NÓI CHUYỆN VỚI VNCH FOUNDATION
(VẤN ĐỀ PHỤC HỒI CHẾ
ĐỘ CŨ)
LỜI NÓI
ĐẦU
Sau
Đệ Nhị Thế Chiến, Hoa Kỳ bỏ ra 400 trăm triệu
Mỹ kim viện trợ cho
hai nước Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ
để tái thiết xứ sở và ổn định xă
hội. Nhờ có tiền viện trợ Mỹ, chính
quyền của hai nước này đă sớm ổn
định được xă hội và giúp cho nhân dân nước họ sớm hồi
phục được nếp sống b́nh thường
như trước chiến tranh. Sự thành công của hai
quốc gia này đă khiến cho Hoa Kỳ hăng say mở rộng chương
tŕnh viện trợ kinh tế
với một kế hoạch đại quy mô có danh
xưng là Kế Hoạch Marshall (tên
của vị ngọai trưởng trong chính quyền Truman) nhằm
giúp cho các nước Âu Châu bị tàn phá bởi chiến
tranh để tái thiết xứ sở và phục hồi
kinh tế. Sau đó, chương tŕnh này lại
được mở rộng cho tất cả các quốc
gia thuộc Á và Phi Châu cùng ở trong t́nh trạng như
các nước Âu Châu. Trong số các quốc gia nhận
viện trợ này, có cả mấy quốc gia cựu thù
của Hoa Kỳ là Tây Đức, Nhật Bản và Ư
Đại Lợi.
Có một
điều vô cùng quan trọng cần phải hiểu cho
tường tận là viện trợ cho các quốc gia trên
đây, không phải là Hoa
Kỳ đem tiền trợ cho riêng cá nhân hay tập
đoàn những người cầm quyền, mà là để
giúp cho nhân dân những nước tiếp nhận viện
trợ. Những người cầm quyền của các
nước tiếp nhận viện trợ chỉ là
đại diện cho nhân dân của nước họ khi
họ c̣n cầm quyền để làm những công
việc mà họ có trách nhiệm phải làm. Một
điều khác cũng hết sức quan trong như trên là
viện trợ cho các quốc gia trên đây không phải là
Hoa Kỳ đem tiền
của đi cho không, mà là có mục đích chính trị và
chiến lược cùng với mốt số điều kiện có lợi cho
đại khối nhân dân bị
trị của các nước tiếp nhận viện
trợ.và đ̣i hỏi chính quyền các nước này
phải cam kết thi hành. Ở đây, người
viết xin miễn bàn về mục đích chính trị hay
chiến lược của Hoa Kỳ, mà chỉ xin
đề cập đến những điều kiện
mà Hoa Kỳ đ̣i hỏi các nhà cầm quyền các
nước tiếp nhận viện trợ kinh tế
phải thi hành. Những điều kiện đó là:
1.- Dùng
tiền viện trợ vào việc ổn định xă
hội
2.- Dân
chủ hóa bộ máy chính quyền
3.- Giảm
thiểu bất công và thực thi công bằng xă hội
4.- Tôn
trọng những quyền tự do căn bản của
người dân như tự do tư tưởng, tự do
ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do cư trú, tự do di
chuyển, v,v...
Những
điều kiện trên đây cũng được ghi rơ
trong bản tối hậu thư đề ngày 26/7/1945
của Hoa Kỳ gửi cho chính phủ Nhật Bản yêu
cầu phải đầu hàng. Dưới đây là một
số trong những điều kiện ở trong bản
tối hậu thư này và được sách Đệ
Nhị Thế Chiến & Chiến Tranh Lạnh ghi
lại như sau::
"1.- Giới
hạn chủ quyền Nhật Bản trong các đảo
Honshu, Hokkaido, Kyushu , Shikoku và một số đảo
nhỏ.
2.-
Chiếm đống lănh thổ Nhật.
3.- Phá
hủy hết các nhà máy kỹ nghệ chiến tranh.
4.-
Trừng phạt các tội nhân chiến tranh người
Nhật.
5.- Buộc
Nhật phải công nhận và ban bố quyền tự do
ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do tư tưởng
cho nhân dân Nhật.
6.- Dẹp
bỏ mọi giới hạn để phục vụ và
phát huy tinh thần dân chủ trong quốc gia Nhật." [1]
Người
viết mạnh tin rằng
khi viện trợ kinh
tế cho miền Nam Việt Nam th́ Hoa Kỳ cũng đ̣i
hỏi chính quyền miền
Nam phải cam kết thi hành hai điều kiên 5 và 6 trên
đây, nghĩa là phải dân chủ hóa chính quyền,
giảm thiểu bất công và thực thi công bằng xă
hội, công nhận và ban bố quyền tự do ngôn luận,
tự do tôn giáo và tự do tư tưởng cho nhân dân
miền Nam giống như Nhật Bản, Tây Đức,
Ư Đại Lợi (vốn là cựu thù của Hoa
Kỳ) và các nước khác cũng tiếp nhận
viện trợ của Hoa Kỳ đă thực thi.
Biết rơ
được sự thực này và biết rơ là miền Nam
Việt Nam được Hoa Kỳ viện trợ kinh
tế để phục hồi kinh tế và ổn
định xă hội và hy vọng miền Nam sẽ có
một chính quyền dân chủ thực sự tuân hành hai
điều kiện 5 và 6 trên đây (giảm
thiểu bất công, thực thi công bằng xă hội, công
nhận và ban bố quyền tự do ngôn luận, tự do
tôn giáo và tự do tư tưởng của nhân dân),
người viết quyết định di cư vào Nam vào
mùa Xuân năm 1955, giữa khi Sàig̣n đang ch́m trong khói lửa v́ cuộc chiến
đang diễn ra giữa một bên là tàn dự của
thế lực thân Pháp cố đấm ăn xôi và một bên thế lực thân
Mỹ đang được Mỹ hết ḷng cưu mang
và tích cực bảo vệ.
Sinh ra trong
thời đất nước bị ngọai nhân đô hộ,
chính mắt chứng kiến
thảm họa hai triệu người chết
đói nằm ngổn ngang khắp cả đầu
đ́nh xó chợ, trưởng thành trong chín năm kháng
chiến chống ngoại xâm, hai mươi năm có
mặt ở miền Nam và đă
phục vụ trong quân đội hơn 4 năm
trời, người viết xin nêu lên những vấn
đề dưới đây:
1.- Các chính
quyền miền Nam có thực
thi những điều
kiện như đă nói trên giống như các nước
khác cũng tiếp nhận viện trợ của Hoa
Kỳ không?
2.- Ở
miền Nam lúc đó, tinh thần dân chủ có
được phát huy hay không?
3.- Chính
quyền miền Nam có được dân chủ hóa hay không?
4.- Chính
quyền miền Nam có công nhận và ban bố quyền
tự do ngôn luận, tự do tôn giáo và tự do
tưởng hay không?
5.- Nếu
không, th́ thế lực nào là thủ phạm chủ
động tạo nên?
