|
Tự Do Mậu Dịch Hay Tự Do Cưỡng Đoạt Tài Sản Các
Nước Nghèo?
Ziauddin Sardar & Merryl Wyn Davies
Câu châm ngôn của chuyện phim
tập rất ăn khách trên truyền h́nh, Alias, là “sự thật đau ḷng”.
Phim tập này mô tả cuộc đời của nhân vật chính, một cuộc đời có hai bộ mặt khác
nhau. B́nh thường cô là một sinh viên cao học, muốn kiếm thêm tiền bằng cách làm
một nghề tay trái, nghề điệp viên thượng thặng. Alias được mọi nguời xem là một phim tập ăn khách, giúp khán giả mua vui và giải trí trong giây lát. Tuy cốt chuyện hoàn toàn phi lư khó tin, nhưng trong đó chúng ta có thể học được một bài học hữu ích về nước Mỹ và biết Mỹ nghĩ ǵ về thế giới.
Trong chương thứ nhất của quyển
sách này*, chúng tôi đă nói phim ảnh và truyền h́nh đă phản ảnh xă hội Mỹ và
ngược lại, ảnh hưởng trong việc h́nh thành giá trị của xă hội Mỹ. Một tiểu
thuyết gia- và cũng là một phê b́nh gia Ư, Umberto Ec, ghi nhận là các phương
tiện truyền thông không những chỉ là một cách chuyển đạt ư thức hệ, nó chính
là ư thức hệ của nưóc Mỹ. Alias là ư thức hệ của Mỹ nếu
hiểu ư thức hệ trên b́nh diện rộng lớn. Nhân vật chính, Sydney Bristow,
rất sinh động và có vơ thuật cao cường, khám phá tổ chức gián điệp ḿnh đang
phục vụ, cơ quan SD-6, thực ra không phải là một phân bộ bí mật của CIA như cô
nghĩ, nhưng là kẻ thù của cả thế giới. Do đó cô không phải chiến đấu cho những
giá trị của nước Mỹ, nhưng phục vụ cho kẻ thù của nước Mỹ. Sydney t́m cách báo
cho CIA và sau đó cô đưọc CIA khuyến khích đóng vai gián điệp nhị trùng. Nhiệm
vụ của cô là làm tṛn sứ mệnh do SD-6 giao phó nhưng sau đó báo cáo những ǵ mà
cô biết với CIA. Điều đáng nói là Sydney và khán giả như chúng ta không thể nào
thấy sự khác nhau giữa mục tiêu và giá trị của SD-6 và CIA. Sau đó,
Sydney khám phá ra những chuyện ly kỳ khác, như người cha của cô tứ bấy lâu nay
bỏ rơi mẹ con cô cũng đang làm việc cho SD-6, và cha cô không những là một gián
điệp nhị trùng cho CIA mà c̣n là một gián điệp tam trùng, làm việc cả cho FBI.
Mẹ cô thực ra là một chuyên viên ám sát của KGB! Tất cả các cơ quan gián điệp
này đang tranh dành nhau một quyển sách cổ từ 500 năm trước, do một nhà sáng chế
Ư trong thời Phục Hưng, phác họa những kỹ thuật tân tiến nhất của thế kỷ 21!
Sydney, cũng như nước Mỹ, có
một nhân cách đôi. B́nh thường, cô rất ngây thơ và tử tế, hay cả lo và thiếu tự
tin. Cô cố gắng học để được điểm cao, ân cần an ủi người bạn cùng pḥng khi bạn
bị thất t́nh và đau khổ khi bị vị hôn thê phụ bạc. Cô giận cha đă bỏ rơi mẹ con
ḿnh, thường nghĩ đến mẹ và đang t́m mọi cách cự tuyệt lời tỏ t́nh của một người
bạn phóng viên. Cô suy nghiệm về cuộc đời, uống rượu và thường biếng nhác cuộn
ḿnh trên chiếc ghế dài để bừa băi sách báo, nghĩa là cô rất nhạy cảm khi nói
chuyện với ngựi khác. Cô chỉ là một người rất b́nh thường như bất cứ một người
nào khác. Nhưng khi thi hành sứ mạng, Sydney hoàn toàn biến thành một máy đánh
đấm. Nhờ những khí giới tân kỳ do DS-6 cung cấp, cô đánh nhau như người máy
Terminator, đá cao tới cầm, nhảy từ nhà cao tầng xuống và dùng ăn ten xe để chọc
mù mắt đối thủ một cách tàn nhẫn. Cô điềm tĩnh, cương quyết ngay cả khi cô bị
những người tra vấn dùng kềm nhổ răng hàm. Mỗi kỳ phim tập kết thúc, Sydney lại
ở trong t́nh trạng thập tử nhất sanh, nhưng lúc nào cô cũng thoát hiểm, nhờ ḷng
tự tín tuyệt đối và hành động chuyên nghiệp.
Đối với Alias, cả thế giới đều
là một phần của Mỹ. Trong mỗi kỳ phim, Sydney có thể xuất hiện từ Los Angeles,
đến Cairo, Moscow, Rome và Oxford, Tuscany và Geneva, Madrid và Sao Paulo, từ
một nhà thương điên ở Bucharest cho đến sa mạc ở Argentina, trước khi trở về lại
Los Angeles. Các nước khác trên thế giới chỉ là thứ hành lang của nước Mỹ, nơi
các kẻ ác- kẻ thù của CIA và DS-6- đều được xem như là phe thù nghịch gian ác,
cần phải bị trừng trị đích đáng. Bất kể nơi nào Sydney đến thi hành nhiệm vụ,
chỉ trừ một vai chi tiết sai biệt nhỏ và một vài nhận vật địa phưong khác thường,
mọi nơi đều giống Los Angeles, nơi mà chuyện phim được sản xuất. Đối với Sydney
nơi nào cũng giống nhau. Không ai lấy làm ngạc nhiên khi Sydney đi bất cứ nơi
nào ngoài nước Mỹ cũng giống như cô đi ra sân sau nhà và trở về Mỹ sau khi hoàn
thành nhiệm vụ, như thể cô vừa mới đi mua sắm ở một shopping mall gần đó. Kẻ thù
của cô khắp nơi và đủ mọi mầu da: Á Rập, Trung Quốc, Nga, Cuba- những người hoạt
động cho các hệ thống phản gián độc lập và bí mật khác.
Alias chứng tỏ
nước Mỹ khổng chỉ muốn thống trị thế giới, nhưng trên thực tế, nước Mỹ
đang thống trị thế giới. Những quốc gia, những biên giới địa lư, những cơ
chế chánh trị đều không quan trọng. Điều quan trọng là một hệ thống truyền thông
binh vực quyền lợi của Mỹ trên diễn dàn thế giới. Không có siêu cường nào có thể
cạnh tranh với Mỹ, v́ Mỹ là một siêu cường vô địch duy nhất, thế giới chỉ có một
nguồn luật pháp và trật tự duy nhất từ Mỹ. Trong một trật tự mới như thế, thật
là vô nghĩa khi nói về đế quốc Mỹ hay chủ nghĩa đế quôc của Mỹ, bởi v́ ư nghĩa
và sự so sánh đều không c̣n đúng nữa. Chủ nghĩa thực dân cần chinh phục thuộc
địa và bắt dân chúng địa phương thành người bị trị. Chủ nghĩa đế quốc bào hàm
một trung tâm thống trị t́m cách thu phục thị trường và áp đặt những luật lệ
trong những quốc gia xa xôi. Hiện nay, cả địa cầu cũng giống như những phần đất
nối dài của Mỹ và có nhiều cá nhân và cộng đồng c̣n muốn ôm chặt lấy văn hóa và
giá trị của nước Mỹ như là tài sản quư giá của ḿnh. Alias chứng
minh cho mọi người thấy là khoảng cách không c̣n là một vấn đề nữa. Ngoài một ít
quốc gia “thảo khấu điếc không sợ súng” (rogue nations), không có quốc gia cho
dù xa xôi đến đâu mà không bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa đế quốc của Mỹ. Nước Mỹ
không c̣n là một đế quốc lỗi thời, t́m kiếm những vùng đất để áp đặt ảnh hưởng
của ḿnh và cạnh tranh với các quốc gia thực dân khác. Nước Mỹ là một siêu cường
vĩ đại đôc nhất vô nhị và không ai có thể có thể so sánh được. Không ai ngạc
nhiên khi thấy Alias xem thế giới như là phần đất của Mỹ. Nước Mỹ
là thế giới và thế giới là của nước Mỹ.
Nếu thế giới là của nước Mỹ,
một hậu quả tự nhiên là quyền lợi của Mỹ là quyền lợi của thế giới.
