WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 12/2003

Tự Do Mậu Dịch Hay Tự Do Cưỡng Đoạt Tài Sản Các Nước Nghèo?

Ziauddin Sardar & Merryl Wyn Davies

Câu châm ngôn của chuyện phim tập rất ăn khách trên truyền h́nh, Alias, là “sự thật đau ḷng”. Phim tập này mô tả cuộc đời của nhân vật chính, một cuộc đời có hai bộ mặt khác nhau. B́nh thường cô là một sinh viên cao học, muốn kiếm thêm tiền bằng cách làm một nghề tay trái, nghề điệp viên thượng thặng. Alias được mọi nguời xem là một phim tập ăn khách, giúp khán giả mua vui và giải trí trong giây lát. Tuy cốt chuyện hoàn toàn phi lư khó tin, nhưng trong đó chúng ta có thể học được một bài học hữu ích về nước Mỹ và biết Mỹ nghĩ ǵ về thế giới.

Trong chương thứ nhất của quyển sách này*, chúng tôi đă nói phim ảnh và truyền h́nh đă phản ảnh xă hội Mỹ và ngược lại, ảnh hưởng trong việc h́nh thành giá trị của xă hội Mỹ. Một tiểu thuyết gia- và cũng là một phê b́nh gia Ư, Umberto Ec, ghi nhận là các phương tiện truyền thông không những chỉ là một cách chuyển đạt ư thức hệ, nó chính ư thức hệ của nưóc Mỹ. Alias là ư thức hệ của Mỹ nếu hiểu ư thức hệ trên b́nh diện rộng lớn. Nhân vật chính, Sydney Bristow, rất sinh động và có vơ thuật cao cường, khám phá tổ chức gián điệp ḿnh đang phục vụ, cơ quan SD-6, thực ra không phải là một phân bộ bí mật của CIA như cô nghĩ, nhưng là kẻ thù của cả thế giới. Do đó cô không phải chiến đấu cho những giá trị của nước Mỹ, nhưng phục vụ cho kẻ thù của nước Mỹ. Sydney t́m cách báo cho CIA và sau đó cô đưọc CIA khuyến khích đóng vai gián điệp nhị trùng. Nhiệm vụ của cô là làm tṛn sứ mệnh do SD-6 giao phó nhưng sau đó báo cáo những ǵ mà cô biết với CIA. Điều đáng nói là Sydney và khán giả như chúng ta không thể nào thấy sự khác nhau giữa mục tiêu và giá trị của SD-6 và CIA. Sau đó, Sydney khám phá ra những chuyện ly kỳ khác, như người cha của cô tứ bấy lâu nay bỏ rơi mẹ con cô cũng đang làm việc cho SD-6, và cha cô không những là một gián điệp nhị trùng cho CIA mà c̣n là một gián điệp tam trùng, làm việc cả cho FBI. Mẹ cô thực ra là một chuyên viên ám sát của KGB! Tất cả các cơ quan gián điệp này đang tranh dành nhau một quyển sách cổ từ 500 năm trước, do một nhà sáng chế Ư trong thời Phục Hưng, phác họa những kỹ thuật tân tiến nhất của thế kỷ 21!

Sydney, cũng như nước Mỹ, có một nhân cách đôi. B́nh thường, cô rất ngây thơ và tử tế, hay cả lo và thiếu tự tin. Cô cố gắng học để được điểm cao, ân cần an ủi người bạn cùng pḥng khi bạn bị thất t́nh và đau khổ khi bị vị hôn thê phụ bạc. Cô giận cha đă bỏ rơi mẹ con ḿnh, thường nghĩ đến mẹ và đang t́m mọi cách cự tuyệt lời tỏ t́nh của một người bạn phóng viên. Cô suy nghiệm về cuộc đời, uống rượu và thường biếng nhác cuộn ḿnh trên chiếc ghế dài để bừa băi sách báo, nghĩa là cô rất nhạy cảm khi nói chuyện với ngựi khác. Cô chỉ là một người rất b́nh thường như bất cứ một người nào khác. Nhưng khi thi hành sứ mạng, Sydney hoàn toàn biến thành một máy đánh đấm. Nhờ những khí giới tân kỳ do DS-6 cung cấp, cô đánh nhau như người máy Terminator, đá cao tới cầm, nhảy từ nhà cao tầng xuống và dùng ăn ten xe để chọc mù mắt đối thủ một cách tàn nhẫn. Cô điềm tĩnh, cương quyết ngay cả khi cô bị những người tra vấn dùng kềm nhổ răng hàm. Mỗi kỳ phim tập kết thúc, Sydney lại ở trong t́nh trạng thập tử nhất sanh, nhưng lúc nào cô cũng thoát hiểm, nhờ ḷng tự tín tuyệt đối và hành động chuyên nghiệp.