Trước
khi t́m hiểu những sự kiện lich sử để
giải đáp cho những thắc mắc trên đây,
thiết tưởng chúng ta cũng cần nên biết những sự kiện dưới
đây:
Sự kiện 1.- Tây Đức, Nhật
Bản và Ư Đại Lợi
là những nước cựu thù của Hoa Kỳ, tất
nhiên, vấn đề quản lư nhân dân và việc tổ
chức lực lượng vũ trang bị Hoa Kỳ
kiểm soát gắt gao hơn
Sự kiện 2.- Tây Đức và Nam Hàn
đều ở trong t́nh trạng:
A.- Lành
thổ chia đôi, một nửa thuộc chính quyền
Cộng Sản quản lư và một nửa được
người Hoa Kỳ chi viện kinh tế để phục hồi kinh
tế và tái thiết xứ sở.
B.- Quân
đội Hoa Kỳ trú đóng trong lănh thổ để
đề pḥng Cộng Sản
tấn công bất ngờ.
Sự kiện 3.- Tất cả các
nước tiếp nhận viện trợ của Hoa
Kỳ như Nhật, Pháp, Ư Đại Lợi, Ḥa Lan,
Nhật Bản, Hy Lạp, v.v.. và ngay cả Hoa Kỳ đều
có đảng Cộng Sản hoạt động công khai,
chủ nghĩa Marx (Marxism) và lịch sử các nước
theo chế độ Cộng Sản như Liên Sô, Trung
Quốc và các nước Đông Âu đều
được dạy trong các trung học và đại
học. Tại các nước này, trong bất kỳ thư
viện nào cũng có đầy đủ những tài liệu, sách, báo cùng các bài biên khảo về chủ nghĩa
Marx và lich sử các nước Cộng Sản.
Sự kiện 4. Tất cả các
nước tiếp nhận viện trợ Hoa Kỳ không
có bàn tay Giáo Hội La Mă và không có cái thảm
họa "lănh chúa áo
đen".
Sự kiện 5.- Bản chất
đố kỵ, tị hềm, ganh ghét, trịch
thượng, hợm hĩnh, huênh hoang khoác lác, tham lam, tàn
bạo, vơ vào, hiếu thắng, hiếu sát, khát máu, tàn
sát những người khác tôn giáo
và ưa thích trả thù một cách cực kỳ man
rợ là bản chất của tín đồ Gia-tô bắt
ngưồn từ Cựu Ước và Tân Ước trong
các sách Exodus (21:23-25), Leviticus (24: 19-20 và 26:1-18) và Deuteronomy
(19:21), ...rồi
được khai triển và cấy vào đầu óc tín
đồ bằng chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ
của Giáo Hội La Mă. Nói về những hạt
giống ác tính bạo
ngược và dă man này ở trong Cựu Ước, nhà
viết sử Arno J. Mayer ghi nhận như sau::
"Sự
thật là tư tưởng và ư niệm trả thù
chiếm một vị thế đáng kể trong Thánh Kinh Do
Thái. Nguyên tắc trả thù đă được viết ra bằng những thành ngữ
"mắt trả mắt, răng trả răng, chân
trả chân, sinh mạng trả bằng sinh mạng" và
được ghi rơ trong các sách Exodus (21:23-25), Deuteronomy
(19:21) và Leviticus (24:19-20), Thánh Kinh Do Thái giải thích cặn kẽ sự
trả thù trong tôn giáo được quy tụ chung quanh
một ông Thượng Đế ưa thích trả thù và
cũng đặt ra giới hạn chặt chẽ hơn
là để cho tự do
bạo hành..
Với
thời gian, trong khi Giáo Hội tỏ ra khoan dung với cá
nhân người có tội,
nhưng đối với tập thể th́ sự trả thù trở thành
hiển nhiên rơ ràng.. Một trong những cuốn sách có
ảnh hưởng nhiều trong các sách Thánh Kinh là cuốn
Mặc Khải. Cuốn sách này tràn ngập tinh thần
tức giận và trả thù,
những sự hung dữ và dă man trong sách này
đểu nhắm vào tất cả một lượt,
ngọai trừ một số nhỏ được Chúa
chọn. Và Giáo Hội th́ luôn luôn đối xử tàn
tệ với những người tà giáo như là tín
đồ của các đạo Do Thái, Hồi Giáo và Tin Lành.
Có lẽ những lời giải thích rơ ràng nhất trong
truyền thống trả thù trong thế giới Kitô giáo là
vịệc quy tội cho người Do Thái về cái
chết của Chúa Jesus rồi
Giáo Hội luôn luôn kêu gọi trả thù họ. Rơ ràng
hơn nữa là ngay cả những tông đồ đạo
Tin Lành cũng chẳng bao giờ
nghĩ đến việc từ bỏ cái việc
trả thù này.
Dù là
trường hợp nào đi nữa, trong Thánh Kinh và
cũng là trong truyền thống đạo Do Thái và Kitô
giáo, trả thù là một đề tài khẩn thiết và phức
tạp hơn là ngẫu nhiên. Thánh Kinh t́m cách đặt giới hạn
sự thúc bách trả thù về phương diện tâm lư và
xă hội ch́ ở trường hợp nhân đạo có điều
kiện, nhưng cũng nghịch lư và chứa đựng
đầy tính chất độc ác và tàn bạo ở trong
đó."
("Indeed,
the idea and percept of vengeance occupy
a notable place in the Hebrew Bible: the proverbial avenging principle - eye
for eye, tooth for tooth, foot for foot, life for life - is set down in Exodus
(21:23-25), Leviticus (24:19-20), and Deuteronomy (19:21). The Jewish
Scriptures expound a religion of vengeance centered around a vengeful God at
the same time that they set rigid limits rather than give a free course to
violence....
But with the
time, while the Church was lenient with individual sinners whose vengeance it
reined in, it became distincttly avenging in dealing with the sinful
collectively. The Book of Revelation, probably one of the more influential
books of the Holy Bible, is permeated with a wrathful and vengenful spirit, its
savageries directed against one and all, except the small number of the elect.
And the Church was unremittingly harsh toward misbelievers and heretics, such
as Jews, Muslims, and Protestants. The sempiternal cry for revenge against the
Jews, blamed for the death of Jesus, perhaps best illustrates the force of the
avenging tradition in the Christian worlds, all the more so since the apostles
of the Protestant Reformation never even considered repudiating it.
