sàng tranh luận, trong nguyên tắc và lư lẽ tối thiểu của một cuộc tranh luận sử học: Muốn có một nhận định nào về tư liệu sử học, cần tŕnh bày rơ sự đúng/sai của tư liệu ấy, và trưng dẫn những bằng chứng khả tín cần thiết để tán đồng hay phản đối.

Từ ngày ra hải ngoại, tôi chọn cho ḿnh ba bút hiệu. Tên thực, Vũ Ngự Chiêu, kư dưới các biên khảo sử học. Chính Đạo để viết những nghiên cứu nhẹ tính chất kỹ thuật hơn. Và, Nguyên Vũ, như một nối dài của nghề nghiệp sáng tác cũ, từ quê nhà. Các tác phẩm kư tên Nguyên Vũ thường là tư duy của tác giả về người, việc và vật phải gặp gỡ, chứng kiến, đầy tính cách cá nhân. Ba bút hiệu trên liên hệ với nhau, và chắc hẳn luôn luôn lấy sự thực làm đường đi, dù có dị biệt về phân loại của các tác phẩm. Những tác giả thận trọng thường phân biệt kỹ càng khi trích dẫn tác phẩm của tôi. Nhưng có người cố t́nh nối ba bút hiệu làm một, như “sử gia” Nguyên Vũ, cho mục tiêu nào đó.

Cũng nên thêm về hai chữ “sử gia” trong ngoặc kép trên. Theo tiêu chuẩn quốc tế, hoặc ít nữa ở Mỹ và Pháp, sử gia (historian) là người có bằng Tiến sĩ về ngành sử học rồi tiếp tục nghiên cứu hoặc giảng dạy ngành này. Nó là một học vị không thể tự xưng hay phong cho một ai đó theo ư thích riêng của ḿnh. Chẳng hiểu người viết hai chữ “sử gia” Nguyên Vũ có hàm ư ǵ? Tôi không có bằng Tiến sĩ Sử học chăng? Hay tôi không tiếp tục nghiên cứu và viết sử suốt 17 năm qua, sau ngày tốt nghiệp? Cách nào đi nữa, cũng chẳng đáng quan tâm. Tôi vẫn nghĩ danh chỉ là khách của thực, và thường muốn tự coi ḿnh như một người học sử. Tước vị sử gia hay những bằng cấp với tôi thật vô nghĩa, dù chúng là những tấm thông hành giúp tiến xa hơn trên hành tŕnh vào tri thức.

Trở lại với những chi tiết viết về Petrus Key trong tập Paris: Xuân 1996. Do lỗi kỹ thuật, khi đánh máy (trang 70, ḍng 7) mất hàng chữ “thập niên 1920, chế độ Bảo hộ Pháp, và rồi,” nên chỉ c̣n “từ năm 1946, chính phủ Nam Kỳ Tự trị của Y sĩ Nguyễn Văn Thinh đă lấy tên Petrus Kư đặt tên trường trung học bản xứ lớn nhất Sài G̣n.” Giáo sư Trần Thượng Thủ, nguyên giáo chức trường Petrus Kư, ở Houston, và Y sĩ Trần Ngươn Phiêu từ miền Tây Bắc Texas đă nhắc tôi lỗi kỹ thuật này sau khi sách ra đời. Xin cảm tạ, và nhân đây xin độc giả đă mua sách sửa lại giúp.

Ngoài ra, trong sơ thảo Các vua cuối nhà Nguyễn, tập I, tôi đă sử dụng tài liệu của các nhà truyền giáo nên những đoạn nói về vụ án Hoàng tôn Đán không được nhất quán (tr. 52, 57). Khi nói về cuộc nổi dạy của “Lê Văn” Khôi tôi c̣n  ghi lại lỗi lầm của một số tác giả đi trước, rằng Khôi là “con nuôi của Lê Văn Duyệt” (tr. 81, chú 23). Tên thực của cố Trường, Th. Le Grand de la Liraye, đă viết không nhất quán (thiếu chữ “La”; tr. 169, ḍng 12, tr. 172, ḍng 16,21,24). Nay muốn mượn chương viết về Petrus Key, công bố rơ sai lầm của ḿnh. Mong độc giả đă có trong tay tập I Các vua cuối nhà Nguyễn (ấn bản 1999 mà chưa kịp có phần Đính chính) lượng t́nh sửa giúp [Xem đoạn dưới].

Đa tạ.

 

Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Kư, P.J.B. Trương Vĩnh Kư, Sĩ Tải Trương Vĩnh Kư, hay Petrus Kư, thường được coi như một đại văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” (Xem, chẳng hạn, Nguyễn Văn Trấn, Trương Vĩnh Kư [Con người và sự thật], Sài G̣n: 1993, tr. 7) Dưới thời Pháp thuộc, rồi Cộng Ḥa Nam Kỳ Quốc, Quốc Gia Việt Nam, và Việt Nam Cộng Ḥa, người ta lấy tên Petrus Key (Kư) đặt cho trường trung học công lập lớn nhất ở Sài G̣n, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương tŕnh giáo dục nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân), được đặt tên cho trường học công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; v́ nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.

Thực chất, chúng ta biết rất ít về Petrus Key. Hầu hết chi tiết về gia đ́nh,  thân thế và hoạt động chính trị của Petrus Key đều chịu ảnh hưởng chung của hai trào lưu trong nước: Đóù là “cung văn”“đào mộ.” Tuy nhiên, đă hơn 100 năm qua sau ngày Petrus Key nằm xuống, xúc động về lập trường chính trị hợp tác-kháng chiến, đạo-ngoại đạo, hay yêu-ghét đă lắng dịu, đủ để các nhà nghiên cứu tái dựng lại vai tṛ Petrus Key trong lịch sử.

 

Petrus Key hay Petrus Kư?

Trước hết, cần minh định tại sao tôi dùng tên “Petrus Key” mà không “Petrus Kư” trong bài viết này.