Và tất cả những người nào chống lại quyền lợi của Mỹ, hay văn hoá Mỹ, Mỹ sẽ xem
họ như là những người chống lại an sinh và an ninh thế giới. Những quốc
gia này hay những nhóm này bị Mỹ xem như những đám lục lâm thảo khấu, đạo tặc,
như những kẻ phạm tội (đầy nhóc trong các ghetto ở Mỹ), và những người này phải
bị trừng trị xứng đáng theo đúng “công lư” của Mỹ, càng sớm càng tốt. Đây là lư
luận căn bản của các cuộc can thiệp quân sự của Mỹ vào các nước khác, dễ dàng và
đều đặn như nhân vật Sydney, một gián điệp nhị trùng thượng thặng, đi thi hành
sứ mạng ở các nước xa xôi khác. Mỹ đă gởi quân đến những vùng đất như Trung Quốc,
Đại Hàn, Việt Nam và In Đô, và tới các nước láng diềng như Costa Rica, Guatamala
và Grenada.
Ngay từ năm 1823, Tổng Thống
James Monreo đă có một chủ trương, được gọi là Lư Thuyết Monroe, cho rằng toàn
bộ Châu Mỹ là dất đai và tài sản của Mỹ và không có một nước Châu Âu nào
được quyền léo hánh tới và ai cả gan có ư định này, nước Mỹ sẽ xem như là thành
phần ‘nguy hiểm cho hoà b́nh và anh ninh của nước Mỹ’. Nước Mỹ trực tiếp quan
tâm đến những ǵ xảy ra ở Châu Mỹ, và dựa trên tiền đề này, hầu như không có
nước Châu Mỹ La Tinh nào không nếm mùi đau khổ v́ sự can thiệp trắng trợn về
quân sự cũng như về chánh trị của Mỹ. Gần đây vào năm 1973, Mỹ đă đảo chánh một
chế độ dân chủ của Salvador Allende và đưa tên đồ tể Augusto Pinochet lên thay
thế. Allende không phải là một lănh tụ quốc gia xuất đầu lộ diện trong một sớm
một chiều. Ông ta là thành quả của một quá tŕnh chánh trị lâu dài ở Chile.
Không những Allende bị ám sát, có hàng ngàn những nhân vật tả phái ủng hộ ông bị
giam cầm, tra tấn và thủ tiêu- trong đó có cả các công dân Mỹ, với sự ám trợ hay
hổ trợ trực tiếp của Mỹ. Rồi đến phiên Nicaragua. Vào các năm trong thập niên
1980 Mỹ đă trực tiếp tham dự trong một cuộc chiến dai dẵng với phe tả phái
Sadanistas. Cuộc chiến tranh này lập lại cuộc chiến tranh vào năm 1927 (ba phần
tư thế kỹ trước đây), khi tổng thống Calvin Coolidge cho phép quân Mỹ xâm nhập
12 lần vào Nicaragua để lật đổ chánh phủ tự do dưới sự lănh đạo của Augusto
Cesar Sandino (tên của nhóm tả phái Sadanitas lấy tên của lănh tụ này). Mỹ kết
tội chánh phủ này là những ngựi Bolshevist. Ngay cả khi vụ điều tra ś-căn-đan
Iran-Contra được thiết lập, Mỹ vẫn tiếp tục tài trợ cho các nhóm du kích chống
chánh phủ Sadanitas, bất chấp những quyết nghị của quốc hội Mỹ cấm can thiệp và
tiền tài trợ cho nhóm Contra này là từ lợi tức bán thuốc phiện do CIA tổ chức.
Lư do viện dẫn để chống nhóm Sadinatas và ủng hộ nhóm Contra (nhóm này nổi tiếng
là đă hăm dọa và tra tấn tàn nhẫn người Nicaraguans vô tội) Mỹ kết tội nhóm
Sadinatas gồm những người phản dân chủ. Nhưng vào năm 1990, nhóm Sadinatas bị
thất cử ỏ Nicaragua và rời bỏ chánh quyền. Sau đó dưới sự lănh đạo của Daniel
Ortega, nhóm Sadinatas đă thất bại trong ba lần bầu cử liên tiếp và cả ba lần họ
đều chấp nhận kết quả của tṛ chơi dân chủ. Đa số dân Nicaraguans, ngoài những
vấn đề về nội bộ, nhận thấy rằng nước họ ‘b́nh an’ hơn dưới chánh phủ hiện tại,
v́ nếu Ortega lên lănh đạo, Mỹ sẽ xem như bị khiêu khích và sẽ dùng những biện
pháp quân sự để can thiệp vào nội bộ của họ.
Vào tháng 10 năm 1983 Mỹ lại
dùng vũ lực xâm chiếm một nước nhỏ khác, Grenada, và danh sách này c̣n tiếp tục
dài dài. Mỹ tiếp tục can thiệp quân sự hay dùng những hoạt động ngấm ngầm để can
thiệp vào nội bộ các nước Nam Mỹ như Bolivia, Brazil, Colombia, Cuba, Dominica,
Ecuador, El Salvador, Guatemale, Haiti, Honduras, Jamaica, Mexico, Panama, Peru,
Surinam, Uruguay. Dĩ nhiên lư do đưa ra lúc nào cũng là bảo vệ ‘dân chủ’, ‘nhân
quyền’, ‘tự do’, nhưng động cơ thực sự là bảo vệ thị trường của Mỹ. Mỹ đă ủng hộ
những lănh tụ độc tài ‘phản dân chủ’, ‘vi phạm nhân quyền” trên nhiều phần đất
khác của thế giới (Phác Chung Hy, Marcos, Ngô D́nh Diệm và có một thời Saddam
Hussein). Những người phải trả một giá đắt cho việc Mỹ dùng quân sự để bảo vệ
quyền lợi của ḿnh là những người dân vô tội trong những quốc gia này. Nạn nhân
vô tội bị sát hại, cầm tù, tra tấn và tiếp tục sống một cuộc đời nghèo khổ,
thiếu cơ hội thăng tiến có từ thời thực dân Tân Ban Nha.
Ngay sau biến cố 11 tháng 9,
Zoltan Grossman, một nhân vật tranh đấu cho hoà b́nh và một người viết thường
xuyên cho tạp chí Counterpunch, công bố một bản danh sách của “Tất cả những cuộc
can thiệp quân sự Mỹ từ trận Wounded Knee (nơi ngựi da đỏ bị tàn sát) đến
Afghanistan’, dựa trên ngay chính hồ sơ của Quốc Hội và Ban Nghiên Cứu Thư Viện
Quốc Hội Mỹ (Xem phụ lục)
Grossman liệt kê 134 cuộc can
thiệp, lớn cũng như nhỏ, tại ngay trong nước Mỹ hay tại các nước ngoài, trong
ṿng 111 năm qua, từ năm 1890 đến năm 2001. Cho đến cuối thế chiến thứ Hai, bản
liệt kê này cho biết, mỗi năm trung b́nh Mỹ can thiệp 1.15 vụ.Trong thời gian
chiến tranh lạnh, tỷ lệ này tăng lên 1.29. Sau khi bức tường Bá Linh bị sụp đổ,
tỷ lệ can thiệp này tăng lên 2.0 mỗi năm. Như thế từ khi trở thành một siêu-siêu
cường quốc, Mỹ càng can thiệp nhiều để bảo vệ quyền lợi của ḿnh. Hơn nữa, như
Johan Galtung, giám đốc của Transcend (Liên Hội Hoà B́nh và Phát Triển) cho thấy
trong tác phẩm Searching For Peace (2002), những địa điểm bị Mỹ can thiệp
cũng thay đổi rất nhiều sau thế chiến thứ Hai. Trọng tâm can thiệp của Mỹ lúc
đầu là ở Đông Á (Đại Hàn, Việt Nam, Nam Dương và cả Iran) và các cuộc can thiệp
này rất bạo động. Sau đó là tới Đông Âu (kể cà Liên Sô) tuy nhiên lúc đó Liên
Sô c̣n là một siêu cường nên các cuộc can thiệp bạo động ít lộ liễu hơn. Giai
đoạn thứ ba là ở Châu Mỹ La Tinh, bắt đầu từ Cuba và hầu như không có nước
nào ở Nam Mỹ không bị chánh quyền Mỹ can thiệp. Mức bạo động này
hiện diện trên cả hai phương diện vĩ mô và vi mô, tuy nhiên mức bạo động không
đến nổi như hung bạo như các cuộc can thiệp ở Đông Á. Giai đoạn thứ tư là Tây Á,
bắt đầu từ Palestine và Iran, đến Libya, Lebanon và Syria và vào đầu thế kỹ 21,
lan qua Iraq và Afghanistan. Có nghĩa là Mỹ can thiệp vào các quốc gia có các
nền văn hoá Khổng-Phật, cho đến Chính Thống Giáo và Thiên Chúa-Ky Tô và cuối
cùng là đến Hồi Giáo.