Đối với Alias, cả thế giới đều là một phần của Mỹ. Trong mỗi kỳ phim, Sydney có thể xuất hiện từ Los Angeles, đến Cairo, Moscow, Rome và Oxford, Tuscany và Geneva, Madrid và Sao Paulo, từ một nhà thương điên ở Bucharest cho đến sa mạc ở Argentina, trước khi trở về lại Los Angeles. Các nước khác trên thế giới chỉ là thứ hành lang của nước Mỹ, nơi các kẻ ác- kẻ thù của CIA và DS-6- đều được xem như là phe thù nghịch gian ác, cần phải bị trừng trị đích đáng. Bất kể nơi nào Sydney đến thi hành nhiệm vụ, chỉ trừ một vai chi tiết sai biệt nhỏ và một vài nhận vật địa phưong khác thường, mọi nơi đều giống Los Angeles, nơi mà chuyện phim được sản xuất. Đối với Sydney nơi nào cũng giống nhau. Không ai lấy làm ngạc nhiên khi Sydney đi bất cứ nơi nào ngoài nước Mỹ cũng giống như cô đi ra sân sau nhà và trở về Mỹ sau khi hoàn thành nhiệm vụ, như thể cô vừa mới đi mua sắm ở một shopping mall gần đó. Kẻ thù của cô khắp nơi và đủ mọi mầu da: Á Rập, Trung Quốc, Nga, Cuba- những người hoạt động cho các hệ thống phản gián độc lập và bí mật khác.

Alias chứng tỏ nước Mỹ khổng chỉ muốn thống trị thế giới, nhưng trên thực tế, nước Mỹ đang thống trị thế giới. Những quốc gia, những biên giới địa lư, những cơ chế chánh trị đều không quan trọng. Điều quan trọng là một hệ thống truyền thông binh vực quyền lợi của Mỹ trên diễn dàn thế giới. Không có siêu cường nào có thể cạnh tranh với Mỹ, v́ Mỹ là một siêu cường vô địch duy nhất, thế giới chỉ có một nguồn luật pháp và trật tự duy nhất từ Mỹ. Trong một trật tự mới như thế, thật là vô nghĩa khi nói về đế quốc Mỹ hay chủ nghĩa đế quôc của Mỹ, bởi v́ ư nghĩa và sự so sánh đều không c̣n đúng nữa. Chủ nghĩa thực dân cần chinh phục thuộc địa và bắt dân chúng địa phương thành người bị trị. Chủ nghĩa đế quốc bào hàm một trung tâm thống trị t́m cách thu phục thị trường và áp đặt những luật lệ trong những quốc gia xa xôi. Hiện nay, cả địa cầu cũng giống như những phần đất nối dài của Mỹ và có nhiều cá nhân và cộng đồng c̣n muốn ôm chặt lấy văn hóa và giá trị của nước Mỹ như là tài sản quư giá của ḿnh. Alias chứng minh cho mọi người thấy là khoảng cách không c̣n là một vấn đề nữa. Ngoài một ít quốc gia “thảo khấu điếc không sợ súng” (rogue nations), không có quốc gia cho dù xa xôi đến đâu mà không bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa đế quốc của Mỹ. Nước Mỹ không c̣n là một đế quốc lỗi thời, t́m kiếm những vùng đất để áp đặt ảnh hưởng của ḿnh và cạnh tranh với các quốc gia thực dân khác. Nước Mỹ là một siêu cường vĩ đại đôc nhất vô nhị và không ai có thể có thể so sánh được. Không ai ngạc nhiên khi thấy Alias xem thế giới như là phần đất của Mỹ. Nước Mỹ là thế giới và thế giới là của nước Mỹ.