In any case,
in the Sacred Writings - in the Judo - Christiam tradition - vengeance is an
urgent and perplexing rather than adventitious theme. The Scriptures seek to
set limits to a socially and psychologically
conditioned avenging impulse or drive which is only too human but also
paradoxial and freighted with inhuamnity." ) [2]
Các yếu
tố của sự kiện 5 trên đây được
tŕnh bày đầy đủ
trong hai phần A và B
như sau:
A.- Bản
chất dă man quái đản trên đây của Giáo Hội La
Mă và tín đồ Gia-tô đă được thể
hiện bằng những hành động qua những
việc làm của Giáo Hội
và của các chế độ đạo phiêt
Gia-tô dưới đây:
1.- Phát
động các cuộc chiến thập tự khởi
đầu từ năm 1095 trong thời Giáo Ḥang Urban II
(1088-1099) kéo dài ngót hai thế kỷ sát hại tới
hơn hai chục triệu lương dân và gây ra đau
thương cho không biết bao nhiêu trịệu nạn
nhân khác ở trong vùng chiến tranh. Sách sử ghi
lại con số nạn
nhân lên tới trên 20 triệu
bị sát hại, không nói rơ bao nhiêu
triệu nạn nhân
bị thương tật, và nhiêu triệu nạn nhân
mất chồng, mất cha, mất con, và bao nhiệu triệu
trẻ em mồ côi cả lẫn mẹ bơ vơ không
nơi nương tựa, không người săn sóc. [3]
2.-
Thiết lập các Ṭa Án Dị Giáo vào năm 1232 trong
thời Giáo Ḥang Gregory IX (1227-1241) kéo dài tới năm 1820
sát hại gần 100 triệu nạn nhân. Riêng ở Tây Ban
Nha và ở các thuộc địa của đế
quốc đạo phiệt này, con số nạn nhân
cũng đă lên tới 68 triệu người. [4]
3.- Ban hành
thánh lệnh Romanus Pontifex vào ngày 8 tháng 1 năm 1454 trong
thời Giáo Ḥang Nicholas V (1447-1455)
và các thánh lệnh khác tiếp sau đó khẳng
định tinh thần thánh lệnh trên đây rằng:
"Theo
quyền lực Chúa ban và quyền lực của Ṭa Thánh
Vatican, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đ́nh (Lisbon)
Bồ Đào Nha "ṭan quyền tự do xâm lăng, chinh
phục, chiến đáu, đánh giặc và khuất
phục tất cả các quân Sarrasíns (tức người
Ả Rập), các dân ngọai đạo và các kẻ thù khác
của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào cũng
được toàn quyền chiếm cư tất cả
các vương quốc, lănh địa, vương hầu,
đất đô hộ và tài sản của chúng(nạn
nhân) , (được) toàn quyền chíếm tất cả
của nổi và của ch́m của chúng (nạn nhân) và
bắt tất cả chúng nó (nạn nhân) làm nô lệ
vĩnh viễn."
[5]
4. Các
chế độ đạo phiệt của Nữ Hoàng
Isabella I (1451-1504) và Philip II (1527-1598) ở Tây Ban Nha.
5.- Chế
độ đạo phiệt Gia-tô của Nữ Ḥang Mary I
ở Anh trong những năm 1553-1558.
6.- Chế
độ đạo phiệt Gia-tô của Vua Louis XIV
(1638-1715) ở Pháp [6]
7.- Chế
độ đạo phiệt Gia-tô của Vua Louis XVIII
(1814-1824) và của Vua Charles X (1824-1830) (Xem Chương 2 trong sách này)
8.- Chế đạo
phiệt Gia-tô Ante Pavelich ở Croatia trong thời Đệ Nhị Thế Chiến (1939-1945) tàn
sát tới trên 700.000 (700 ngàn) người trong thời gian này. [7]
9.- Chế
độ đạo phiệt Gia-tô Ngô Đ́nh Diệm
ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1963 tàn
sát trên 300.000 (300 ngàn) người trong thời gian này.
10.-
Việc tàn sát mấy ngàn người trong trại tị
nạn của người Hồi Giáo ở Lebanon trong
năm 1982.
11.- Chế
độ đạo phiệt Gia-tô của Giám-mục
Augustin Misago ở Rwanda (Phi Châu) trong năm 1994 tàn sát tới
trên dưới 800.000
người trong ṿng hơn 3 tháng trong năm này, sẽ
được nói rơ trong sách
này.
12.- Hành
động tàn sát hơn bảy ngàn
người ở Bosnia (Nam Tư cũ) vào năm 1995.
Vụ tàn sát người dă man mới nhất này được
tờ The News Tribune (Tacama), số ra ngày 12 tháng 10 năm 2002
loan tin rơ ràng, trong đó có một đọan với nguyên
văn như sau:
"The Hague
Netherlalnds.- Eight years after the massacre of more than 7,000 Bosnians
doubts have lingered about whether the killings were coldly planned, or
improivised in chaos. Most of those killed unarmed prisoners, boys and men,
shot in groups, or sometimes one by one."...
Now, two
senior Bosnian Serb officers, both crucial figures involved in organizing the
massacre at Srebrenica, have spoken out at the
Hague war crimes tribunal, describing the countdown to the massacre and
depicting a well-planned, deliberate killing operation. They say it was coordinated by the military
security and intelligence branch of the Bosnia Serb army and militarized police
forces paid by Serbia." [8]
B.-Tín đồ Gia-tô của Giáo Hội La Mă, NẾU
c̣n trung thành với Ṭa Thánh Vatican, c̣n có cái bản chất vong
ngọai [lúc nào cũng hướng về cơi xa
xăm (hướng
ngọai) để cầu
mong được ban ân sủng, mà không bao giờ
hướng vào nội tâm
đê suy nghĩ sửa ḿnh cho ḷng ngay thẳng (chính tâm) và tự lực cánh sinh, tự túc,
tự tồn], vong bản
phản quốc, sẵn sàng "rước voi về
giầy mả tổ". Lịch sử cho thấy rơ
sự thât này:
1.- Tiền
bán thế kỷ 17, tín đồ Gia-tô Nhật Bản
tiếp tay cho quân lính Bồ Đào Nha khi chúng tấn công xâm
lăng lănh thổ Nhật
Bản với hy vọng biến nước Nhật thành
một vương quốc Kitô thuộc Bồ Đào Nha.
Trời cao có mắt, nhân dân Nhật đă cương
quyết chống trả và đánh bật quân xâm lăng
Bồ Đào Nha ra khỏi lănh thổ và thẳng tay
trừng trị bọn Gia-tô
Nhật gian này.. Một số
trong nhóm Nhật gian phản quốc này phải bỏ
nưỡc Nhật ra đi, trong đó có một số
đến tá túc ở Hội An.[Sẽ
được trinh bày đầy đủ trong phần
nói về "Phong trào nhân dân thế giới
chống đối Giáo Hội La Mă"]
2.- Ngay sau
khi Cách Mạng Pháp 1789 bùng nổ đạp đổ
chế độ đạo phiệt Gia-tô của Vua Louis
XVI, th́ chính ông vua Gia-tô này viết
thư yêu cầu nước
Áo đem quân vào Pháp để
phục hồi vương quyền. Đồng
thời bọn tu sĩ Gia-tô xúi giục giáo dân ở các vùng
Bretagne, Normandie và Vendée nổi lên đánh phá Cách Mạng
mưu đồ phục hồi vương quyền cho nhà
vua. Trong khi đó, Giáo Hội
vận động với các nước Áo, Phổ,
Nga và Anh thành lập Liên Minh Thánh (Holy Alliance) kéo quân vào Pháp
để phục hồi chế độ đạo
phiệt của Louis XVI
với mục đích duy tŕ quyền lợi của
Giáo Hội tại Pháp. Cũng trong thời gian này, một
số nhiều tu sĩ Gia-tô chạy sang Anh, sang
Áo và sang Phổ khẩn khoản
xin viện quân về phục hồi giáo quyền.