Như chúng ta đă biết, các tài liệu viết về Trương Vĩnh Kư thường đặt trước tên ông một bí danh Latin khác là Petrus, Pétrus, hoặc kèm cả tên thánh “J.B.” tức Jean-Baptiste [Gioan Bao-xi-ta]. Người Pháp, khi viết về Petrus Key, thường ghi Pétrus Kư hay Petrus Kư. Đây có thể do cách gọi đặt  tên trước họ theo kiểu Âu Mỹ, nhưng lược bỏ những chữ “J.B. Trương Vĩnh.” Cách gọi tên này c̣n hàm ư ông ta theo đạo Ki-tô. Petrus Kư cũng có thể tiêu biểu thói quen gọi tên kép quen thuộc tại miền Nam, như “Paulus [San],” “Simon Của,” “André Đôn,” “Raymond Khánh,” v.. v.... Nhưng tài liệu do tôi phát hiện năm 1996 cho thấy năm 1859, người mà chúng ta sau này biết là Trương Vĩnh Kư tự xưng, được đặt hay tự đặt cho ḿnh tên “Petrus Key,” không có ba chữ Trương Vĩnh Kư kèm theo tên Petrus Key. Cho tới năm 1863, tài liệu Soái phủ Pháp vẫn ghi “Petrus Key,” trong khi phần Hán tự ghi thêm là Trương Vĩnh Kư. (Xem Chính Đạo, Hồ Chí Minh, 1892-1969, tập I: 1892-1924, tr. 68; Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối, tập I, tr. 297)

Sử dụng tên Petrus Key, như thế, trước hết không những chính xác hơn tên Petrus Kư hoặc Pétrus Kư, mà c̣n tôn trọng ư nguyện của ông ta. Thứ nữa, dùng tên Petrus Key c̣n có hàm ư kêu gọi những nỗ lực nghiên cứu thêm về gia thế ông. Các nhà “Petrus Key học” tương lai nên t́m hiểu, một cách rơ ràng chính xác mà đừng suy đoán vu vơ, là tại sao Petrus Key sau này đặt tự khai (hoặc lấy lại) tên Trương Vĩnh Kư? Phải chăng “Trương Vĩnh Kư” chỉ là tên Việt hóa của Petrus Key, cho những mục tiêu nào đó (như bỏ tu, lấy vợ, trở lại xă hội)? Hay, Petrus Key đơn giản chỉ là bí danh đầu tiên của “Trương Vĩnh Kư,” như chúng ta thường hiểu?

Khi đă lớn tuổi, Petrus Key c̣n dùng tên hiệu “Sĩ Tải” Trương Vĩnh Kư. (Xem h́nh ở đầu bài; Nguyễn Văn Trung, Trương Vĩnh Kư Nhà văn hóa [Hà Nội: 1993], b́a sau). Tuy nhiên, hầu hết các sách của Petrus Key vẫn đề “P.J.B. Truong Vinh Ky.”

[Xem, chẳng hạn, Cours d’ơhistoire annamite à l’ơusage des écoles de la Basse Cochinchine, par P.J.B. Truong Vinh Ky, 1ère édition, Saigon, Impr. du Gouvernement, 1875-1877; hiện tàng trữ tại Thư Viện Quốc Gia Pháp, Paris, với danh số [cote] LK10-102 (1); nhưng tập II đóng lên trước tập I. Ngoài ra, c̣n có 27 cuốn khác; kể cả 2 bản Abrégé de grammaire annamite (1867, 1924), 1 bản Grammaire de la langue annamite (1883), 1 bản Cours pratique de langue annamite (1868), 2 bản Mẹo luật dạy học tiếng Pha-lang-sa: tóm lại văn vắn để dạy học tṛ mới nhập trường (1867, 1872), 1 bản Dictionnaire francais-annamite (1878), 2 bản Petit dictionnaire francĂais-annamite (1884, 1920), 2 bản Poème Kim Vân Kiều truyện (1875, 1889), 1 bản Lục vân tiên truyện (1897), 1 bản Lục súc tranh công (1887), 1 bản Poèmes populaires annamites (1889), 1 bản Huấn mông khúc ca: sách dạy trẻ nhỏ học chữ nhu (1884), 1 bản Tam tự kinh quốc ngữ diễn ca (1884), 1 bản Voyage au Tonking en 1876 (1881). Tác giả cảm tạ Luật sư Trần Thanh Hiệp đă cung cấp bản danh sách trên, cũng như đă ưu ái giúp kiểm lại những chi tiết cần tra cứu khi sách được hiệu đính lần chót vào tháng 12/2001. Gia đ́nh của tác giả, vào tháng 1/2002, cũng t́m được một bản phóng ảnh tập II cuốn Cours d’ơhistoire annamite.]

V́ Petrus Key là người của hai nền văn hóa—đúng hơn, hai nền văn hóa rưỡi, tức văn hóa thuộc địa/bảo hộ  Pháp, thần quyền Ki-tô Vatican, và văn hóa Trung cổ Việt đang suy thoái—gọi Petrus Key bằng bất cứ tên nào đều có thể chấp nhận được. Nhưng để tôn trọng tâm nguyện của Petrus Key [Trương Vĩnh Kư], xuyên suốt bài viết này tôi sẽ dùng tên Petrus Key hay Trương Vĩnh Kư, hoặc “P.J.B. Truong Vinh Ky” mà không ghi “Petrus Kư” hoặc “Pétrus Kư”. Với ai đó, cái tên “Petrus Key” có thể hơi “lạ,” nhưng cách ghi này chỉ là nguyên tắc thông thường thôi. Nên trả lại cho Cesar những ǵ của Cesar, vật hoàn cố chủ, theo đúng nghĩa đen của chữ.

Sơ Lược về những tài liệu giúp nghiên cứu Petrus Key:

Cho tới hiện nay, quan điểm và mục tiêu chính trị giai đoạn vẫn ảnh hưởng mạnh trên hầu hết các tác phẩm viết về Petrus Key.

Khối văn chương “cung văn” [hagiographies] có bốn nguồn chính: tài liệu truyền giáo, các tác giả Pháp, cựu học sinh hay giáo chức trường Petrus Kư, và những người muốn mượn tên tuổi Petrus Key làm hậu thuẫn chính trị.