 Nếu thế giới là của nước Mỹ, một hậu quả tự nhiên là quyền lợi của Mỹ là quyền lợi của thế giới. Và tất cả những người nào chống lại quyền lợi của Mỹ, hay văn hoá Mỹ, Mỹ sẽ xem họ như là những người chống lại an sinh và an ninh thế giới. Những quốc gia này hay những nhóm này bị Mỹ xem như những đám lục lâm thảo khấu, đạo tặc, như những kẻ phạm tội (đầy nhóc trong các ghetto ở Mỹ), và những người này phải bị trừng trị xứng đáng theo đúng “công lư” của Mỹ, càng sớm càng tốt. Đây là lư luận căn bản của các cuộc can thiệp quân sự của Mỹ vào các nước khác, dễ dàng và đều đặn như nhân vật Sydney, một gián điệp nhị trùng thượng thặng, đi thi hành sứ mạng ở các nước xa xôi khác. Mỹ đă gởi quân đến những vùng đất như Trung Quốc, Đại Hàn, Việt Nam và In Đô, và tới các nước láng diềng như Costa Rica, Guatamala và Grenada.

Ngay từ năm 1823, Tổng Thống James Monreo đă có một chủ trương, được gọi là Lư Thuyết Monroe, cho rằng toàn bộ Châu Mỹ là dất đai và tài sản của Mỹ và không có một nước Châu Âu nào được quyền léo hánh tới và ai cả gan có ư định này, nước Mỹ sẽ xem như là thành phần ‘nguy hiểm cho hoà b́nh và anh ninh của nước Mỹ’. Nước Mỹ trực tiếp quan tâm đến những ǵ xảy ra ở Châu Mỹ, và dựa trên tiền đề này, hầu như không có nước Châu Mỹ La Tinh nào không nếm mùi đau khổ v́ sự can thiệp trắng trợn về quân sự cũng như về chánh trị của Mỹ. Gần đây vào năm 1973, Mỹ đă đảo chánh một chế độ dân chủ của Salvador Allende và đưa tên đồ tể Augusto Pinochet lên thay thế. Allende không phải là một lănh tụ quốc gia xuất đầu lộ diện trong một sớm một chiều. Ông ta là thành quả của một quá tŕnh chánh trị lâu dài ở Chile. Không những Allende bị ám sát, có hàng ngàn những nhân vật tả phái ủng hộ ông bị giam cầm, tra tấn và thủ tiêu- trong đó có cả các công dân Mỹ, với sự ám trợ hay hổ trợ trực tiếp của Mỹ. Rồi đến phiên Nicaragua. Vào các năm trong thập niên 1980 Mỹ đă trực tiếp tham dự trong một cuộc chiến dai dẵng với phe tả phái Sadanistas. Cuộc chiến tranh này lập lại cuộc chiến tranh vào năm 1927 (ba phần tư thế kỹ trước đây), khi tổng thống Calvin Coolidge cho phép quân Mỹ xâm nhập 12 lần vào Nicaragua để lật đổ chánh phủ tự do dưới sự lănh đạo của Augusto Cesar Sandino (tên của nhóm tả phái Sadanitas lấy tên của lănh tụ này). Mỹ kết tội chánh phủ này là những ngựi Bolshevist. Ngay cả khi vụ điều tra ś-căn-đan Iran-Contra được thiết lập, Mỹ vẫn tiếp tục tài trợ cho các nhóm du kích chống chánh phủ Sadanitas, bất chấp những quyết nghị của quốc hội Mỹ cấm can thiệp và tiền tài trợ cho nhóm Contra này là từ lợi tức bán thuốc phiện do CIA tổ chức. Lư do viện dẫn để chống nhóm Sadinatas và ủng hộ nhóm Contra (nhóm này nổi tiếng là đă hăm dọa và tra tấn tàn nhẫn người Nicaraguans vô tội) Mỹ kết tội nhóm Sadinatas gồm những người phản dân chủ. Nhưng vào năm 1990, nhóm Sadinatas bị thất cử ỏ Nicaragua và rời bỏ chánh quyền. Sau đó dưới sự lănh đạo của Daniel Ortega, nhóm Sadinatas đă thất bại trong ba lần bầu cử liên tiếp và cả ba lần họ đều chấp nhận kết quả của tṛ chơi dân chủ. Đa số dân Nicaraguans, ngoài những vấn đề về nội bộ, nhận thấy rằng nước họ ‘b́nh an’ hơn dưới chánh phủ hiện tại, v́ nếu Ortega lên lănh đạo, Mỹ sẽ xem như bị khiêu khích và sẽ dùng những biện pháp quân sự để can thiệp vào nội bộ của họ.