Hậu quả là cuộc Cách Mạng Pháp 1789 gặp
phải muôn ngàn khó khăn và nhân dân Pháp bắt buộc
phải dùng những biện pháp mạnh để
đối phó với Giáo Hội La Mă và giới tu sĩ Gia-tô. [Tất cả
sẽ được
tŕnh bày đầy đủ trong phần nói về "Phong
trào nhân dân thế giới chống đối Giáo
Hội La Mă"]
3.- Cuối
thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, khi liệt
cường xâu xé Trung Hoa, tín đồ Gia-tô người
Trung Hoa nghe lời xúi giục của các nhà truyền giáo
người Âu Châu tiếp tay với người ngọai
quốc chống lại đất nước Trung Hoa. Hành
động phản quốc này của họ khiến
cho các tổ chức ái
quốc người Trung Hoa, trong đó có tổ chức
Quyền Phỉ (Boxer Rebellion), buộc ḷng phải tấn công vào các cơ
sở truyền giáo của Giáo Hội La Mă để
trừng trị bọn Hán gian
Gia-tô và bọn gián điệp giả danh các nhà truyền
giáo mưu đồ đánh phá Trung Hoa. [Sẽ được trinh bày đầy
đủ trong phần nói về
"Phong trào nhân dân
thế giới chống đối Giáo Hội La Mă"]
4.- Trong những năm 1999-2001, tín đồ
Gia-tô Indonesia trong đảo East Timor đă dựa vào
thế lực ngọai quốc tách rời ḥn đảo
này ra khỏi nước Indonesia để thành lập
nước East Timor. Qua hành động phản quốc này
của tín đồ Gia-tô Indonesia khiến chúng ta nhớ
lại trong thời kháng chiến 1945-1954, tín đồ
Gia-tô người Việt Nam đă
biến hai vùng Phát Diệm và Bùi Chu thành hai giáo khu tự trị với dă tâm sẽ tách rời hai
giáo khu này ra khỏi nước Việt Nam để thành
lập hai tiểu quốc Kitô La Mă và đặt
dưới quyền trực thuộc của Ṭa Thánh Vatican,
theo đúng sách lược cổ truyền mà sau này chúng đem áp dụng
ở Indonesia như trên.
5.- Hơn
bất kỳ dân tộc nào khác, dân tộc Việt Nam có kinh
nghiệm đau thương nhiều nhất và lâu dài
nhất về những hành động vong bản phản
quốc, phản dân tộc của tín đồ Gia-tô
người Việt. Thiết tưởng, ngọai
trừ những tín đồ Gia-tô thuộc loại
"bế ngửa" (đạo gốc), một học sinh Việt Nam mới
học xong bậc tiểu học cũng biết rơ sự
thực trên đây. Sự thật này đă được
tŕnh bày rơ ràng trong tập sách Bàn Tay Tội Ác Của Giáo
Hội La Mă Ở Việt Nam. V́ vậy, người
viết xin miễn bàn thêm
việc này ở đây.
Chính v́ tín
đồ Gia-tô c̣n trung thành
với Giáo Hội La Mă (tin
tưởng vào Ṭa Thánh Vatican như ông Ngô Đ́nh Diệm) có cái
bản chất vong bản phản quê hương và
phản dân tộc như trên, cho nên khi tín đồ Gia-tô
John F. Kennedy ra ứng cử Tổng Thống vào năm 1960,
nhân dân Hoa Kỳ đặt vấn đề về ḷng
trung thành của ông đối với đất
nước Hoa Kỳ. Cũng v́ thế mà ông đă phải
long trọng thanh minh và cam kết với nhân dân Hoa Kỳ
rằng:
"V́ tôi
là một tín đồ Gia-tô,
và chưa có tín đồ Gia-tô nào đắc cử Tổng
Thống... Do đó, điều cần thiết cho tôi
để khẳng định một lần nữa là -
không phải tôi đặt đức tin vào BẢN CHẤT
GIÁO HỘI... mà là đặt đức tin vào BẢN
CHẤT NƯỚC MỸ.
Tôi tin vào
nước Mỹ nơi mà Giáo Hội và nhà nước phân
biệt một cách tuyệt đối, nơi mà không có giáo
sĩ Gia-tô điều khiển Tổng Thống [nếu
ông ta là một tín đồ Gia-tô] phải hành động
như thế nào và nơi mà không một vị mục
sư Tin Lành nào được phép ra lệnh cho họ
đạo đi bỏ phiếu cho ai.. Tôi không phải là
ứng cử viên Tổng Thống của khối tín
đồ Gia-tô. Tôi là ứng cử viên TổngThống
của đảng Dân Chủ, người mà ngẫu nhiên cũng là một tín đồ Gia-tô. Tôi không
biện hộ cho Giáo Hội trước công luận và Giáo
Hội cũng không phải là
phát ngôn viên của tôi... Nhưng bất cứ vào thời
điểm nào đến..., khi mà chức vụ đ̣i
hỏi tôi phải bán rẻ lương tâm hay vi phạm
quyền lợi quốc gia, th́ tôi sẽ từ chức và
tôi hy vọng tất cả các vị công bộc khác có
lương tâm cũng sẽ
hành xử như thế..."
.(".. because I am
a Catholic, and no Catholic has ever been elected President... So it is
apparently necessary for me to state
once again - not what kind of church I believe in... but what kind of America I
believe in. I believe in an America
where the separation of church and state is absolute - where no Catholic
prelate would tell the President [should he be a Catholic] how to act and no
Protestant minister would tell his parishioners for whom to vote... I am not
the Catholic candidate for President. I am the Democratic Party's candidate for
President, who happens also to be a Catholic. I do not speak for MY CHURCH on
public matters - and the church does not speak for me... But if the time should
ever come... when my office would require me to either violate my conscience or
violate the national interest then I would resign the office, and I hope any
other conscientious public servant would do likewise...")[9]
NHẬN XÉT
VỀ 5 SỰ KIỆN TRÊN ĐÂY
Trông
người lại nghĩ đến ta. Chúng ta suy nghĩ
về những điều nêu lên trên đây rồi hồi
tưởng xem trong suốt
thời kỳ từ tháng 7/1955 cho đến ngày 30/4/1075
dưới ách thống trị của hai chế độ
đạo phiệt Gia-tô Ngô Đ́nh Diệm và quân phiệt
Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu, miền Nam Việt Nam ở vào những
trường hợp nào trong những điều nêu ra ở trên?
Về sự
kiện 1, miền
Nam Việt Nam không phải là cựu thù của Hoa Kỳ. V́
thế Hoa Kỳ chi viện cho miền Nam khá hào hiệp và
trao việc quân lư cai trị nhân dân miền Nam cho anh em ông Ngô Đ́nh Diệm bao
thầu cùng với Giáo Hội La Mă ở hậu
trường sân khấu chính trị qua sự tiếp tay
của giới tu sĩ và tín đồ Gia-tô
Về sự
kiện 2: Về Phần
A l(ănh thổ chia đôi), miền Nam Việt Nam giống y
hệt như Tây Đức và Nam Hàn. Phần B (Quân đội Hoa Kỳ trú
đóng) th́ Miền Nam Việt
Nam gần như thế,
Về sự kiện 3. và sự kiện 4, miền Nam Việt Nam hoàn toàn trái
ngược với Tây Đức, Nam Hàn và tất cả
các nước tiếp nhận viện trợ của Hoa Kỳ. Nói cho rơ hơn,
Miền Nam Việt Nam nằm trọn trong bàn tay của Giáo
Hội La Mă, chương tŕnh
giáo dục bị giới hạn và kiểm soát chặt
chẽ. Tất cả những ǵ nói đên những
việc làm bất chính,
bạo ngược và dă man của Giáo Hội, tất
cả những tài liệu nói
về đời sống bê bối thối tha các Giáo Hoàng
và giai cấpsĩ Gia-tô và
tất cả các học thuyết khoa học và chính trị
không phù hợp với quan điểm của Ṭa Thánh Vatican đều bị
lọai bỏ. Quyền lực của Giáo Hội hầu
như bao trùm lên tất cả mọi sinh họat của
người dân, từ chính tri, kinh tế, quân sự,
văn hóa, tôn giáo, giáo dục và xà hội. Không một pham vi
họat động nào là không có bàn tay của Giáo Hội.