Về tài liệu truyền giáo, tiêu biểu có Pierre Khorat với bài “Les personalités annamites catholiques [Những nhân vật An-nam-mít có đạo Ki-tô]” trong cuốn Annales de la Société des Missions Etrangères [Niên giám Hội truyền giáo hải ngoại] năm 1913 (tr. 243-9). Trong bài này, Khorat ca ngợi Petrus Key như một trong bốn giáo dân Ki-tô góp công lớn trong việc thiết lập nền bảo hộ Pháp, bên cạnh Linh mục Trần Lục (Père Six, cánh tay bản xứ của Giám mục Paul Puginier, người tự nhận là cầm đầu hệ thống t́nh báo dân gian), Huyện Sỹ Lê Phát Đạt (ông ngoại cựu Hoàng hậu Nam Phương), và Tổng đốc Trần Bá Lộc (cấp chỉ huy quân sự bản xứ lừng danh từ Nam Kỳ ra tới B́nh Thuận trong các chiến dịch b́nh định của quân viễn chinh Pháp).

Vài tác giả Pháp cũng viết về Petrus Key như Henri Cordier (“Pétrus Truong Vinh Ky;” T’ơoung Pao, Séries II, 1 (1900), tr. 261-8) để tưởng nhớ ông, và đặc biệt là Jean Bouchot, một viên chức quản thủ văn khố [archivist]. Bouchot bỏ ra một thời gian dài thu thập tư liệu của gia đ́nh Petrus Key hầu viết tiểu sử ông (Petrus J. B. Truong Vinh Ky, 1837-1898, Saigon, Paulus Cua, 1927), v.. v... Đây quả là vinh dự cá nhân cho Petrus Key. Nhưng, đồng thời, những tư liệu trên cũng hùng hồn chứng minh vai tṛ trung gian bản xứ ngoại hạng mà Petrus Key thủ diễn trong cuộc xâm lăng và b́nh định xứ Nam Kỳ của Pháp, cũng như mở rộng cuộc xâm lăng ra Bắc và Trung Kỳ (1859-1886), hay sát nhập nước Ai Lao vào Liên bang Đông Dương thuộc Pháp (1893).

Cựu học sinh và giáo chức trường Petrus Kư lên tới hàng chục ngàn người, gồm nhiều khoa bảng và viên chức cao cấp từ thời Pháp thuộc tới Việt Nam Cộng Ḥa, và rồi chủ nghĩa xă hội hiện nay. Một số người này không thể không viết tốt về nhân vật đă được đặt tên cho ngôi trường thuở ấu thời và thanh thiếu niên của họ. “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy,” như một nhà thơ từng viết. (Xem, chẳng hạn, Nguyễn Thanh Liêm, Trường trung học Pétrus Kư và nền giáo dục phổ thông Việt Nam [n.d.]) Một số tác giả miền Nam c̣n mang tâm trạng “tôn sùng vĩ nhân” bản xứ. Trường hợp tiêu biểu nhất là hai tác giả Viên Đài & Nguyễn Đồng, qua bài “Nhân ngày giỗ thứ 60 P.J.B. Trương Vĩnh Kư: Người đă mở đầu một kỷ nguyên văn học Việt Nam mới” (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43-57). Rất tiếc chẳng những không giúp được ǵ cho sự hiểu biết thêm về cá nhân Petrus Key hay sự triển biến tư tưởng ông ta, hai tác giả trên chỉ đóng góp được một phụ bản chữ kư của “P. Trương Vĩnh Kư” vào ngày 23/7/1872, và bản danh sách 127 [trong số “143”?] tác phẩm mà hai tác giả đoán rằng Petrus Key đă biên soạn. (Ibid., 40:54) C̣n lại, thuần những dữ kiện mờ tối, cần kiểm chứng và truy cứu thêm mà Bouchot và các tác giả khác đă ghi từ năm 1927. (Xem phần dưới)

 Đáng quan tâm hơn nữa là đôi ba người không những chỉ coi như “chân lư” các dữ kiện “cung văn” kiểu Petrus Key thông hiểu “26 thứ tiếng,” Petrus Key là nhà “đại ái quốc,” (Pierre Vieillard, “Un grand patriote  Pétrus Kư;” France-Asie, ngày 15/2 & 15/3/1947), Petrus Key tượng trưng cho t́nh thần bất khuất, nh́n xa thấy rộng, “muốn tự trị” của xứ Nam Kỳ lục tỉnh, v.. v..., mà c̣n ra công bảo vệ thứ “chân lư giả ngụy” này bằng mọi giá. (Nguyễn Văn Trấn, 1993)

[Một tác giả trong nước, mới đây c̣n tiểu thuyết hóa cuộc đời Petrus Key, hết lời cung văn cho việc hợp tác với quân viễn chinh Pháp, coi đó là một hành động yêu nước. Theo đúng thủ thuật cung văn quen thuộc của các chế độ chuyên chính, và được sự cổ vơ của vài ba nhân vật quyền thế như Sáu Dân Vơ Văn Kiệt, tác giả này cho Petrus Key từ thuở lên bốn, lên năm đă đọc tứ thư, ngũ kinh (chỉ dành cho những khóa sinh chuẩn bị thi Hương hay thi Hội); đọc Thánh kinh (Bible) viết bằng tiếng Latin từ lúc chưa đầy tám, chín tuổi, dù ngay đến các giáo sĩ Pháp cũng rất ít khi, nếu chẳng phải chẳng bao giờ được quyền mang theo Thánh kinh đi giảng đạo (họ chỉ mang theo sách giảng tám ngày, sách lễ và đại loại); tảng lờ hoặc không biết đến những báo cáo do đích tay Petrus Key viết tŕnh lên thượng cấp người Pháp; bịa đặt ra những cảnh giáo dân Ki-tô bị quan quân đập chết bằng vồ, con nít bị xé xác làm nhiều mảnh trong các chiến dịch bài đạo của vua Minh Mạng, v.. v... (dưới dạng ngủ mơ); có lẽ với mục đích bảo vệ quyết định của Sáu Dân thay tên đường Thái Văn Lung bằng Alexandre de Rhodes, rồi cho lập trường trung học tư (dân lập) Petrus Kư. Loại phóng bút hoang tưởng này bất chấp những sự thực lịch sử như Việt Nam, đặc biệt là đất Đàø Nẵng/Hội An, đă dung chứa hàng trăm giáo sĩ và giáo dân Nhật trốn chạy cuộc thảm sát Ki-tô ở Nhật trong giai đoạn 1597-1624; mở rộng ṿng tay đón nhận những giáo sĩ Ki-tô “Ḥa Lan” đầu tiên như Francesco Buzomi (Italia), Diego Carvalho (người Portugal), Antonio Diaz (người Espania), cùng hai người Nhật Joseph và Paul từ ngày 18/1/1615; rồi đến các giáo sĩ Andrea Fernandez (Portugal, 1615), Francisco Mareto (Portugal), Francesco di Pina (Italia, 1617), Christoforo Borri (Italia, 1618); và cho phép họ mang thông ngôn đi hỏi người Việt, “Con Gnoo muon bau lom laom Hoa laom chỉa?” (Con nhỏ muốn vào trong ḷng Ḥa Lan chưa?) (Hồng Lam & Léopold Cadière, Lịch sử đạo Thiên chúa ở Việt Nam [Huế: Đại Việt, 1944], tr. 169-75 [Việt ngữ]). Tại Đàng Ngoài, chúa Trịnh cũng vậy. Trên thực tế, vua chúa Việt không hề tắm máu giáo dân Ki-tô như vua chúa Nhật, mà thường chỉ trừng trị hàng giáo sĩ hay giáo mục bản xứ. Cổ nhân thường dạy “Dậu đổ, b́m leo,” là vậy!]