Phần lớn các nước trên thế
giới có nhận thức phổ thông về nước Mỹ, và biết Mỹ nghĩ ǵ vế thế giới qua các
show trên TV như Alias và các phim sản xuất từ Hollywood, như phim
Executive Action và The Siege. Tuy nhiên những nhận
thức này cũng dựa trên những kinh nghiệm thực tế- như những hành động ngang
ngược của Mỹ tại Liên Hiệp Quốc.
Thật vậy hành động của Mỹ tại
Liên Hiệp Quốc không khác ǵ hành động của cơ quan phản gián SD-6 trong show
Alias là bao nhiêu: v́ nước Mỹ khống chế thế giới, Mỹ muốn làm ǵ th́
làm. Nguyên Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc, ông Boutros Boutros-Ghali viết trong
tác phẩm Unvanquished: một chuyện trường thiên về mối liên hệ giữa Liện
Hiệp Quốc và Hiệp Chủng Quốc, cho rằng hiện nay Liên Hiệp Quốc chỉ là tài sản
của một cường quốc duy nhất- Mỹ. Các hành động không chế, dọa dẫm, dùng quyền
phủ quyết biến cơ quan quốc tế này thành một công cụ phục vụ cho quyền lợi
riêng tư của Mỹ. Khi nào trùng hợp với quyền lợi của ḿnh, Mỹ dùng cơ quan Liên
Hiệp Quốc để hợp pháp hóa cho những hành động của ḿnh, như thành lập liên minh
với các nước khác để trừng trị những quốc gia “thảo khấu” Như trường hợp
Bosnia). Khi nào bị dư luận thế giới chống đối, Mỹ đối xử Liên Hiệp Quốc một
cách khinh miệt.
Sau thế chiến thứ Hai, Mỹ là
quốc gia chính trong việc đôn đốc thành lập Liên Hiệp Quốc, và thành h́nh những
sáng kiến của Liên Hiệp Quốc như Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền- và xem mô
thức Tây Phương là mô thức điển h́nh toàn cầu. Trong suốt quá tŕnh hoạt
động của Liên Hiệp Quốc, Mỹ đă phủ quyết bất cứ một quyết định hay một quyết
nghị nào không phản ảnh ưu tiên và quyền lợi thương mại của Mỹ. William Blum
viết trong tác phẫm Rogue State (2001) “Hoa Thịnh Đốn thường xuyên thấy
ḿnh trong t́nh trạng đơn độc- thỉnh thoàng có thêm một hai quốc gia khác ủng hộ-
chống đối lại với những quyết nghị của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Những quyết
nghị của LHQ chỉ nhằm mục đích bành trướng việc bảo vệ nhân quyền, duy tŕ hoà
b́nh, tài giảm vơ khi nguyên tử, khuyến khích mọi nước tôn trọng công lư về mặt
kinh tế, chống lại chế độ kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi, vạch trần thái độ ngang
ngược của Do Thái bất chấp luật lệ quốc tế và những quyết định phát động các
công tŕnh tiến bộ khác trên thế giới. Từ năm 1984 đến năm 1987, theo bản liệt
kê của Blum, Mỹ đă đơn thương độc mă bỏ phiếu chống lại những quyết nghị của Đại
Hội Đồng Liên Hiệp Quốc hơn 150 lần.
Trên thực tế, Mỹ từ chối đóng
góp tiền phí tổn điều hành Liên Hiệp Quốc trong nhiều thập niên. Khi Mỹ đồng ư
trả số tiền thiếu sau khi đă thương thuyết để được ‘bớt’, nhưng cuối cùng Mỹ
cũng không chịu trả như đă hứa. Ai cũng thấy sự bực tức của các quốc gia khác
đối với Mỹ trong các kỳ họp đại hội đồng LHQ. Sự bực tức này đă đưa đến việc
thành lập Hội Đồng Kinh Tế và Xă Hội Liên Hiệp Quốc (ECOSOC) nhằm loại Mỹ ra
khỏi 53 hội viên của Ủy ban Nhân Quyền (HRC) vào tháng 5 năm 2001. (xem thêm bài
của Trần Chung Ngoc, Nhân Quyền cho ai? trên Giao Điểm và Chuyển
Luân)
Đây là lần đầu tiên chuyện này
xảy ra kể từ khi tổ chức ECOSOC được thành lập vào năm 1946. Các hội viên trong
ECOSOC bầu phiếu kín, và người ta nghĩ rằng chiến dịch trục xuất Mỹ khỏi tổ chức
này phải do các nước thuộc thế giới thứ ba phát động để trả đũa việc họ bị Mỹ
chèn ép. Trên thực tế, các phiếu của các quốc gia Ấu Châu và các quốc gia ‘thân
thiện” với Mỹ là những phiếu quyết định trục xuất Mỹ. Mỹ cũng bị một thất bại
tương tự vào năm 1998 khị bị trục xuất khỏi Ủy Ban Cố Vấn về Những Vấn Đề Tài
Chánh và Hành Chánh (ACABQ), tuy nhiên sau đó được phép tái gia nhập. Ủy ban này
có trách nhiệm chính về tại trợ cho toàn thể tổ chức Liên Hiệp Quốc.
Mỹ tiếp tục chống đối những
sáng kiến của Liên Hiệp Quốc nhằm bành trướng việc bảo vệ nhân quyền (theo mô
thức LHQ). Chỉ có hai quốc gia chưa chịu phê chuẩn-ngoại trừ Iraq- hiệp ước về
Bảo Vệ Quyền Lợi Trẻ Em. Mỹ cũng chưa chịu phê chuẩn quyềt nghị
cấm dùng ḿn đặt dưới đất (Landmines) và Hiệp Ước thiết lập Toà Án Tội Phạm Quốc
Tế. Theo Ủy Ban chống Tra Tấn của Liện Hiệp Quốc, cơ quan giám sát các hành động
của các quốc gia hội viên, Mỹ tiếp tục vi phạm Những Quy Ước thế giới. Lực
lượng đặc biệt Mũ Xanh của Mỹ thường xuyên tra tấn trong khi thẩm vấn các tù
binh mà họ bắt được ở Việt Nam. CIA thường xuyên tra tấn các người bị
t́nh nghi là những cán bộ nằm vùng trong các tổ chức tỵ nạn Số Viết ở Tây Âu. Mỹ
huấn luyện và duy tŕ tổ chức mật vụ SAVAK, một tổ chức mật vụ độc ác nổi tiếng
của Hoàng Gia Iran trước đây. Mỹ huấn luyện và trang bị các tổ chức mật vụ của
Bolivia, Uruguay, Brazil và Do Thái với các kỹ thuật tra tấn hiện đại. Đây chỉ
là một vài thí dụ nhỏ. Như Blum ghi nhận, trong hai năm 1982 và 83, Mỹ đă bỏ
phiếu chống các tuyên ngôn về giáo dục, nhân dụng, Y Tế , dinh dưỡng và phát
triển quốc gia, được cộng đồng thề giới xem là những yếu tố quan trọng của nhân
quyền. Và 13 năm sau đó, thái độ của Mỹ về những vấn đề này cũng không mềm dẻo
thêm một chút nào. Vào năm 1996, một Hội Nghị Thượng Đỉnh Về Lương Thực, do Liên
Hiệp Quốc bảo trợ, đă xác định “tất cả mỗi người đều có quyền được bảo đảm an
toàn và quyến được nuôi nấng đầy đủ dinh dưỡng”. Mỹ tuyên bố là họ không công
nhận ‘quyền được nuôi nấng bổ dưỡng’ là một yếu tố nhân quyền căn bản! Đối với
những người dân ở các nước đang phát triển, những quyền này, được các cộng đồng
thế giới đề xướng ra và cổ động như là mô thức của nhân quyền trên thế giới- là
một phần của phương tiện tự vệ chống lại các nhà cai trị độc tài, tham nhũng và
đối xử bất công trong các quốc gia và bởi các đại lư và các tổ hợp của nước
ngoài. Trong hiện trạng và lịch sử của các nước trong khối thứ Ba, xác nhận
những nguyên tắc này như những quyền làm người căn bản, đưa đến các cuộc thảo
luận về những cơ chế bất công c̣n lưu lại, những cơ chế vẫn có gây ra bất công,
nghèo đói và thiếu đồng đều cơ hội. Nó cũng khuyến khích những biến đổi xă
hội. Thay vào đó, Hoa Thịnh Đốn, chỉ muốn cổ vơ cho một chuyện duy nhất:
Tự Do Mậu Dịch.