Về sự kiện 5: Đây là
sự thật về bản chất của những tín đồ Gia-tô của Giáo Hội. Độc giả
có thể kiểm chứng bằng cách t́m đọc các tài liệu mà người viết đă trích dẫn. Một
cách khác nữa để kiểm chứng là quan sát cung cách hành xử cùng những lời lẽ
trong cung cách hành văn, và lư luận của họ trên các diễn đàn ngôn luận (báo
chí, truyền thanh, truyền h́nh và internet), trong hội đồng "chuột" "chống Cộng
miệng" tại các địa phương ở Bắc Mỹ.
Tóm
lại, miền Nam Việt Nam
trong thời 1954-1975 nằm dưới ách thống trị
độc tài của hai chế độ đạo
phiệt Gia-tô giống y như các nước Âu Châu trong
thời Trung Cổ. Dứới hai chế độ
đạo phiệt Gia-tô này, nhân dân miền Nam mới
khốn khổ trong bao nhiêu năm trường, và ngày nay, tàn dư của hai chế
độ khốn nạn này vẫn c̣n tác oai tác quái ở
trong các cộng đồng người Việt ở
hải ngoại. Bọn người này đă và đang
diễn những vở hài kịch Phục Hưng Tinh Thần Ngô Đ́nh Diệm, Phục Hồi Niềm Tin, Phục
Hồi Việt Nam Cộng Ḥa và Việt Nam Cộng Ḥa Foundation với dă tâm rước cái "tôn giáo ác ôn" (văn hào Voltaire gọi như vậy)
trở lại thống trị dân ta bằng một chế độ đạo phiệt Gia-tô khốn nạn như thời kỳ
1954-1975
Tập sách
này sẽ tŕnh bầy những vấn đề đă
được nêu lên trên đây với những tài liệu
dẫn chứng có ghi rơ nguồn gốc rơ ràng.. Phần IV (Phong Trào Nhân Dân Thế Giới Chống
Đối Giáo Hội La Mă) vốn là phần chót
của bộ sách Lịch Sử Và Tội Ác Của Giáo
Hội La Mă đă được lược thảo
từ trước và đáng lẽ sẽ được
phát hành sau cùng. Nhưng v́ một biến cố bất
ngờ như đă nói ở trên mới xẩy ra trong
cộng đồng người Việt hải ngọai
vào ngày 20/7/2003 vừa qua ở Westminster, California. Vào ngày này,
một số người khoa bảng và cựu viên
chức cao cấp ở miền Nam (trong
thời 1954-1975) thành lập một tổ chức gọi là
Việt Nam Cộng Ḥa Foundation
rồi gửi Thỉnh Nguyện Thư yêu cầu Liên
Hiệp Quốc và Hoa Kỳ can thiệp buộc chính
quyền Việt Nam hiện nay "phải thi hành nghiêm chỉnh Hiệp Định Paris
1973". V́ thế mà phần này được đến với quư vụ sớm hơn như đă dự trù
Người
viết thiết nghĩ rằng chỉ có những
người bất b́nh thường mới có thể làm
như vậy. Họ là những người vẫn c̣n
triền miên trong cơn "mộng
du", mơ ước sống lại cái thuở huy
hoàng vàng son của ngày nào.
Kh́ hành
động như trên, rất có thể họ nghĩ
rằng, nếu thành công, bản thân của họ sẽ
lại được "ăn
trên ngồi trước", sẽ phủ phê phè phỡn trên mồ hôi,
nước mắt và xương máu của muôn dân. Không
biết khi làm như vậy, tổ chức Việt Nam Cộng
Ḥa Foundation có c̣n lương
tâm và lư trí để nhận thức được
rằng họ đang làm
một hành động
phản quốc với hai tội ác: Thứ nhất là mưu đồ rước voi
về giầy mả tổ tức là hủy họai
nền độc lập của dân tộc và thứ hai là mưu đồ
phá hoại nền thống nhất của đất
nước. Tổ tiên ta đă mất bao nhiêu công lao,
mồ hôi, nước mắt và xương máu từ khi
tiếng súng xâm lăng khai
hỏa của liên quân giặc Pháp -Vatican khai hỏa tấn
chiếm nước ta vào năm 1858 cho đến ngày
30/4/1975 mời giành lại được chủ quyền
độc lập cho dân tộc và thống nhất cho
đất nước. Nếu giấc mơ quái
đản này của những người này trở thành
sự thật, th́ hậu thế và lịch sử
sẽ đời đời
nguyền rủa họ.
Sống
chỉ mặt, chết chỉ mồ.
Xương
dù chôn nát, mắt mo hăy c̣n. (Ca dao)
SƠ
LƯỢC MỘT VÀI SỰ
THẬT VỀ VIỆT NAM
CỘNG H̉A TRONG THỜI KỲ 1954-1975
A.- TIỀN
BẠC CỦA HOA KỲ ĐỔ VÀO.- Miền Nam Việt
Nam trong những năm 1954-1975 là tiền đồn
chống Cộng của Hoa Kỳ với tiền bạc
viện trợ Ḥa Kỳ đổ vào như nước
để thiết lập các căn cứ quân sự và giao cho Giao Hội La Mă bao thầu công việc quản lư
bộ máy cai trị (chính quyền) miền Nam. [10]
Cho đến năm 1961, số tiền của mỹ đổ vào đă lên tới hơn bảy (7) tỷ Mỹ kim.
Tính ra mỗi tháng hơn 100 triệu. Sự kiện này được ông Cựu Bộ Trưởng Quốc Pḥng
McNamara ghi lại như sau:
"
Chúng tôi
đă thương lượng với Tổ Chức Liên
Phong Đông Nam Á (SEATO) và Hoa Kỳ có thể sẽ tiếp
tục bảo vệ Đông Dương. Nên chỉ trong
khoảng từ năm 1955 đến năm 1961 chúng tôi
đă đổ hơn bảy tỷ Mỹ kim vào miền
Nam Việt Nam để giúp đpữ về kinh tê và quân
sự."