Trong số người muốn dùng Petrus Key để bày tỏ quan điểm chính trị của ḿnh có các ông Hồ Hữu Tường và Nguyễn Văn “Bảy” Trấn, cựu đao thủ phủ đất Chợ Đệm trong hai năm 1945-1946.

Qua bài “Hiện tượng Trương Vĩnh Kư: Từ người trí thức tới kẻ sĩ phu” đọc tại Sài G̣n và đăng lại trên báo Bách Khoa năm 1974, Hồ Hữu Tường  đưa ra những biện hộ tương đối ôn ḥa nhất, dù ông Tường chẳng sử dụng được một tài liệu nào mới, và dữ kiện đưa ra thường không đúng sự thực. (Hồ Hữu Tường, “Hiện tượng Trương Vĩnh Kư hay là hóa tŕnh từ người trí thức đến kẻ sĩ phu;” Bách Khoa (Sài G̣n), M [1974], tr. 15-22) Gần 20 năm sau, trong tập Trương Vĩnh Kư in năm 1993, ông “Bảy” Trấn giải thích rằng chữ “người Pháp” (mà Petrus Key cổ vơ thúc dục người Việt phải đưa cả hai tay ra mà bám chặt lấy để đứng lên) trong thư từ hay báo cáo Petrus Key viết cho các viên chức Pháp phải hiểu rộng thành “Tây phương.” (Trương Vĩnh Kư, 1993, tr. 17; Báo cáo ngày 28/4/1876, P. Truong Vinh Ky gửi Amiral Duperré). Lối giải thích quá rộng răi này, dù với hàm ư ǵ đi nữa, có thể khiến ông Petrus Key phải dơ tay phản kháng từ đáy mồ. (V́ Petrus Key rất hănh diện được làm thần dân của một quốc gia mới là nước Pháp; Xem, Cours dơhistoire annamite, tập II [1879?], tr. 252, 278) Giáo sư Nguyễn Thanh Liêm, vào khoảng năm 1995, th́ trích dẫn lại hầu hết những lời xưng tụng nhà giáo dục Petrus Key mà không kiểm chứng mức độ khả tín của tư liệu, và nhất là quên đi khía cạnh chính trị của nền giáo dục thuộc địa ấy. (Nguyễn Thanh Liêm, op. cit., tr. 11-22)

Dĩ nhiên, nhiều cựu học sinh trường Petrus Kư biết rất rơ vai tṛ đích thực của Petrus Key cũng như khả năng ngôn ngữ và vai tṛ “văn hóa” của ông, nhưng họ đă chọn thái độ im lặng. Chẳng ai muốn khuấy bùn làm đục nước ao. Khả năng và tinh thần yêu nước của các cựu học sinh trường Petrus Kư chẳng liên quan ǵ tới vai tṛ lịch sử hay tài năng của Petrus Key, một cá nhân đă được chính quyền Bảo hộ đặt làm tên trường học của họ (và họ không có một lựa chọn nào hơn phải chấp nhận). Họ phân biệt rơ ràng giữa “tinh thần trường Petrus Kư” và “tinh thần Petrus Key.” Hàng trăm, nếu không phải hàng ngàn, cựu giáo chức và học sinh trường Petrus Kư đă đổ máu hay hy sinh mạng sống trong cuộc đấu tranh kháng Pháp, giành độc lập, giương danh quốc dân và đất nước Việt trên thế giới, hoàn toàn trái ngược với lời hô hào hăy đồng hóa quyền lợi của người An-nam-mít với quyền lợi Đại Pháp mà Petrus Key đề xướng—hai thứ quyền lợi khác nhau như nước với lửa.

Cũng có tác giả nghiêng về khuynh hướng “đào mộ,” thích gọi Petrus Key bằng những tiếng xúc phạm nặng nề như “Việt gian,” “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp,” v.. v... Từ thập niên 1960, tại miền Bắc đă công khai dùng tiếng này. (Xem Tô Minh Trung, “Trương Vĩnh Kư: tên tay sai đắc lực đầu tiên của chủ nghĩa thực dân Pháp trong lịch sử ta;” Nghiên cứu lịch sử (Hà Nội), Bộ 65, số 2 (1964), tr. 43-6; Mẫn Quốc, “Trương Vĩnh Kư: một nhà bác học trứ danh đă ngang nhiên đóng vai đặc vụ t́nh báo, làm tay sai đắc lực cho thực dân Pháp;” NCLS, Bộ 60, số 3, 35-8) Tại miền Nam, một số tác giả cũng đặt lại vai tṛ Petrus Key trong lịch sử. Tiêu biểu nhất có những bài viết trên bán nguyệt san Bách Khoa của Nguyễn Sinh Duy [8/1974] và Phạm Long Điền [11/1974]. Hai tác giả Nguyễn Sinh Duy và Phạm Long Điền đă trả lời khá xuất sắc cung văn của ông Hồ Hữu Tường về Petrus Key.