Nếu Mỹ là thế giới, Mỹ không
cần một định chế thế giới nào để điều hành chánh sách về ngoại giao và kinh tế
của ḿnh. Nói một cách tổng quát, Mỹ không cần đến những cơ quan của LHQ như
Chương Tŕnh Phát Triển(UNDP), Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hoá Liên Hiệp
Quốc (Unesco), Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR). Một tổ chức mà Mỹ hoàn toàn
kiểm soát là Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO). Thực thế nhiều người nói là WTO
là một dụng cụ chính yếu để Mỹ duy tŕ “chủ nghĩa đế quốc”. Tuy nhiên lời phê
b́nh này đưa chúng ta lại một mô thức lỗi thời khi so sánh Mỹ với các nước đế
quốc thực dân Âu Châu trước đây. Ngày nay, kỹ thuật đă gắn liền sản xuất, phân
phối và hệ thống thị trường, liên kết các nhà sản xuất, thiết kế và người tiêu
thụ với nhau, giúp tư bản và các sản phẩm tiêu thụ và văn hóa của Mỹ tràn ngập
thế giới, không c̣n bị giới hạn của biên giới quốc gia như thời trước đây. Như
chúng ta thấy trong show truyền h́nh Alias, nhờ kỹ thuật tân tiến
mà nhân vật Sydney hoàn thành sứ mệnh một cách dễ dàng. Khi nhân vật này đi đến
các nơi khác trên thế giới, cô luôn luôn liên lạc với ngựi chỉ huy. Chỉ cần một
vài giây cô có thể dùng các tia laser để mở một tủ sắt an toàn trong một ngân
hàng có những biện pháp an ninh chặt chẽ. Cô có thể kêu trực thăng Mỹ đến cứu
khi đang ở trên một sa mạc ở Argentina, và từ một nơi xa xôi cô có thể sao chép
hồ sơ trong phần cứng trong máy vi tính ngay tức khắc. Cũng thế, kỹ thuật tân
tiến và vĩ đại đă biến Mỹ thành một siêu cường vô địch.Với hệ thống vi tính nối
kết vĩ đại, một ngàn năm trăm tỷ ($1.5 Trillion) có thể đổi chủ trong ṿng một
ngày. Tất cả con bài chính nằm trong tay của những người nắm giữ kỹ thuật và
thông tin. Những điều này dẫn đến việc thành h́nh một śêu cường “độc cô cầu bại”.
Những tổ chức được Mỹ chọn lựa
để duy tŕ vị thế siêu cường của ḿnh không phải chỉ có WTO, nhưng c̣n là Quỹ
Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank). Trước tiên WTO, IMF là
một tổ chức THIẾU MINH BẠCH và PHẢN DÂN CHỦ nhất. Tất cả những
chánh sách đều được quyết định trong ṿng bí mật. Sự bí mật trong quá tŕnh đạt
đến các quyết định biến các cơ quan này thành những cơ quan lư tưởng khiến những
quốc gia đang bị khó khăn có thể than phiền khiếu nại. Thứ hai, các cơ quan WTO
và IMF là những bộ máy hữu hiệu để bắt các quốc gia khác thi hành bổn phận bắt
buộc, nhất là quốc gia đang phát triển. WTO dọa là sẽ trả đũa đối với hàng hóa
xuất cảng của các quốc gia bất tuân lịnh, và IMF áp đặt những điều kiện vay nợ
khắt khe cho các nước nghèo. Nước Mỹ đă dùng các cơ quan này để áp lực các quôc
gia đang phát triển không được lộn xộn và giúp các tổ hợp kinh tế thế giới hủy
bỏ được những chướng ngại và nếu cần, đưa vài quyền lợi nhỏ để quyến dụ các quốc
gia này chịu phục tùng. Theo quy ước do Mỹ áp đặt, tất cả những chức vụ chỉ huy
của các cơ quan WTO, IMF và World Bank do Mỹ và Âu Châu chia nhau chỉ định. Khi
một nhân vật từ một nước đang phát triển, như Supachai Panitchpakdi của Thái Lan,
có nhiều triển vọng trở thành một ứng cử viên lănh đạo WTO, Mỹ bèn áp dụng vơ tự
do. Cựu Tổng Thống Bill Clinton dọa sự bế tắc trong việc chỉ định chức vụ lănh
đạo sẽ kéo dài vĩnh viễn, trừ phi ứng cử viên do Mỹ đưa ra được chỉ định.
Clinton nói thẳng thừng là ông phải “chú ư đến những vấn đề liên quan đến quyền
lợi của nước Mỹ khi chỉ định người chỉ huy của tổ chức này và việc chĩ định này
phải phù hợp với những điều mà chúng tôi tin tưởng là sẽ phục vụ cho những nhu
cầu của WTO.” V́ thế không ai ngạc nhiên khi tờ Financial Times trích dẫn kết
luận của Ủy Ban điều tra do Liên Hiệp Quốc về việc chỉ định Giám Đốc của WTO, đă
so sánh WTO như là cơn ác mộng hăi hùng của các nước đang phát triển. Những hoạt
động của WTO phản ảnh cho một chánh sách cổ động cho quyền lợi các tổ hợp kinh
tế quốc tế, hiện nay hầu như đă đóng vai tṛ độc quyền trên các hoạt động
thương măi quốc tế. Theo tờ The Economist cho IMF và World Bank là công cụ phản ảnh rơ ràng chánh sách ngoại giao của các nước Tây Phương, nhất là Mỹ.
Nói một cách khác kinh tế thế
giới hiện nay hoạt động cho quyền lợi của Mỹ và nhóm đại cường kinh tế G7 do Mỹ
cầm đầu. (Nga la một hội viên mới G8, tuy nhiên không đóng vai tṛ đáng kể về
kinh tế) Đối với các nước đang phát triển, các hoạt động này chỉ là sự xếp đạt
liên tục để giữ họ măi măi bị giữ trong t́nh trạng yếu thế. Nếu những cấu trúc
kimh tế tiếp tục hoạt động như thế, cái gọi là phát triển kinh tế, như
chúng ta thường hiểu hiện nay, là một trở ngại hơn là một giải pháp cho t́nh
trạng chậm tiến. Sự phát triền có tánh cách quy ước hiện nay tạo ta một
t́nh trạng lẩn quẩn, làm thiệt hại đến quyền lợi của những nước nghèo nhất. Theo
mô thức phát triển quy ước này, các nước nghèo tiếp tục nai lưng ra nhập cảng
những kỹ thuật mắc tiền- và thường thường lỗi thời tại các nước tiên tiến- từ Mỹ
và các nước phát triển kỹ nghệ khác, mà các nước đang phát triển ít có khả năng
quản lư và bảo quản. Các kỹ thuật này thường lấn át các kỹ nghệ sản xuất cũ kỹ
địa phương. Các quốc gia đang phát triển biết rơ nghịch lư này và thường nài nỉ
yêu cầu Mỹ thay đổi chánh sách, nhưng thường bị gác bỏ ngoài tai. Nếu cả thế
giới chỉ có một cái nh́n duy nhất và chỉ có một số các “giá trị” chung, v́ hoàn
cảnh lịch sử và kinh tế phức tạp khác biệt, các ‘cơ hội phát triển kinh tế’ của
các nước nghèo dần dần trở thành những thất bại kinh tế và cuối cùng các cơ hội
này hoàn toàn biến mất. Những sự thất bại kinh tế không phải là do lỗi của các
của những nước nghèo mà là một phó sản trực tiếp của thái độ ích kỷ của
những nước giáu nhất. Nước Mỹ đă dùng 8 phương thức để tước đoạt tài sản của
các quốc gia nghèo mà chúng ta sẽ lần lượt xem xét sau đây.
1-
Nước Mỹ đă tài trợ sự tăng trưởng kinh tế quốc nội của ḿnh bằng cách
dùng vốn tiết kiệm của cả thế giới. Ed Mayo, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu New
Economic Foundation (NEF), đặt cơ sở ở London, nói là “kể từ khi vàng không c̣n
là trữ kim để bảo đảm cho việc phát hành tiền tệ, Mỹ hưởng lợi rất nhiều v́ Mỹ
là một nước dẫn đầu về tiền tệ. Mỹ phát hành tiền tệ một cách tự do (v́ không
cần trữ kim bảo chứng-seignorage) và tiền Mỹ trở thành đơn vị tiền tệ lưu hành
khắp thế giới. Mỹ cũng tự ư quyết định mức lăi xuất tuỳ theo quyền lợi nước Mỹ
thay v́ quyền lợi của thế giới. Một trong những thảm họa xảy ra v́ chính sách
tài chánh dưới thời Reagan và Thatcher là việc Mỹ nâng mức lăi xuất lên quá cao,
đă gây ra sự sụp đổ tài chánh của Mexico, làm nước này vĩnh viễn mang nợ ngập
đầu cũng như làm thiệt hại đến các quốc gia nghèo khác. Từ đó đến nay, có rất
nhiều quốc gia đă lâm vào t́nh trạng thiếu nợ ngập đầu ngập cổ tương tự. Nhiều
quốc gia lâm vào t́nh trạng tân thối lưỡng nan, hoặc là họ thả nổi giá trị tiền
tệ, một quyết định bất lợi v́ sức mạnh của đồng Mỹ Kim, đồng Yen và đồng Euro,
hay định giá trị tiền tệ theo một mức nào đó so đồng đô la Mỹ, thường đưọc gọi
là “đô-la hóa”, với những hậu quả không thể lường trước được như trong trường
hợp của Argentina. Mayo nói là khi một quốc gia nghèo như Argentina bị mắc nợ
không c̣n cứu văn được, một số lượng tiền tệ khổng lồ (130 tỷ Mỹ Kim, gần bằng
tổng số tiền mà Argentina mắc nợ) bị các giai cấp giàu có đưọc giáo dục từ Mỹ,
chuyển sang các ngân hàng ngoại quốc, phần lớn sang các ngân hàng ở Mỹ. T́nh
trạng này cũng tương tự như trường hợp các nông gia nhỏ ở Mỹ phải chịu đựng. Các nông gia nhỏ ở Mỹ được khuyến khích mượn tiền với mức lời “rẻ” để khuếch trương nông trại của họ, mua thêm nông cụ, hạt giống vân vân, nhưng cho dù họ có canh tân hay cải thiện nông trại đến đâu họ cũng không thể nào cạnh tranh với
những công ty nông nghiệp lớn có tài nguyên vĩ đại, hiện kiểm soát sản xuất cũng như thị trường Mỹ. Hậu quả là số tiền mắc nợ càng ngày càng nhiều, và các quốc gia- cũng như các nông gia độc lập nhỏ ở Mỹ, không đủ lợi tức để trả tiền lời, nói chi là tiền vốn, dù họ làm việc khó nhọc bao nhiêu.