["We had also negotiated the Southeast Asia Treaty (SEATO), conditionally
pledging the United States to protect Indochina
And we had pumped more than $7 million in economioc and military aid to
South Viet Nam from 1988 to 1961" "11]
Cho
đến tháng 4 năm 1975, số tiiền này lên
đến hơn 140 tỉ Mỹ kim [12] [12] và hàng năm có tới hơn nửa triệu quân nhân và hàng
trăm ngàn nhân viên dân sự làm việc cơ quan chính
quyền và các công ty tư nhân của Hoa Kỳ thả
tiền ra tiêu sài hàng ngày và du hí, tạo nên cảnh phồn
vinh giả tạo theo định luật "kinh tế
giây chuyền"với:
500
ngàn gái điếm,
hơn 300 ngàn người làm cho các sở Mỹ, gần
một triệu quân nhân, trên 500 ngàn công chức, không biết bao nhiêu ngàn gái bán bar, bao nhiều ngàn
chủ bar, bao nhiêu ngàn
phụ nữ lấy chồng Mỹ, bao nhiều ngàn
người lái xe taxi, bao nhiêu ngàn người đạp xích lô, bao nhiều
ngàn người thợ may, bao nhiêu người bán
xe bánh ḿ và giải khát, v.v..,
tính ra có đến từ
4 đến 5 triệu
người trong số 20
triệu dân miền Nam sông nhờ vào đồng tiền
của những người Mỹ hiện diện ở
miền Nam văi ra và tiền viện trợ Mỹ
đổ vào xây dựng
các căn cứ quân sự để tiến hành
chiến tranh, một miền Nam nhất
đĩ, nh́ cha, tam sư, tứ tướng]
B.- CHÍNH
QUYỀN DÂNG NƯỚC VIỆT NAM CHO ĐẾ QUỐC
VATICAN.- Sau nhiều năm nghiên cứu, người
viết có thể khẳngg định rằng trong
thời kỳ 1954-1975,
miền Nam Việt Nam bị coi như là của riêng
của Giáo Hội La Mă. (Tổng Thống Gia-tô Ngô Đ́nh
Diệm đă cho tổ chức một buổi lễ vô
cùng long trọng vào tháng 2 năm 1959 để chính thức
dâng nước Việt Nam cho Đức Mẹ (Giáo
Hội La Mă ) và có Hồng Y Agagianian đại
diện Ṭa Thánh Vatican tiếp nhận [13],
việc nước bị coi như là việc riêng của
các ông tu sĩ Gia-tô và của người cầm quyền.
C.-
CHƯƠNG TR̀NH GIÁO DỤC BỊ HẠN CHẾ VÀ
KIỂM SÓAT CHẶT CHẼ.-.-Những bài học lịch
sử nói về thời Trung Cổ, nhất là những hành
động tội ác trùng trùng của Giáo Hội La Mă,
đời sống bê bối thối tha của các ông giáo
ḥang và giới tu sĩ Gia-tô bị
cấm tuyệt đối. Các thuyết lư khoa học
như thuyết Tiến Hóa của Charles Robert Darwin
(1809-1882), các chủ thuyết xă hội, công sản và dân
chủ bị hạn chế tối đa.
D.- NHÂN
QUYỀN VÀ CÁC QUYỀN TỰ DO DÂN CHỦ BỊ CHÀ
ĐẠP.- Thiểu số tín đồ Gia-tô nắm
quyền trị nước, ngang tàng hống hách, tác oai tác
quái, tha hồ tung tác, tha hồ gieo tai giáng họa.
Cụ Phan
Khắc Sửu và Bác-sĩ Phan Quang Đán đắc cử
dân biểu với số phiếu trên 70% tại đơn
vị của họ ở Sàig̣n bị loại ra khỏi
Quốc Hội một cách ngang ngược, không cần
biết đến pháp luật và cũng không cần
biết đến dư
luận quần chúng.
Các ông Tŕnh
Minh Thế, Lê Quang Vinh (Ba Cụt), Hồ Hán Dân, Tạ Chí
Diệp, Nguyễn Bảo Toàn, Phạm Xuân Gia, Vũ Tam
Anh, Đại Tá Ḥang Thụy
Năm, v.v.. kẻ th́ bị xử tử, người th́ bị
ám sát hay bị thủ tiêu
Phật
Giáo bị kỳ thị và bị triệt hạ, truyền
thống văn hóa dân tộc bị miệt thị, bị
dồn vào đường cùng phải vùng lên đ̣i
quyền sống.
Các trụ
sở của các tờ báo Tự Do của nhóm ông Hiếu
Chân, Đái Đức Tuấn,
Bùi Xuân Uyên và tờ Thời Luận của ông Nghiêm
Xuân Thiện bị chính quyền đập phá, nhân viên biên tập bị truy lùng.
Văn hào
Nhất Linh bị bức tử. Những người có nhiệt
tâm với đất nước như 18 nhân sĩ trong
nhóm Trí Thức Tiến Bộ Caravelle bị truy lùng, bị
bắt giam, có người bị thủ tiêu.
Tướng
sạch Nguyễn Văn Hiếu được nhân dân kính
mến quư chuộng bị bắn chết giữa thủ
đô Sàig̣n mà không hề nói đến việc đem thủ phạm ra xét
xử.
Ông sĩ
quan cấp tá Hă Hữu Viên, quận trưởng Quân Tân
Châu, đến một pḥng phiếu bất ngờ lúc nhân
viên đang kiểm phiếu (trong
kỳ bầu cử 1974). Có một nhân viên (vốn là giáo viên) không đứng dậy chào (giống như những người khác), ông
quận trưởng liền nổi xung với nét mặt
hầm hầm tiến đến
tát mạnh vào mặt ông giáo viên này trước
mặt mọi người ở
trong pḥng khoảng hơn 10 giáo viên khác.
F.-
NHỮNG NGƯỜI KHÁC ĐẠO BỊ TÀN SÁT.- Hơn
300.000 (ba trăm ngàn) dân trong các tỉnh thuộc Liên Khu V bị tàn sát trong những
năm 1955-1953 qua những chiến dịch "làm sáng danh
Chúa" được ngụy trang bằng cụm từ
"Chiến Dịch Tố Cộng".
E.- GIAI
CẤP BINH SĨ BÓC LỘT.- Người viết không
biết tiền viện trợ của người
Mỹ để trả
lương hàng tháng cho một người lính miền Nam
lúc bấy giờ (từ tháng
7/1954 cho đến giữa năm 1964) là bao
nhiêu, nhưng qua bàn tay phù thủy của chế độ
đạo phiệt Gia-tô Ngô Đ́nh Diệm, tiền lương từ binh nh́
đến hạ sĩ (nằm trong giai cấp bị
trị) mỗi tháng trừ tiền cơm rồi, binh
nh́ chỉ có 519 đồng, hạ
sĩ khoảng 550 đồng, và
tiền phu cấp vợ của một hạ sĩ
hay binh nhất hoặc binh nh́ mỗi tháng là 30 đồng
(tương đương với 6 tô phở), phụ
cấp cho mỗi người con của họ mỗi tháng
là 100 đồng.Anh em lính quân dịch (bị động
viên) trong nhữngh nănm 1957 và năm 1858 c̣n thê thảm hơn nữa.
Mỗi binh nh́ quân dịch
chỉ được phát cho có 120 đồng một tháng
(4 đồng 1 ngày,
chưa được một tô phở lúc đó là 5
đồng
).
Trong khi đó th́ tiền lương của một chuẩn úy mới
ra trường là 3250 đồng, phụ cấp hàng tháng
cho vợ của họ vào khoảng 600 đồng, và
mỗi đứa con mỗi tháng khoảng 500
đồng (Nếu không đúng xin quư vị bổ túc).