Vào thập niên 1990, con người và tác phẩm Petrus Key lại được đem ra mổ xẻ. Phần v́ có thêm những tư liệu mới. Phần v́ có nỗ lực chính trị để thiết lập một trường trung học dân lập (tư thục) mang tên Petrus Kư tại Sài G̣n. Ngoài ra, c̣n âm mưu bành trướng ảnh hưởng của một thiểu số giáo mục và giáo dân Ki-tô tham vọng. Tôi không theo dơi kỹ những cuộc tranh luận này v́ vài lư do.

Trước hết, tôi không nuôi tham vọng làm một “nhà Petrus Key học.” Những tư liệu t́m được về Petrus Key chỉ rất t́nh cờ. Hơn nữa, vai tṛ lịch sử của Petrus Key đă được xác định, từ lâu: một trong những khai quốc công thần của nền bảo hộ Pháp; nhưng vẫn chỉ là một thành phần trung gian bản xứ “được khai hóa.” (Chỉ cần nh́n vào hàng huy chương trong di ảnh Petrus Key đủ chứng minh điều này: Nào là Bắc đẩu Bội tinh, Long Khánh Bội tinh, v.. v...)

Thứ hai, tôi hiểu rằng với các sử quan Cộng Sản, mọi nghiên cứu sử học chỉ nhằm phục vụ mục tiêu chính trị giai đoạn của Đảng Cộng Sản và Nhà nước Xă hội Chủ nghĩa. Những kết luận lớn và nhỏ của các sử quan (chưa hẳn đă là sử gia) trong nước, bởi thế, chẳng nên bận tâm. V́ chúng sẽ được thay đổi hay bỏ quên khi cần. Chỉ so sánh những tài liệu sử quan Cộng Sản viết về Trung Quốc trong thập niên 1950 và 1960, với những ǵ họ công bố từ năm 1980 tới 1990, rồi những ǵ họ đang viết vào đầu thế kỷ XXI (và ngược lại) đủ hiểu thân phận và nỗi buồn của người nghiên cứu c̣n đôi chút lương thiện trí thức tại quốc nội. Nói cách khác, kết luận của những buổi hội thảo về Petrus Key ra sao đi nữa chẳng đóng góp ǵ nhiều cho kiến thức sử học.

Tuy nhiên, một trường hợp đặc biệt cần ghi nhận. Đó là trường hợp cuốn Trương Vĩnh Kư: Nhà văn hóa của Nguyễn Văn Trung (Hà Nội [?]: Nhà văn, 1993). Một thời, nhóm Giáo sư Trung (trí thức Ki-tô tiến bộ) đả kích cả hai ông Petrus Key và Phạm Quỳnh khá nặng. Nhưng trong tập sách mới trên, ông Trung tự nhận đă thay đổi quan điểm. (Ibid., tr. 49, 137) Sự thay đổi này có lẽ do mục đích chính trị giai đoạn hơn văn hóa. Trước hết, Giáo sư Trung ra công sưu tập được một số tư liệu nguyên bản của Petrus Key tại Sài G̣n và Hà Nội—như danh sách 141 tác phẩm do chính Petrus Key tự liệt kê vào năm 1892 (Ibid., tr. 109-131), danh sách 7 ngoại ngữ Petrus Key từng học hỏi ghi trong hồ sơ cá nhân ông (anglais, franỄais, espagnol, italien, malais, cambodgien, latin; Ibid., tr. 138), hay phân tích khá kỹ lưỡng tờ học báo ít người chú ư, tức nguyệt san Thống Loại Khóa Tŕnh (Miscellanées ou Lectures instructives pour les élèves des écoles primaires, communales, cantonales et les familles) trong hai năm 1888-1889 (loại tài liệu dạy trong bộ môn khoa học, hay cách trí thường thức). Ông Trung cũng tham khảo những bài viết về Petrus Key của một số tác giả, như Lê Thanh, Nguyễn Văn Tố, và một cây bút ít ai biết như Pierre Vieillard [Villard?], v.. v... Nhưng v́ mục đích “kéo” Petrus Key về với văn hóa Việt Nam, ông Trung mất đi thế đứng trung dung của người nghiên cứu, để lộ vài kẽ hở kỹ thuật. Một trong những nhược điểm này là ông Trung tránh phân tích nội dung một số tác phẩm của Petrus Key như bộ Bài giảng sử An-Nam-mít, v.. v... Giáo sư Trung chỉ ghi nhận sơ sài rằng ông Petrus Key đả kích các vua Nguyễn một cách “nghiêm khắc.” Thực ra, trong tập “giáo khoa sử” trên, Petrus Key không những chỉ “nghiêm khắc” với các vua nhà Nguyễn mà c̣n bịa đặt ra, hoặc sao chép lại những lời bịa đặt của người khác, cho mục đích chính trị nhất thời. Thí dụ như không hề có việc ông Nguyễn Văn Thành [mà Petrus Key viết thành Nguyễn Văn Thiềng] làm “vice-roi” [Phó vương] miền Bắc, bị vua Minh Mạng hại chết (Tome II:260); hay việc Minh Mạng giết hai con Hoàng tử Cảnh và chị dâu sau khi khiến chị dâu góa bị mang thai.(Tome II:259-60; xem thêm phần dưới) Hai Hoàng tử của vua Thiệu Trị không phải là “Hoàng Bảo” và “Hoàng Nhậm”; tên đệm của họ là “Hường.” Từ thời điểm này nh́n lại những lời bịa đặt, chỉ trích đầy sai lầm về dữ kiện ấy chẳng xứng đáng chút nào với lời “cung văn” của ông Nguyễn Văn Tố như “science, conscience, modestie” [khoa học, lương tâm, khiêm tốn]. (“Pétrus Kư (1873-1898); Bulletin de la Société d’ơEnseignement Mutuel du Tonkin [Thành tích biểu Hội Truyền bá chữ quốc ngữ Bắc Kỳ], Tome XVII, Nos. 1-2, Janvier-Juin 1937; dẫn trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 49, 197-8. Tại Thư viện Quốc Gia Pháp có tựa sách này, nhưng hiện nay không được phép tham khảo v́ đă “không sử dụng được”) [Xem thêm phần sau]. Và dĩ nhiên, khó thể  giúp xếp loại Petrus Key là “sử gia trung thực và có lương tâm” [historien fidèle et consciencieux] như ông ta tự nhận (Tome II:251), hay được “cung văn”.(Nguyễn Văn Trấn, 1993, tr. 45)