2-
Mỹ từ chối không cho hai phần ba dân chúng toàn cầu kiểm soát một cách
dân chủ các nền kinh tế của họ. Phần lớn các quốc gia đảng phát triển không có
tiếng nói nào trong các quyết định của IMF và không có quyền phát động bất cứ
một sáng kiến nào để thay đổi các quyết định của WTO, nhất là những chánh sách
họ bắt buộc phải thi hành như những điều kiện bắt buộc khi được vay tiền. Các
chính sách này đưa đến việc các tư bản ngoại quốc dần dần làm chủ các cơ quan
tài chánh và guồng máy sản xuất và chế ngự hầu hết kinh tế quốc gia. Thí dụ như
trong cuộc khủng hoảng kinh tế tại các nước Đông Nam Á, IMF, với áp lực của Mỹ,
buộc Thái Lan và Nam Hàn phải cho tư bản ngoại quốc làm chủ thêm cổ phần các
ngân hàng và công ty tài chánh. Đây là những điều kiện có tánh cách chiến lược
quan trọng nhất của IMF, ngoài những điều kiện kinh tế vĩ mô (macro-economic)
như tăng mức lăi xuất, giảm mức chi tiêu của chánh phủ (phần lớn về mặt an sinh,
y tế, giáo dục), chú ư đến mức tăng trưởng kinh tế và giảm sự thâm thủng ngân
sách. Như một phần của các điều kiện trong cuộc thương thuyết với IMF, Thái Lan
“được” yêu cầu cho tư bản ngoại quốc làm chủ thêm các ngân hàng địa phương. Qua
những điều kiện cho mượn tiền kiểu này, các đại công ty thương măi và kỹ thuật
cuối cùng làm chủ một phần hay toàn phần các cổ phần trong các ngân hàng địa
phương, các cơ quan tài chánh cũng như các ngành kỹ thuật chính yếu tại các nước
đang phát triển.
3-
Mỹ giải thích việc “tự do hoá thương mại” một chiều, nghĩa là các nước
đang phát triển phải mở cửa cho các tổ hợp và các doanh nghiệp Mỹ. “Tự Do Hoá
thương mại”, nghĩa là hủy bỏ hay giảm các hàng rào ngăn chặn hàng hóa và dịch vụ
giữa các quốc gia, đă bắt đầu từ thập niên 1980. Theo các thỏa ước của WTO về
nông phẩm, (AoA) Word Bank và IMF đặt ra chương tŕnh gọi là chương tŕnh gọi là
“thích ứng các cấu trúc” (SAPs) mà các nước đang phát triển phải thực hiện. Các
nước nghèo không những phải thay đổi chánh sách về thực phẩm và nông nghiệp, c̣n
phải mở cửa kinh tế của họ để nhập cảng thực phẩm, đồng thời giảm hay giới hạn
mức trợ cấo tài chánh cho các nông gia địa phương. Trong khi hiệp ước AoA đ̣i
hỏi các hội viên của WTO giảm mức ǵới hạn thực phẩm nhập cảng xuống 24% trong
ṿng 10 năm, phần lớn các SAPs đ̣i hỏi các nước đang phát triển thực hiện nhiều
phương thức “tự do hóa thương mại” toàn diện, cũng như các phương thức liên hệ
như tư hữu hóa những công ty quốc doanh, băi bỏ việc trợ cấp và kiểm soát giá cả
và băi bỏ các Ủy Ban Phụ Trách Thị Trường (như Ủy Ban Phân Phốí Lúa Ḿ Úc AWB có
thể bị hy sinh đề đánh đổi hiệp ước về tự do mậu dịch mà Ua Và Mỹ đang kèn cựa)
. Ai cũng tưởng là các thỏa thuận mà WTO đưa ra là do sự đồng ư và tham dự của
các nước đang phát triển. Trên thực tế, toàn bộ thỏa thuận này là do Mỹ và khối
Âu Châu đạo diễn. Cơ quan từ thiện Anh Oxfam gọi AoA là hành động “lường gạt”
trắng trợn và là một trong những nguyên nhân làm tăng mức độ nghèo khó của
dân chúng các các quốc gia thứ ba và đă huỷ diệt nguồn sinh sống cùa những nông
gia nhỏ. Thỏa thuận này giúp Mỹ và khối Công Đồng Âu Châu xuất cảng các
hàng hóa với giá rẻ sang các nước đang phát triển, và các nông gia ở các nước
này không thể nào cạnh tranh nổi về giá cả và sẽ phải bị phá sản hay đổi nghề. Các hàng hóa nhập cảng với giá rẻ là một dịp để các nước giàu “đem đổ” các thực
phẩm thừa mứa qua các nước nghèo, thường được bán thên thị trường địa phương với
giá rẻ mạt, dưới cả giá thành sản xuất. Thí dụ như tại Ghana, nông dân không thể
nào bán nông phẩm như bắp, gạo, đầu nành, thỏ, cừu và dê với một giá phải chăng,
ngay tại các thị trường trong làng xóm. Trong quá tŕnh sản xuất, các nông gia
này phải trả giá cao cho các loại phân bón và thuốc diệt rầy và hạt giống với
giá cao- và giá bán ra thường thấp hơn giá thành sản xuất. Tuy nhiên giá
thực phẩm bán cho người tiêu thụ vẫn không hạ. Mức sống của các nông
dân nghèo khó ở các vùng quê càng ngày càng thấp mặc dù mức sản xuất của họ tăng
gia. Hậu quả là, có hàng ngàn nông dân phải đổ ra các thành phố lớn t́m cách
sống và họ trở nên một gánh nặng cho kinh tế quốc gia. Hậu quả thường thấy là
kinh tế nông thôn bị huỷ diệt, mức sản xuất thực phẩm địa phương xuống dốc và
mức độ an toàn trong việc cung cấp thực phẩm cho dân chúng trong nước bị đe dọa.
Hiện tượng này được lập đi lập lại từ quốc gia này sang quốc gia khác.
4-
Mỹ cổ động cho một loại “kinh tế tự do” nhưng chính thực ra nhằm hủy diệt
tự do kinh tế của người nghèo. Các nưóc đang phát tŕển nằm trong thế gọng ḱm.
Một mặt họ phải mở rộng cửa cho những doanh nghiệp kỹ nghệ của các nước ngoài
vào và họ cần dành giựt những thị trường trên thế giới. Mặt khác, việc mở cửa tự
do này ngăn cản những cố gắng của họ trong nổ lực tăng gia sản phẩm và kỹ nghệ
xuất cảng nhưng trên th5ưc tế hàng hóa do họ sản xuất không xâm nhập vào thị
trường Mỹ như họ mong muốn. Kinh tế thị trường là thế đấy! Kinh tế này c̣n mang
tên khác là chủ nghĩa tân tự do (neo-liberalism), muốn trở lại chủ nghĩa tự do
thề kỷ thứ 19, nền kinh tế ‘muốn làm ǵ th́ làm’, trong đó nhà nước hoàn toàn
không nhúng tay can thiệp vào các hoạt động kinh tế. Trên thực tế chánh quyền Mỹ
đóng một vai tṛ quan trọng trong việc cổ động cho các tổ hợp quốc tế và các
doanh thương Mỹ. Cho nên cái gọi là “tự do mậu dịch” do WTO và IMF cổ động không
khác ǵ hơn là một h́nh thức “ăn cướp cạn” (nguyên văn highway robbery), chỉ có
lợi cho nước giàu và khiến cho dân chúng ở các nước nghèo bị nguy cơ thiếu thực
phẩm, như Andrew Simms, người cầm đầu chương tŕnh kinh tế toàn cầu NEF. V́
những chánh sách kinh tế của Mỹ, dưới biểu ngữ kinh tế toàn cầu hóa, mỗi một
ngày các nước nghèo mất gần 2 tỷ đồng v́ chương tŕnh mậu dịch quốc tế “gian lận”
(rigged) này, 30 ngàn (ba chục ngàn) trẻ con bị chết v́ những căn bịnh có thể
ngăn ngừa được và 60 triệu mỹ kim từ các nước nghèo chạy vào trong túi của các
nước giàu.