Về phương diện lương bổng, cấp
bực chuẩn úy bị xếp vào loại hạ sĩ
quan (từ trung sĩ đến thương sĩ
nhất)]. Lương của một thiếu úy độc
thân mỗi tháng vào khỏang 3.700 đồng, phụ
cấp hàng tháng của một người con của
một sĩ quan cấp thiếu úy (được
coi như là nằm trong giai
cấp thống trị) khoảng chừng không
dưới 600 đồng và phụ cấp của
người vợ lên đến khoảng 700 hay 800
đồng một tháng. Ghê gớm, kinh khủng và khốn
nạn hơn nữa là tiền thưởng cho bọn
mật vụ thủ tiêu các thành phần đối lập
chính trị như các ông Tạ Chí Diệp, Vũ Tam Anh,
Nguyễn Bảo Ṭan, Phạm Xuân Gia, v.v..., mỗi một nạn nhân là
một triệu đồng .(Sẽ được nói rơ
ở Chương 3).
Chúng ta
thấy rơ tiền lương hàng tháng của một
người lính trong Quân Đội Cộng Hoa Miền Nam
c̣n thua kém cả tiền phụ cấp hàng tháng của
một người vợ sĩ quan. Tiền phụ cấp
cho vợ một người lính (từ hạ sĩ
xuống tới binh nh́) chỉ bằng từ 1/25
đến 1/20 của tiền phụ cấp hàng tháng cho
người vợ sĩ quan từ cấp thiếu úy
trở lên.. Tiền phụ cấp
hàng tháng của một đứa con của họ
chỉ bằng khỏang 1/7 tiền phụ cấp hàng tháng
của một đứa con của sĩ quan. T́nh trạng
này kéo dài cho đến
giữa năm 1964 mới được Tướng
Nguyễn Khánh hủy bỏ cùng với Luật Gia Đ́nh
của Bà Ngô Đ́nh Nhu (được ban hành vào ngày 2 tháng
1 năm 1959). Binh lính bị đối xử như là nô
lệ với đồng lương chết đói
lại c̣n bị cưỡng bách phải mua nước
mắm thối do các bà sơ độc quyền bao
thầu cung cấp.
Sự chênh
lệch này nói lên t́nh trạng bất công trong quân
đội do những người lănh đạo chế
độ chủ trưong để biến quân linh thành
một bầy nô lệ.
G.- TU SĨ
VÀ TÍN ĐỒ GIA TÔ TAY SAI CỦA GIÁO HỘI TÁC OAI TÁC QUÁI
.- Ngoại trừ thủ đô Sàig̣n và các thành phố
lớn, các vùng nông thôn
được đặt dưới quyền sinh sát
của các ông linh mục lănh chúa
hay bọn tay sai. Người dân tất nhiến là
khốn khổ trăm bề, c̣n khốn khổ hơn
cả thân phận những người nông nô ở Âu Châu
trong thời Trung Cổ. Đặc biệt là những
tỉnh thuộc Liên Khu V, Biệt Khu Hải Yến (Cà Mâu)
trong các khu dinh điền, trong các khu trù mật và trong các
ấp chiến lược [14] là những nơi mà chính quyền
đang cho tiến hành Kế Họach Kitô Hóa
Bà Cả
Lễ và ông Ngô Đ́nh Cẩn nắm độc quyền
cung cấp gạo cho miền Trung và tự ư tăng giá gạo để cắt cổ
người dân miền Trung, nắm độc quyền bao
thầu cung cấp thực phẩm cho các trung tâm huân
luyện binh sĩ, các trường sĩ quan và hạ
sĩ quân trong toàn lănh thổ. Ng̣ai ra, ông Cẩn c̣n nắm
độc quyền bao thầu các dịch vụ xây cất
các doanh trại và các cở sở của chính quyền.
Giám
-mục Phạm Ngọc Chi i lănh khoản tiền 38
triệu đô la tiền
viện trợ Mỹ để tùy nghi sử dụng.
Linh-mục
Đinh Xuân Hải nổi tiếng về vụ bắt
nạt dân và ăn cướp đất của dân ở
Phú Thọ Ḥa (Tân B́nh, Gia Định).
Linh-mục
Vũ Thạch Nghi ở B́nh Thủy (Cần Thơ)
đồng mưu với môt ông tá Không Quân ở B́nh
Thủy về vụ ăn cắp xác máy bay đem bán,
bị phát giác.
Linh-mục
Nguyễn Lạc Hóa nổi tiếng là một lănh chúa áo
đen ở Biệt Khu Hải Yến (Cà Mâu).
Linh-mục
Tô Đ́nh Sơn nổi tiếng trong các chiến dịch
"làm sáng danh Chúa" và tàn
sát hàng chục ngàn nạn nhân ở Phú Yên.
Linh-mục
Nguyễn Bá Lộc, một lănh chúa áo đen khét tiếng
ở Cái Sắn về những hành động bắt
nạt dân lương trong vùng và làm học bạ giả,
rồi ép hiệu trưởng trường Nguyễn Trung
Trực (Rạch Giá) phải kư tên ở dưới trong những học bạ này
để bán cho khách hàng.
Linh Mục
Trần Đ́nh Vận khét tiếng là một hung thần
ở Dốc Mơ, Long Khánh về thành tích bắt nạt
dân lương và bóc lột đ̣ng bào, xây ngôi nhà thờ
lớn nhất miền Nam Việt Nam.
Linh-mục
Tông ở Chương Thiện và Linh-mục
Linh-mụcTriệu
ở Bến Dinh (Châu Đốc) cũng là những hung
thần đối với người dân bên Lương ở các vùng chung quanh.
Linh-mục
Cao Văn Luận nắm độc quyền trong dịch
vụ cho sinh viên xuất ngọai du học và cấp
học bổng cho sinh viên du học.
Linh-mục
Trần Du và Linh-mục Nguyễn Quang Lăm là hai tên hung thần trong ngành báo chí, cánh
tay nối dài của bộ
tuyền truyền của Giáo Hội và của chế
độ.
Giám-mục
Nguyễn Văn Thuận và Tướng Đặng Văn
Quang ăn cắp vỏ đồng đại bác đem
bán lấy một sô tiền lên đến 800,000,000 (8 trăm
triệu đồng)
Bà Ngô
Đ́nh Nhu nắm độc quyền bao thầu cung
cấp quân nhu và văn pḥng phẩm cho quân đội và
chính quyền. Những năm 1958-1960, một cái bít ch́
lọai số 02 giá ở ngọai thị truờng là 02
đồng, giá thành tính với chính phủ (tiền
việt trợ Mỹ) là 20 đồng.
Ông Ngô
Đ́nh Nhu và sau đó
Tướng Ngô Du nắm độc quyền buôn bán
thuốc phiện và bạch phiến từ miền Trung
chuyển vận về
Chợ Lớn phân phối
Tướng
Đỗ Cao Trí nổi danh về tội ác ăn
cướp, vơ vét của dân vào những khi hành quân..
Tướng
Nguyễn Văn Toàn nổi tiếng về tham nhũng và
hiếp gái vị thành niên..
Nguyễn
Văn Bửu (em chồng của một người
chị hay em của ông Ngô
Đ́nh Diệm) nắm độc quyền các
đường hàng hải chạy trong nước và
quốc ngoại.
Trần Kim
Tuyến nắm độc quyền xuất cảng lông
vịt, v.v...
Vụ
"C̣i Hụ Long An" trong thời chế độ quân
phiệt Gia-tô Nguyễn Văn Thiệu đă đi vào
lịch sử.