Ông Trung c̣n tránh đề cập đến khía cạnh “tài tử” trên lănh vực ngôn ngữ học của ông Petrus Key; hoặc đúng hơn, chưa phân biệt rơ ràng khía cạnh “thực dụng” của khả năng ngoại ngữ (thông ngôn, giáo viên dạy tiếng Việt và Pháp) và “lư thuyết” ngôn ngữ học mà Petrus Key không hoặc chưa có dịp thảo luận. Tôi nghĩ những ghi chép vỏn vẹn 1, 2, 3 hay 5, 10 trang về một ngôn ngữ chưa đủ phản ảnh, hay chưa đủ số lượng tư liệu để lượng giá, khả năng hiểu biết của tác giả về ngôn ngữ ấy. Và, gọi là “tác phẩm” th́ hơi quá đáng.

Hơn nữa, ông Trung cố lư luận rằng Giáo sư trường Thông ngôn và rồi Tập sự Hành chính (hay, “Hậu bổ” nếu muốn) đă trở thành một nhà ngôn ngữ học—có lẽ do những chữ linguiste hay philologue ghi trong hồ sơ cá nhân Petrus Key—dù chính ông chưa được đọc những tựa sách như Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales [Bàn về sự tương đồng trong các ngôn ngữ và cách viết Ầông phương]; Analyse comparée des principales langues du monde [Phân tích tỉ đối các ngôn ngữ chính trên thế giới]; Etude sans titre sur les langues de la Pennisule indochinoise [Nghiên cứu không có tựa đề về các ngôn ngữ ở bán đảo Đông Dương]; Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les moeurs de l’ơIndochine [Nghiên cứu tỉ đối về ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng và phong tục Ầông Dương]; Combinaisons des systèmes conventionnels des écritures idéographiques, hiérogliphiques, phonétiques et alphabétiques [Sự phối hợp những hệ thống qui ước về các lối chữ viết hội ư, kư hiệu (giống như chữ cổ Eá-gípt), ghi âm và bằng mẫu tự La-tin]; hay Etude comparée des écritures et des langues des trois branches linguistiques [Nghiên cứu tỉ đối về ba ngành ngôn ngữ học].

Chưa một ai cho biết  mỗi cuốn trong 6 tựa sách trên dày bao nhiêu trang, nội dung ra sao. Cuốn Essai sur la similitude des langues et des écritures orientales [Bàn về sự tương đồng trong các ngôn ngữ và cách viết Đông phương] c̣n dưới dạng bản thảo, được Giáo sư Elucian Luro nhắc đến năm 1872, và in lại trong Thành tích biểu Hội Giáo dục Đông Dương (BSEI, tome XV, No. 1-2, 1er & 2è trimestre 1940, tr. 73).  Bản thảo Analyse comparée des principales langues du monde [Phân tích tỉ đối các ngôn ngữ chính trên thế giới] do ông Nguyễn Văn Tố nhắc đến năm 1937 trong Thành tích biểu Hội Truyền bá Quốc Ngữ Bắc Kỳ (BSEMT, tome XVII, No. 1-2, Janvier-Juin 1937, tr. 37). Bản thảo Etude sans titre sur les langues de la Pennisule indochinoise [Nghiên cứu không có tựa đề về các ngôn ngữ ở bán đảo Đông Dương] do ông Lê Thanh nhắc đến trong cuốn Trương Vĩnh Kư, in tại Hà Nội năm 1941. (Có lẽ là tập ghi chép 33 trang trao tặng cho Viện Khảo cổ Sài G̣n năm 1958). Tương tự, ba bản thảo Etude comparée sur les langues, les écritures, les croyances et les moeurs de l’ơIndochine [Nghiên cứu tỉ đối về ngôn ngữ, chữ viết, tín ngưỡng và phong tục Đông Dương]; Combinaisons des systèmes conventionnels des écritures idéographiques, hiérogliphiques, phonétiques et alphabétiques [Sự phối hợp những hệ thống qui ước về các lối chữ viết hội ư, kư hiệu (giống như chữ cổ Eá-gípt), ghi âm và bằng mẫu tự Latin]; và Etude comparée des écritures et des langues des trois branches linguistiques [Nghiên cứu tỉ đối về ba ngành ngôn ngữ học] chỉ thấy ghi trong thư mục chép tay của Petrus Key năm 1892, nhưng chưa ai được tham khảo. H́nh dạng sách hay bản thảo chưa hề thấy, nội dung sách hay bản thảo chưa được đọc mà cứ nhắm mắt lại khen nức nở, sợ có thái quá chăng?

Đoạn nói về “Nghiên cứu nguồn gốc chữ viết Việt Nam” của Petrus Key, ông Trung dẫn hai cuốn Sách mẹo Annam, Abrégé grammaire annamite (1867, 1924) và Ecriture en Annam [Chữ viết ở An-Nam] để giới thiệu “thuyết” của Petrus Key rằng “chữ cổ Việt” vốn “ghi âm” [phonétique] hơn “tượng h́nh.” Lời vơ đoán này chẳng dựa trên bằng chứng cụ thể nào ngoài câu tuyên bố vu vơ như dấu khắc t́m thấy trên đá núi Dahia. (Trương Vĩnh Kư, Sách mẹo An-Nam, Abrégé grammaire annamite, [Sai Gon, 1867], phần mở đầu; và “écriture en Annam;” BSEI, année 1888, 1er semestre, tr. 5; dẫn trong Nguyễn Văn Trung, 1993, tr. 143-4) Sợ rằng đây chỉ là thứ lập luận . . . “mua vui cũng được một và trống canh!” Chưa một tài liệu nào, kể cả các bộ cổ sử nặng mang tính cách dựng quốc thống của Ngô Sĩ Liên hay di tích khảo cổ, cho phép tuyên bố nước cổ Việt đă có chữ viết giống như những nét khắc trên đá “ở đỉnh núi Dahia?” Dựa vào những câu phụ chú hoang tưởng [exotic] của Kinh ThưSử Kư về sứ nước Việt Thường tiến cống rùa vàng (đời vua Nghiêu, 2356-2255 TTL) hay chim trĩ trắng (năm thứ sáu đời Chu Thành vương, 1115-1079 TTL), “chín lần” hay “ba lần” thông ngôn mới hiểu được nhau, để đoan chắc hoặc phóng tưởng rằng người cổ Việt đă có chữ viết từ thế kỷ thứ V TTL (?) sợ rằng lối suy luận ấy chẳng “science, conscience, modestie” chút nào! Nó là một thứ vơ đoán, trong nhiều vơ đoán khác của Petrus Key rải rác trong các sách c̣n lưu giữ được, tương tự như lời phán “con nít từ nách chui ra.”