5-
Mỹ ngăn cản một cách có hệ thống các biện pháp làm giảm nghèo đói và cung
cấp thực phẩm cho dân chúng của các nước đang phát triển. Trái với nguyên tắc
căn bản của tự do mậu dịch, Mỹ đă t́m nhiều cách để dựng lên một hàng rào ngăn
cản các nông phẩm nhập cảng vào Mỹ như gạo, đường, và cà phê; đối các loại hạt
Mỹ cấm nhập cảng 100%. Các giới hạn về thương măi này đă làm các nước nghèo
thiệt hại 2 tỷ rưỡi một năm trong việc thu nhập ngoại tệ. Hậu quả toàn diện rất
khốc hại. Thí dụ như ở Haiti, việc tự do hóa thị trường lúa gạo và sự tăng gia
trợ cấp các sản phẩm nhập cảng từ Mỹ không những làm hủy hoại kỹ nghệ sản xuất
lúa gạo ở đây mà c̣n làm vô số nông gia không c̣n đất sống và đe dọa việc cung
cấp lương thực của quốc gia này. Từ quốc gia này đến quốc gia khác, các kỹ nghệ
cần nhiều nhân công và các kỹ nghệ tạo ra công ăn việc làm cho công nhân của các
nước nghèo như kỹ nghệ hàng vải, giày dép và nông nghiệp bị sụp đồ. Việc Mỹ bán
tháo bán đổ các sản phẩm, thường với giá rẻ hơn là giá thành sản xuất của các kỹ
nghệ địa phương, đă tiêu hủy nguồn sinh sống của thành phần yếu kém nhất và
khiến họ lâm vào cảnh nghèo nàn truyền kiếp.
6-
Mỹ gạt gẫm những quốc gia kém phát triển nhất và làm tăng nạn nghèo khó ở
các quôc gia này. Thí dụ như Đạo Luật Tăng Trưởng Và Cơ Hội cho các quốc gia Phi
Châu (AGOS) do Tổng Thống George W, Bush kư vào tháng 10 năm 2001, đă lừa các
quốc gia Phi Châu. AGOA lẻ ra phải miễn thuế nhập cảng và băi bỏ giới hạn cho
các sản phẩm nhập cảng từ các quôc gia Phi Châu vào thị trường Mỹ, để đổi một
vài nhượng bộ kinh tế cho một số các công ty Mỹ. Các quốc gia Phi Châu được lợi
những ǵ? Mỹ chỉ cho nhập cảng các loại hàng nào không gây thiệt tḥi của các
nhà sản xuất của Mỹ. Do đó các nông phẩm như cà phê, đường và những sản phẩm
khác có thể đem lại lợi tức cho các nên kinh tế Phi Châu, không được bao gồm
trong danh sách các sản phẩm đặc biệt này. AGOA cho phép các loại hàng vải và
quấn áo do các nước Phi Châu sản xuất được miễn thuế và nhập cảng tự do, tuy
nhiên chỉ có loại hàng vải nào dùng tơ sợi của Mỹ để dệt mới được nhập cảng dễ
dàng. Các loại hàng vải dệt từ tơ sợi do các nước Phi Châu hay các nước khác sản
xuất sẽ bị giới hạn. V́ệc các sản phẩm được “tự do” nhập cảng vào Mỹ được duyệt
xét hàng năm và không được quá 3.5% của các sản phẩm hàng vải nhập cảng vào Mỹ
trong ṿng 8 năm. Hơn nữa Mỹ có thể rút lại đặc quyền này bất cứ lúc nào, nếu
thấy số lượng hàng vải nhập cảng vào Mỹ tăng lên một mức có thể đe dọa các kỹ
nghệ quốc nội. Việc đ̣i hỏi các nguyện liệu của Mỹ phải được dùng trong việc sản
xuất hàng vải làm thiệt hại kỹ nghệ sản xuất nhiên liệu của các quốc gia Phi
Châu; họ phải trả nguyên liệu nhập cảng từ Mỹ với một giá rất mắc, chưa kể sở
phí chuyên chở và các sở phi liên hệ khác. Do đó các sản phẩm hàng vải do các
nước Phi Châu sản xuất không cạnh tranh nổi với hàng nội địa Mỹ về mặt giá cả.
Không phải là các sản phẩm này không cạnh tranh nổi với sản phẩm của Mỹ hay của
các nước khác, nhưng v́ những luật lệ do Mỹ đặt ra khiến cho các sản phẩm này
không cạnh tranh nổi! Mỹ đ̣i hỏi lại những ǵ trong chuyện này? Đạo luật AGOA
đ̣i hỏi các quốc gia Phi Châu phải:
·
băi bỏ hàng rào nhập cảng và mức đầu tư giới hạn ở Phi Châu, đối
xử các công ty Mỹ như các công ty Phi Châu và bảo vệ bản quyền bảo vệ tài sản
trí thức của Mỹ đúng theo tiêu chuẩn quốc tế
·
Tư hữu hóa thêm và không đưọc trợ cấp các công ty quốc doanh và
băi bỏ sự kiểm soát về giá cả
·
bảo đảm các tiêu chuẩn quốc tế về lao động và định mức tuổi lao
động cho trẻ con
·
Không được có hành động nào có thể làm tổn thương đến an ninh quốc
pḥng và chánh sách ngoại giao của Mỹ.
Mỹ có đưọc
những quyền lợi thiết thực từ đạo luật AGOA , trong khi quyền lợi của các nước
Phi Châu chỉ là một thứ bánh vẽ! Những loại “hiệp ước” kiểu này đă gây ra thêm
nạn nghèo đói ở Phi Châu trong ṿng 2 thập niên qua.
7-
Mỹ tiếp tục có những hành động nhằm hạ giá các sản phẩm tiêu dùng của các
nước đang mở mang. Mayo nói: “Chống lạm phát đựợc xem như là một trong những
thành công chính của kinh tế Mỹ trong ṿng 10 năm qua và đă làm giá hàng tiêu
dùng càng ngày càng hạ. Các hàng hóa giá hạ này do các quốc gia đang mắc nợ ngập
đầu xuất cảng. WTO và IMF đă khuyến khích các quôc gia nghèo nâng mức xuất cảng
như là một phương thức trả nợ. Những sản phẩm như trà, cà phê, và các loại hạt-
viện trợ- và nạn dư thừa các sản phẩm khiến các quôc gia nghèo phải mượn nợ
nhiều thêm- trong khi lợi tức của các quốc gia Phi Châu giảm xuống. Trong khi
WTO và IMF hổ trợ việc các nước nghèo xuất cảng khiến cho số lượng sản phẩm xuất
cảng thừa mứa, không có một tổ hợp xuất cảng nào thành h́nh, trừ tổ hợp xuất
cảng dầu lửa OPEC, để quân b́nh mức cung và mức cầu. Khi những tổ hợp này sắp
sữa được thành lập, các công ty đại diện quyền lợi Mỹ t́m mọi cách ngăn cản, như
dự định thành lập một tổ hợp của các nhà sản xuất chuối phải bỏ dở nửa chừng vào
các năm 1970, khi tổ hợp này muốn thành lập theo mô thức của tổ hợp các quốc gia
sản xuất dầu hỏa. Các công ty sản xuất chuối ở các nước Trung Mỹ và Châu Mỹ La
Tinh nghĩ là họ có thể hành động theo tổ hợp của các quốc gia sản xuất dầu hỏa.
Tuy nhiên chuối không phải là dầu, v́ chuối không thể giữ lâu dưới ḷng đất như
dầu, khi nào muốn bán th́ bơm lên bán, nhờ đó có thể kiểm soát mức cung cấp.
Chuối để lâu sẽ bị hư thối! Tuy nhiên lư do chính khiến các tổ hợp chuối không
thể thành h́nh được v́ các các đại công ty chuối ở Mỹ như Chiquita t́m cách phá
hoại sự h́nh thành của tổ hợp này. Chuối thuộc thị trường của người mua, mà
người mua chính là dân Mỹ. Dân chúng Mỹ hưởng lợi v́ mua chuối với giá hạ và chỉ
có các quôc gia sản xuất bị thiệt tḥi. Mỹ xếp đặt một cấu trúc kinh tế toàn cầu,
và trong bất cứ hoàn cảnh nào, chỉ có kinh tế Mỹ có lợi!. Sở dĩ dân Mỹ có thể
duy tŕ được lối sống cao của một quốc gia giàu có nhất trong lịch sử thế giới,
nhờ mua thực phẩm với giá rẻ, nhờ sự làm việc nặng nhọc và cố gắng liên tục của
dân chúng ở các quốc gia nghèo nhất!