Thậm chí
cả đến "nước mắm" trong miếng
ăn của anh em quân nhân trong quân đội miền Nam
cũng qua bàn tay "bao thầu" của những người
của chính quyền hay những người có mánh mung giỏi nghề khai thác cái quy
luật "cao lễ dễ
thưa" với những người có thế
lực trong chính quyền để được lănh bao
thầu cung cấp nước mắm hay các thứ
thực phẩm khác. Chuyện bao thầu bán nước
mắn cho anh em quân nhân được sách Việt Nam Máu
Lửa Quê Hương Tôi ghi lại chuyện
"nước mắm" này như sau:
"Ông Ngô
Đ́nh Thục không từ bỏ một hành động
bần tiện nào trong việc làm tiền.. Ông đă
nhờ Tổng Thống Diệm ra lệnh cho Đại Tá
Phùng Ngọc Trưng (hiện ở Pháp) đang chỉ huy
ngành quân Nhu ở Quân Khu I, phải mua nước mắm
"thối" của các bà sơ ở Phan Thiết,
thứ nước mắm lâu ngày không bán được
bị hư thối để bán lại cho gia đ́nh binh
sĩ.... " [15]
Cả
đến các bà phước (soeurs) mà c̣n dựa vào thế
lực của chính quyền để cưỡng ép bính
lính, nhất là những người lính với đồng
lương ốm đói như đă nói ở trên, phải
mua nước mắm thối để ăn, th́ c̣n có
thứ ǵ mà chúng (tu sĩ và tín đồ Gia-tô tay sai của
chế độ) không nhúng tay vào để ăn chặn tiền viện
trợ Mỹ và bóc lột nhân dân ta. Chúng hùa nhau ăn
cướp tài sản quốc gia: Rừng Quế ở
Quảng Ngăi hết bị lănh
Chúa Ngô Đ́nh Cẩn khai thác th́ lại lọt vào tay
Tướng Nguyễn Văn Toàn. Giám -mục Ngô Đ́nh
Thục ngang ngược coi những khu rừng gỗ trong các tỉnh Long Khánh, Biên Ḥa và
B́nh Dương như là của riêng của ông ta, coi quân
đội và nhân viện chính quyền như là bầy nô lệ của
gia đ́nh họ Ngô để
cho ông ta sử dụng khai thác gỗ rừng đem
xuất cảng lấy tiền đút túi. Ghê gớm hơn
nữa, ông giám mục này lại c̣n
ăn cướp đất công, dùng quân xa, vật
liêu nhà nước và nhân viên
chính quyền xây cất cư xá để bán lấy
tiền đút túi.[16].
Ấy là
chưa kể đến những dịch vụ buôn bán
chức vụ trong chính quyền, bán giấy hơan dịch,
lính ma, lính kiểng và ăn chặn tiền phu cấp
tử sĩ của anh em quân nhân tử trận. Nạn
nhân chết oan ức
nhưTướng Nguyễn văn Hiếu nổi danh là
người hiền và liêm chính bị bắn ở ngay
giữa thủ đô Sàigon không những không được làm sáng tỏ mà
lại c̣n bị ém nhẹm.Tất cả sự kiện
trên đây cho chúng ta thấy rơ bộ mặt thật
của hai chế độ đạo phiệt Gia-tô Ngô
Đ́nh Diệm và quân phiệt Gia-tô Nguyễn Văn
Thiệu. Rơ ràng là:
Bọn này
toàn lũ cuồng nô,
Chúng coi dân
nước như nô lệ nhà,
Thi nhau bóc
lột dân ta,:
Thượng
vàng hạ cám chẳng tha thứ ǵ.
Có những
bà phước làm giầu bằng những dịch
vụ bao thầu bán
nước mắm thối như trường hợp nói
trên đây và cũng có
những người dù không phải là tín đồ Gia-tô,
nhưng rất giỏi mánh mung trong kỹ thuật sử
dụng cái triết lư "dâng
của lễ" và "cao
lễ dễ thưa" để làm quen và mua chuộc
các ông linh mục hay những người có thế lực
trong chính quyền để
nắm độc quyền bao thầu các dịch vụ
tương tự như trên. Nhờ vậy mà gia đ́nh
họ trở nên giầu có, chính bản thân họ mới
có thể sống huy hoàng trong nhung lụa, ăn
chơi phè phỡn, sớm cà phê sữa chiều nhậu
nhẹt phè phỡn bên những có gái non nơn nường.Ta
gọi họ là những người làm giầu trên xương mấu của quân
đội và của nhân dân. Trong lưc những thanh niên
đồng lứa tuổi với họ bị
động viện bị đưa đi các đơn
vị tác chiến ngày đêm vào sinh ra tử ở vùng
hỏa tuyến để rồi nếu c̣n sống th́
tháng tháng được thí cho số tiền lương
ốm đói như đă nói trên, và nếu chẳng may
phải hy sinh nơi chiện địa th́ tiền tử
tuất lại bị các quan phụ trách vấn đề
này ăn chặn mất.
Các xóm
đạo ở rải rác khắp trên lănh thổ trở
thành quốc gia Trong quốc gia, (xe
đ̣ chạy qua lănh địa này mà vô t́nh cán chết
một con chó băng qua đường là kể
như gặp đại tai họa với gian dân ở
đây
). Các ông linh mục tại các xóm
đạo trở thành một thứ lănh chúa áo đen tại địa
phương, quyền hành bao trùm lên trên cả các nhà
chức trách địa phương. Điển h́nh là các
ông Linh-mục Trần Đ́nh Vận (Dốc Mơ, Long
Khánh), Nguyễn Bá Lộc, (Cái Sắn, Kiên Giang), Linh mục
Tông (Chương Thiện), Linh-mục Nguyễn Lạc Hóa
(Biệt Khu Hải Yến, Cà Mâu), Tô Đ́nh Sơn (Phú Yên),
Mai Ngọc Khuê (Tân Sa Châu, Gia
Định), Đinh Xuân Hải (Phú Thọ Ḥa, Tân B́nh, Gia
Định). Ông Linh-mục họ Đinh này ngang tàng
đến độ chíếm đọat đất
đai của dân lương, bắn chết anh em
thương phế binh mà nhà nước vẫn làm ngơ,
hồ sơ kiện của nạn nhân bị xếp xó.
Nói chung
là các ông linh mục tại các
xóm đạo, các ông tỉnh trưởng, quận trưởng,
xă trưởng, phường
trưởng, khóm truởng và trưởng khóm nhân dân
tự vệ đều là lănh chúa lớn, lănh chúa nhỏ
tại các địa phương. Nhân viên của 13 tổ
chức mật vụ của anh em ông Ngô Đ́nh Nhu và Ngô
Đ́nh Cẩn có mặt ở khắp mọi nơi
để ŕnh rập những
nơi của dân lương sinh họat để kiếm
chuyện làm tiền hay dồn vào thế cùng khiến cho
nạn nhân phải theo đạo cho xong nợ để
giải thoát khỏi bị
băt nạt, v.v...
Tất
cả đă làm cho người dân khiếp sợ, lúc nào
cũng phập pḥng âu lo
sợ hăi, lúc nào cũng hồi hộp giật ḿnh thon thót.
Ở trong t́nh trạng này, người dân chỉ cón có
một trong hai chọn lựa hoặc là đi theo những
lực lượng vũ trang khởi nghĩa với hy
vọng đ