[Trước ông Petrus Key hơn bảy trăm năm, Cheng Ch'iao (Trịnh Tiều, 1104-1162) dựa theo huyền thoại sứ Việt Thường (có người ước đoán từ Nghệ An tới Quảng B́nh, Quảng Trị hiện nay) đến cống Chu Thành Vương (1115-1079 TTL) một con chim trĩ trắng (Shu (Waltham), tr. 199-200; Cương Mục [Sài G̣n], 1965, II:29-31) để tán vào tập sách T'ung chih [Thông chí] của ḿnh rằng sứ Việt Thường đă qua tới Trung nguyên vào đời vua Đường-Nghiêu (2356-2256 TTL), cống “con rùa ngàn năm trên lưng có chữ khoa đẩu.” Rồi ghi thêm rằng vua Nghiêu dùng loại chữ ấy để soạn “lịch rùa!” (Cương Mục [Sài G̣n], 1965, II:28-9). Hơn trăm năm sau nữa, khi dùng Kinh Thư để viết Thông Giám Tiền Biên—tức phần Tiền Biên cho cuốn Tư trị Thông Giám của Tư Mă Quang (1019-1086)—Kim Lư Tường  (1232-1303) vẫn giữ chi tiết “rùa thần” nhưng loại bỏ các chi tiết chữ “khoa đẩu” và “lịch rùa” của Trịnh Tiều trong sách Thông chí. Hiện nay, tài liệu khảo cổ tiết lộ chữ “giáp cốt” (tức chữ viết trên mai rùa và xương thú) xuất hiện vào khoảng giữa đời nhà Thương-Ân, tức sau triều Bàn Canh. [Xem thêm bài Tư liệu lịch sử]

May mắn là thời gian Petrus Key c̣n sống, những di tích khảo cổ chưa được phát hiện, bằng không có thể sẽ có những loại lư luận kiểu “hoa văn [h́nh khắc] trên trống đồng Đông Sơn” là “chữ cổ Việt theo dạng ghi âm!”

Tại hải ngoại, nhờ tư liệu văn khố mới phát hiện và có điều kiện nghiên cứu tác phẩm cùng sách báo nguyên bản, các nhà nghiên cứu đă tái dựng gần đúng sự thực hơn về Petrus Key cùng nhiều tác nhân thời Pháp xâm chiếm Đại Nam. Đáng lưu ư là bài viết của các ông Bùi Kha, Nguyễn Đắc Xuân, v.. v... trên tờ Giao Điểm (California) mới đây [số 41 & 42, năm 2001], và nhất là hai tập Việt Nam Đệ Nhất Cộng Ḥa Toàn Thư, tập I (tái bản năm 2000) và Thực Chất Giáo Hội La Mă (2 tập, 1999) của Nguyễn Mạnh Quang. Sử dụng nhiều loại tài liệu, kể cả một số tư liệu văn khố do tôi sưu tập, Giáo sư Quang khẳng định ông Petrus Key không yêu nước. (Ngược lại, Giáo sư Hứa Hoành, cựu giảng viên trường Vơ bị Đàø Lạt, tác giả nhiều biên khảo về miền Nam, dù sử dụng phần tư liệu tương tự, lại kết luận Petrus Key chưa hẳn đă là Việt gian, mà c̣n yêu nước).

Tóm lại, trước năm 1996, chúng ta biết rất ít về Petrus Key ngoài những huyền thoại, cung văn tức tài liệu truyền đơn, khẩu hiệu. Đăơ gọi là cung văn th́ dĩ nhiên cái ǵ Petrus Key cũng tốt cũng hay. Những người chê trách th́—ngoại trừ  các ông Nguyễn Sinh Duy, Nguyễn Đắc Xuân, hay Nguyễn Mạnh Quang—chỉ sử dụng tư liệu cũ và giải thích theo ḷng yêu ghét hay quan điểm chính trị giai đoạn của họ.

Nhưng hiện nay, văn khố thuộc địa Pháp cũng như Hội truyền giáo Paris đă mở ra cho giới nghiên cứu, đa số những điều người Pháp viết về “công ơn khai hóa” của họ tại Đông Dương bắt đầu bị sự thực lịch sử đào thải dần. Những cung văn về các nhà đại ái quốc của tân trào bảo hộ Pháp như Petrus Key hay Hiệp sĩ Vatican Nguyễn Hữu Bài, Trần Bá Lộc, Ngô Đ́nh Khả, Ngô Đ́nh Diệm, v.. v... cũng chịu chung số phận khó tránh. Những tài liệu văn khố mới được công bố này rất khả tín [authentique], và không ai, nếu có đủ lư trí để suy xét và sự lương thiện trí thức tối thiểu, có thể bài bác. Vậy mà, thật đáng buồn, đôi ba người vốn chẳng có bao lăm kiến thức sử học, lại đầy tư tâm, t́m cách bênh vực Petrus Key bằng mọi giá, nhắm mắt lại mà đả kích những tác giả công bố các tư liệu mới về thông-ngôn-gia chính ngạch kiêm học giả miền Nam này!

 

Thuở thiếu thời của Petrus Key:

Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau.

Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Kư là “Lănh binh Truơng Chánh Thi,” (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43) chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Ibid., tr. 43); năm  1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (Ibid., tr. 44);  năm 1847, Tự Đức lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên (Ibid., tr. 44); năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (Ibid., tr. 44); năm 1852 được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Pinang, và ghé qua Sài G̣n gặp mẹ được vài giờ (Ibid., tr. 44); tại Pinang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (Ibid., tr. 45); năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang; ngày 28/12/1860, được Giám mục Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic]  Jauréguiberry (Ibid., tr. 45). (Đại tá J. D’ơAriès được lệnh thay Trung tá Jauréguiberry từ tháng 2/1860; chính thức bàn giao vào tháng 4/1860]; Vũ Ngự Chiêu, Các vua, I:124)

Mười sáu năm sau, nhà chính khách tự nhận là “Đệä tứ Cộng Sản” (Trotskyite) Hồ Hữu Tường, cho rằng Petrus Key sinh trong một gia đ́nh “công giáo” (Bách Khoa; N [404], 5/9/1974, tr.17), cha là “lănh binh Trương Chánh Thi,” mẹ là Nguyễn Thị Châu (Ibid., tr. 17). Năm 1847, được một linh mục nhận nuôi (Ibid., tr. 17). Sau khi học tại các trường đạo, Petrus Key nói thông thạo “10 thứ tiếng khác nhau”: La-tinh, Pháp ngữ, Anh ngữ, Y pha nho, Hoa ngữ, Mă lai, Ấn độ ngữ, Nhật ngữ. (Ibid., tr.17,18) Năm 1858, mẹ chết; Petrus Key được phép về thọ tang mẹ (Ibid., tr.18). Ngày 20/12/1860, khi người Pháp khánh thành trường Thông ngôn; Petrus Key đứng đầu trường này.( Ibid., tr.18)

Năm 1974, Phạm Long Điền, qua bài “Trương Vĩnh Kư trong quĩ đạo xâm lăng văn hóa của thực dân Pháp” (Bách Khoa Q [1974], tr. 45-54; & R [1974], tr. 32-42) cung cấp một niên biểu khác: Năm 1842, khi mới 5 tuổi, Petrus Key đă theo Linh mục Tám của vùng Cái Mơn (Bách Khoa Q [1974], tr.47); bốn năm sau, 1846, theo Cố Long, một Linh mục người Pháp (Ibid., tr.47); hai năm sau nữa, 1848, Cố Long đưa qua Pinhalu, Miên (Ibid., tr. 47); năm 1850, qua Pinang, học trường Dulama (Ibid., tr. 47); năm 1857, nghe mẹ từ trần, rời Pinang về Nam Kỳ (Ibid., tr. 47-8); hai năm sau, được Giám mục Lefèbvre giới thiệu cho người Pháp. Rồi năm 1861, Cố Doan [Đoan] làm mai cho lấy vợ, Vương Thị Thọ, con Vương Tấn Nguơn, Hương chủ làng Nhơn gian, Chợ quán.

Khoảng giữa thập niên 1990, tại hải ngoại, Nguyễn Thanh Liêm cũng chép lại gần như nguyên văn các chi tiết trên. Nào là “lănh binh Trương Chánh Thi dưới thời Minh Mạng,” “chết năm [1845] trong khi đang đồn trú tại Nam Vang” (tr. 12); thuở nhỏ Petrus Key học chữ Nho với thày “đồ Học,” được “cụ Tám” xin mang về nuôi; rồi theo cố Long, cố Ḥa học tiếng Latin và chữ Việt mới (tr. 12); năm 1848 qua học ở Miên, rồi qua Pinang; năm 1858, mẹ chết, về nước. (tr. 13)

Trong nước, năm 1993, Nguyễn Văn Trấn hầu như chỉ lập lại những lỗi lầm của người đi trước. Theo ông Trấn, Petrus Key sinh ngày 16-12-1837 tại Cái Mơn, làng Vĩnh Thành, tổng Minh Lệ, huyện Tân Minh, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc Bến Tre). (Trấn, 1993, tr. 9) Cha là vơ quan dưới hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị, “làm sứ thần bên cạnh vua Cao Miên, đóng quân ở phụ cận Nam Vang,” chẳng may chết v́ “ma thiêng nước độc” khi Petrus Key mới có 3 tuổi. Hai năm sau, Petrus Key học với một ông đồ. Năm 1846 được một giáo mục An Nam là “cố Tám” từng chịu ơn ông Trương Chánh Thi ghé nhà, xin mang đi nuôi ăn học. Cố Tám chết, một linh mục Pháp là cố Long đưa Petrus Key lên Nam Vang, cho vào trường “Pô-nhia Lư” [Pinhalu] của cố Ḥa (Belleveaux).(tr.9-10) Năm 1851, khi Petrus Key đă 14 tuổi, cố Long đưa sang Pinang học “Seminaire général des missions étrangères en Extrême-Orient”. Năm 1852, làm tu sinh ở Pinang. Trường này có hơn 300 học sinh, nhờ vậy Petrus Key học được tiếng Anh, tiếng Nhật, tiếng Hindu (tr. 12). Năm 1859, măn khóa 8 năm ở Pinang, “im lặng” về nước. Năm này, Pháp đă chiếm Đàø Nẵng, mẹ đă chết.(tr. 13) Dạy học ở Cái Nhum, rồi trốn lên Sài G̣n, ở chung với Lefèbvre.(tr. 16) Tháng 12/1859, trở thành thông ngôn của “quan ba hải quân” (sic) Jauréguiberry.(tr. 17) Năm 1963 được Phan Thanh Giản xin làm thông ngôn cho sứ đoàn qua Pháp.(tr.24)

Khối văn chương được nhiều người nh́n nhận [established] về Petrus Key này có vẻ bất ổn. Chúng ta thử lược duyệt từng chi tiết từ phụ thân Petrus Key tới những đặc tính khác của ông.

 

Có Chăng Một "Lănh Binh"

Trương Chánh Thi?

Đúng ngày Thanksgiving 2000, một ông bạn già điện thoại hỏi: "Có chăng một ông Lănh binh Trương Chánh Thi?" Trương Chánh Thi là người được ghi chép như thân phụ ông Petrus Key.

Tôi không dám trả lời ngay, hẹn xin trả lời sau khi đọc lại hồ sơ.

A. Theo một tài liệu, năm 1891, Petrus Key viết cuốn Généalogie de la Famille de P. Truong Vinh Ky tức Gia phả nhà Trương Vĩnh Kư. Jean Bouchot và nhiều tác giả đă nhắc đến tập này. Tôi chưa đọc nên không dám có ư kiến. Nhưng tôi nghĩ Petrus Key, có lẽ không nói cha ông là Lănh binh, mà