8-
Nếu những điều này vẫn chưa đủ, Mỹ sẽ tự ư áp đặt những cấm vận kinh tế,
được biềt như là những cấm đoán (sanctions) một cách thường xuyên. Trong ṿng 80
năm qua, Mỹ đă đưa ra các những cấm đoán về kinh tế tất cả là 120 lần, 104 lần
kể từ khi thế chiến thứ 2 chấm dứt. Chỉ nội trong năm 1998 Mỹ đă đưa ra những
cấm đoán đối với 75 quốc gia khác nhau, làm ảnh hưởng đến đời sống của 52% dân
số toàn cầu.
Quán
Như chuyển ngữ từ chương 3 của tác phẩm Why Do People Hate America?
Ziauddin Sardar & Merryl Wyn Davies, Icon Books, UK, 2002
Lời
bạt của người chuyển ngữ: Trong khi dịch bài này, tôi đọc được bài Một
Chuyến Về Quê của Hà Dương Dực. Anh Dực than phiền về nạn tham nhũng ở Việt Nam
và hy vọng là vào năm 2005, Việt Nam sẽ tham gia vào WTO. Anh Dực nói là muốn
hủy bỏ nạn nghèo đói ở Việt Nam cần làm hai chuyện. Một là rủ bỏ cái lư thuyết
lỗi thời như ở Nga và Đông Âu, nói một cách khác là từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản.
Hai là anh hy vọng là khi Việt Nam vào WTO, dân chúng sẽ giàu có hơn. Anh nói: “Tôi cũng vẫn c̣n hy vọng trông mong ở lịch tŕnh vô W.T.O. V́ vô W.T.O th́
luật pháp phải nghiêm minh, rơ ràng Với sức ép của cả trong lẫn ngoài th́ hy
vọng đất nước ta sẽ tiến triển tốt hơn và nhanh hơn trước nhiều. Hơn 80 triệu
dân ta đâu phải thiếu nhân tài.”
Đọc xong bài
này, tôi có một nỗi vui mừng và một mối lo. Mừng là v́ không có “cái gọi là Nhóm
Giao Điểm”. Giao Điểm chỉ là một Diễn Đàn của một số anh em Phật Tử “ưu thời mẫn
thế”, bày tỏ những suy nghĩ riêng tư của ḿnh về Đạo và Đời, không làm ǵ có
chuyện ‘nhất trí”. “Nhất trí” là bóp nghẹt và giết chết tư tưởng, biến trăm hoa
thành một thứ Cúc Vạn Tho! C̣n lo là có nhiều bài viết v́ cảm tính, thiếu thông
tin và kết luận tùy tiện. Không ai cản anh em viết tùy bút. Không ai cản ai
chống ai, miễn là phải có lập luận và thông tin hổ trợ. Chuyện đi ngược lại cơn
lốc Globalisation có thể là chuyện bất khả, như Trung Quốc là một thí dụ. Tuy
nhiên chánh sách khôn ngoan của các nhà cầm quyền Trung Quốc đă biến Trung Quốc
thành một nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới hiện nay (9%). Khi
Mỹ yêu cầu Trung Quốc tăng giá trị tiền tệ, Trung Quốc lắc đầu nguầy nguậy! Và
Trung Quốc không cần bỏ ư thức lỗi thời (i.e, Cộng Sản) mà chỉ làm theo lời (Đặng
Tiểu B́nh) Tử viết: “Có thể lột da mèo bằng nhiều cách”. Nhưng bảo là “WTO luật
pháp nghiêm minh”, xin lổi anh Dực, tôi không ngửi nổi! Cũng xin cán ơn anh Trần
Chung Ngọc. Sau khi dịch xong bài này, đọc lại bài về Nhân Quyền của anh, tôi
mới thấy thấm thía. Tôi chỉ đồng ư với anh Dục là, t́nh trạng tham nhũng bên nhà
có thể gây những đại họa lâu dài cho dân tộc. Cứ tưởng tượng là các đại công ty,
tổ hợp kinh tế Mỹ đề nghị tặng một số các viên chức kinh tế hoạch định chính
sách một ít shares tại thị trường chứng khoán của Mỹ, mười hiệp ước để vào WTO
họ cũng kư, nữa là một. Anh Dực ớ, đó mới là lư do khiến dân chúng ở các nước
nghèo như nước ḿnh “nghèo măi măi”, không ngóc đầu lên được. C̣n cái lư thuyết
cũ kỹ th́ nhằm nḥ ǵ mấy thứ lẻ tẻ đó, nếu anh c̣n nhớ “(Đặng Tiểu B́nh) Tử
viết:…”
Phụ lục: Các cuộc can
thiệp quân sự của Mỹ từ năm 1890 đến 2001
SOUTH DAKOTA 1890
(-?) Troops 300
Lakota Indians massacred at Wounded Knee.
ARGENTINA1890 Troops Buenos
Aires interests protected.
CHILE 1891 Troops Marines
clash with nationalist rebels.
HAITI 1891 Troops Black
workers revolt on U.S.-claimed Navassa Island defeated.
IDAHO 1892 Troops Army
suppresses silver miners' strike.
HAWAII 1893
(-?) Naval,
troops Independent kingdom overthrown, annexed.
CHICAGO 1894 Troops Breaking
of rail strike, 34 killed.
NICARAGUA 1894 Troops Month-long occupation of Bluefields.
CHINA 1894-95 Naval,
troops Marines
land in Sino-Japanese War.
KOREA 1894-96 Troops Marines
kept in Seoul during war.
PANAMA 1895 Troops,
naval Marines
land in Colombian province.
NICARAGUA 1896 Troops Marines
land in port of Corinto.
CHINA 1898-1900 Troops Boxer
Rebellion fought by foreign armies.
PHILIPPINES 1898-1910(-?) Naval,
troops Seized
from Spain, killed 600,000
Filipinos.
CUBA 1898-1902(-?) Naval,
troops Seized
from Spain, still hold Navy base.
PUERTO
RICO 1898(-?) Naval,
troops Seized
from Spain, occupation continues.
GUAM 1898(-?) Naval,
troops Seized
from Spain, still use as base.
MINNESOTA 1898(-?) Troops Army
battles Chippewa at Leech Lake.
NICARAGUA 1898 Troops Marines
land at port of San Juan del Sur.
SAMOA 1899(-?) Troops Battle
over succession to throne.
NICARAGUA 1899 Troops Marines
land at port of Bluefields.
IDAHO 1899-1901 Troops Army
occupies Coeur d'Alene mining region.
OKLAHOMA 1901 Troops Army
battles Creek Indian revolt.
PANAMA 1901-14 Naval,
troops Broke
off from Colombia 1903, annexed Canal Zone 1914-99.
HONDURAS 1903 Troops Marines
intervene in revolution.
DOMINICAN REP. 1903-04 Troops U.S.
interests protected in Revolution.
KOREA 1904-05 Troops Marines
land in Russo-Japanese War.
CUBA 1906-09 Troops Marines
land in democratic election.
NICARAGUA 1907 Troops "Dollar
Diplomacy" protectorate set up.
HONDURAS 1907 Troops Marines
land during war with Nicaragua.
PANAMA 1908 Troops Marines
intervene in election contest.
NICARAGUA 1910 Troops Marines
land in Bluefields and Corinto.
HONDURAS 1911 Troops U.S.
interests protected in civil war.
CHINA 1911-41 Naval,
troops Continuous occupation with flare-ups.
CUBA 1912 Troops U.S.
interests protected in Havana.
PANAMA 19l2 Troops Marines
land during heated election.
HONDURAS 19l2 Troops Marines
protect U.S. economic interests.
NICARAGUA 1912-33 Troops,
bombing 20-year
occupation, fought guerrillas.
MEXICO 19l3 Naval Americans evacuated during revolution.
DOMINICAN REPUBLIC 1914 Naval Fight
with rebels over Santo Domingo.
COLORADO 1914 Troops Breaking
of miners' strike by Army.
MEXICO 1914-18 Naval,
troops Series
of interventions against nationalists.
HAITI 1914-34 Troops,
bombing 19-year
occupation after revolts.
DOMINICAN REPUBLIC 1916-24 Troops 8-year
Marine occupation.
CUBA 1917-33 Troops Military
occupation, economic protectorate.
WORLD
WAR I 19l7-18 Naval,
troops Ships sunk, fought Germany
RUSSIA 1918-22 Naval,
troops Five
landings to fight Bolsheviks.
PANAMA 1918-20 Troops "Police
duty" during unrest after elections.
YUGOSLAVIA 1919 Troops Marines
intervene for Italy against Serbs in Dalmatia.
HONDURAS 1919 Troops Marines
land during election campaign.
GUATEMALA 1920 Troops 2-week
intervention against unionists.
WEST
VIRGINIA 1920-21 Troops,
bombing Army
intervenes against mineworkers.
TURKEY 1922 Troops Fought
nationalists in Smyrna (Izmir).
CHINA 1922-27 Naval,
troops Deployment during nationalist revolt.
HONDURAS 1924-25 Troops Landed
twice during election strife.
PANAMA 1925 Troops Marines
suppress general strike.
CHINA 1927-34 Troops Marines
stationed throughout the country.
EL
SALVADOR 1932 Naval Warships
sent during Faribundo Marti revolt.
WASHINGTON DC 1932 Troops Army
stops WWI vet bonus protest.
WORLD
WAR II 1941-45 Naval,troops, bombing, nuclear Fought
Axis for 3 years;
1st nuclear war.
DETROIT 1943 Troops Army
puts down Black rebellion.
IRAN 1946 Nuclear
threat Soviet
troops told to leave north (Iranian Azerbaijan).
YUGOSLAVIA 1946 Naval Response
to shooting-down of U.S. plane.
URUGUAY 1947 Nuclear
threat Bombers
deployed as show of strength.
GREECE 1947-49 Command
operation U.S.
directs extreme-right in civil war.
CHINA 1948-49 Troops Marines
evacuate Americans before Communist victory.
GERMANY 1948 Nuclear
threat Atomic-capable bombers guard Berlin Airlift.
PHILIPPINES 1948-54 Command
operation CIA
directs war against Huk Rebellion.
PUERTO
RICO 1950 Command
operation Independence rebellion crushed in Ponce.
KOREA 1950-53 Troops,
naval, bombing, nuclear threats U.S.& South
Korea fight China & North Korea to stalemate; A-bomb threat in 1950, &
vs. China in 1953. Still have bases.
IRAN 1953 Command
operation CIA
overthrows democracy, installs Shah.
VIETNAM 1954 Nuclear threat Bombs
offered to French to use against siege.
GUATEMALA 1954 Command
operation, bombing, nuclear threat CIA directs exile invasion after
new gov't nationalizes U.S. company lands; bombers based in Nicaragua.
EGYPT 1956 Nuclear
threat, troops Soviets
told to keep out of Suez crisis; MArines evacuate foreigners
LEBANON 1958 Troops,
naval Marine
occupation against rebels.
IRAQ 1958 Nuclear
threat Iraq
warned against invading Kuwait.
CHINA 1958 Nuclear
threat China
told not to move on Taiwan isles.
PANAMA 1958 Troops Flag
protests erupt into confrontation.
VIETNAM 1960-75 Troops, naval, bombing, nuclear threats Fought
South Vietnam revolt & North
Vietnam; 1-2 million killed in longest U.S. war; atomic bomb
threats in 1968 and 1969.
CUBA 1961 Command
operation CIA-directed exile invasion fails.
GERMANY 1961 Nuclear
threat Alert during Berlin Wall crisis. CUBA 1962 Nuclear
threat Naval Blockade
during missile crisis; near-war with USSR.
LAOS 1962 Command
operation Military
buildup during guerrilla war.
PANAMA 1964 Troops Panamanians shot for urging canal's return.
INDONESIA 1965 Command
operation Million killed in CIA- assisted army coup.
DOMINICAN REPUBLIC 1965-66 Troops,
bombing Marines land during election campaign.
GUATEMALA 1966-67 Command
operation Green Berets intervene against rebels.
DETROIT 1967 Troops Army
battles Blacks, 43 killed.
UNITED
STATES 1968 Troops After
King is shot; over 21,000 soldiers in cities.
CAMBODIA 1969-75 Bombing,
troops, naval Up to 2 million killed in decade of bombing, starvation, and political chaos.
OMAN 1970 Command
operation U.S. directs Iranian marine invasion.
LAOS 1971-73 Command
operation, bombing U.S. directs South Vietnamese invasion;
"carpet-bombs" countryside.
SOUTH
DAKOTA 1973 Command
operation Army directs Wounded Knee siege of Lakotas.
MIDEAST 1973 Nuclear
threat World-wide alert during Mideast War.
CHILE 1973 Command
operation CIA-backed coup ousts elected marxist president.
CAMBODIA 1975 Troops,
bombing Gas captured ship, 28 die in copter crash.
ANGOLA 1976-92 Command
operation CIA assists South African- backed rebels.
IRAN 1980 Troops,
nuclear threat, aborted bombing Raid to rescue Embassy hostages; 8
troops die in copter-plane crash. Soviets warned not to get involved in
revolution.
LIBYA 1981 Naval
jets Two Libyan jets shot down in maneuvers.
EL
SALVADOR 1981-92 Command
operation, troops Advisors, overflights aid anti-rebel war, soldiers
briefly involved in hostage clash.
NICARAGUA 1981-90 Command
operation, naval CIA directs exile (Contra) invasions, plants harbor
mines against revolution.
LEBANON 1982-84 Naval,
bombing, troops Marines expel PLO and back Phalangists, Navy bombs
and shells Muslim and Syrian positions.
HONDURAS 1983-89 Troops Maneuvers help build bases near borders.
GRENADA 1983-84 Troops,
bombing Invasion four years after revolution.
IRAN 1984 Jets Two
Iranian jets shot down over Persian Gulf.
LIBYA 1986 Bombing,
naval Air strikes to topple nationalist gov't.
BOLIVIA 1986 Troops Army assists raids on cocaine region.
IRAN 1987-88 Naval,
bombing US intervenes on side of Iraq in war.
LIBYA 1989 Naval
jets Two Libyan jets shot down.
VIRGIN
ISLANDS 1989 Troops St.
Croix Black unrest after storm.
PHILIPPINES 1989 Jets Air
cover provided for government against coup.
PANAMA 1989-90 Troops,
bombing Nationalist government ousted by 27,000 soldiers, leaders
arrested, 2000+
killed.
LIBERIA 1990 Troops Foreigners evacuated during civil war.
SAUDI
ARABIA 1990-91 Troops,
jets Iraq countered after invading Kuwait; 540,000
troops also
stationed in Oman, Qatar, Bahrain, UAE, Israel.
IRAQ 1990-? Bombing,
troops, naval Blockade of Iraqi and Jordanian ports, air strikes;
200,000+ killed in invasion of Iraq and Kuwait; no-fly zone over
Kurdish north, Shiite south, large-scale destruction of Iraqi
military.
KUWAIT 1991 Naval,
bombing, troops Kuwait royal family returned to throne.
LOS
ANGELES 1992 Troops Army,
Marines deployed against anti-police uprising.
SOMALIA 1992-94 Troops,
naval, bombing U.S.-led United Nations occupation during civil war;
raids against one Mogadishu faction.
YUGOSLAVIA 1992-94 Naval Nato
blockade of Serbia and Montenegro.
BOSNIA 1993-95 Jets,
bombing No-fly zone patrolled in civil war; downed jets, bombed Serbs.
HAITI 1994-96 Troops,
naval Blockade
against military government; troops restore President Aristide to
office three years after coup.
CROATIA 1995 Bombing Krajina
Serb airfields attacked before Croatian offensive.
ZAIRE
(CONGO) 1996-97 Troops Marines
at Rwandan Hutu refuge camps, in area where Congo revolution begins.
LIBERIA 1997 Troops Soldiers
under fire during evacuation of foreigners.
ALBANIA 1997 Troops Soldiers
under fire during evacuation of foreigners.
SUDAN 1998 Missiles Attack
on pharmaceutical plant alleged to be "terrorist" nerve gas plant.
AFGHANISTAN 1998 Missiles Attack
on former CIA training camps used by Islamic fundamentalist groups
alleged to have attacked embassies.
IRAQ 1998-? Bombing,
Missiles Four
days of intensive air strikes after weapons inspectors allege Iraqi obstructions.
YUGOSLAVIA 1999-? Bombing,
Missiles Heavy
NATO air strikes after Serbia declines to withdraw from Kosovo.
YEMEN 2000 Naval Suicide
bomb attack on USS Cole.
MACEDONIA 2001 Troops NATO
troops shift and partially disarm Albanian rebels.
UNITED
STATES 2001 Jets,
naval Response
to hijacking attacks.
AFGHANISTAN 2001 Massive
U.S. mobilization to attack Taliban, Bin Laden. War could expand to Iraq,
Sudan, and beyond.
For more information or with
comments and additions please contact:
Zoltan Grossman, 1705
Rutledge, Madison, WI 53704 Phone Fax
(608)246-2256. mtn@igc.apc.org
Permission to reproduce
this list in its entirety
Is granted by the author,
please send any published copy to the above.
|