 Vào tháng 10 năm 1983 Mỹ lại dùng vũ lực xâm chiếm một nước nhỏ khác, Grenada, và danh sách này c̣n tiếp tục dài dài. Mỹ tiếp tục can thiệp quân sự hay dùng những hoạt động ngấm ngầm để can thiệp vào nội bộ các nước Nam Mỹ như Bolivia, Brazil, Colombia, Cuba, Dominica, Ecuador, El Salvador, Guatemale, Haiti, Honduras, Jamaica, Mexico, Panama, Peru, Surinam, Uruguay. Dĩ nhiên lư do đưa ra lúc nào cũng là bảo vệ ‘dân chủ’, ‘nhân quyền’, ‘tự do’, nhưng động cơ thực sự là bảo vệ thị trường của Mỹ. Mỹ đă ủng hộ những lănh tụ độc tài ‘phản dân chủ’, ‘vi phạm nhân quyền” trên nhiều phần đất khác của thế giới (Phác Chung Hy, Marcos, Ngô D́nh Diệm và có một thời Saddam Hussein). Những người phải trả một giá đắt cho việc Mỹ dùng quân sự để bảo vệ quyền lợi của ḿnh là những người dân vô tội trong những quốc gia này. Nạn nhân vô tội bị sát hại, cầm tù, tra tấn và tiếp tục sống một cuộc đời nghèo khổ, thiếu cơ hội thăng tiến có từ thời thực dân Tân Ban Nha.

 Ngay sau biến cố 11 tháng 9, Zoltan Grossman, một nhân vật tranh đấu cho hoà b́nh và một người viết thường xuyên cho tạp chí Counterpunch, công bố một bản danh sách của “Tất cả những cuộc can thiệp quân sự Mỹ từ trận Wounded Knee (nơi ngựi da đỏ bị tàn sát) đến Afghanistan’, dựa trên ngay chính hồ sơ của Quốc Hội và Ban Nghiên Cứu Thư Viện Quốc Hội Mỹ (Xem phụ lục)

 Grossman liệt kê 134 cuộc can thiệp, lớn cũng như nhỏ, tại ngay trong nước Mỹ hay tại các nước ngoài, trong ṿng 111 năm qua, từ năm 1890 đến năm 2001. Cho đến cuối thế chiến thứ Hai, bản liệt kê này cho biết, mỗi năm trung b́nh Mỹ can thiệp 1.15 vụ.Trong thời gian chiến tranh lạnh, tỷ lệ này tăng lên 1.29. Sau khi bức tường Bá Linh bị sụp đổ, tỷ lệ can thiệp này tăng lên 2.0 mỗi năm. Như thế từ khi trở thành một siêu-siêu cường quốc, Mỹ càng can thiệp nhiều để bảo vệ quyền lợi của ḿnh. Hơn nữa, như Johan Galtung, giám đốc của Transcend (Liên Hội Hoà B́nh và Phát Triển) cho thấy trong tác phẩm Searching For Peace (2002), những địa điểm bị Mỹ can thiệp cũng thay đổi rất nhiều sau thế chiến thứ Hai. Trọng tâm can thiệp của Mỹ lúc đầu là ở Đông Á (Đại Hàn, Việt Nam, Nam Dương và cả Iran) và các cuộc can thiệp này rất bạo động. Sau đó là tới Đông Âu (kể cà Liên Sô) tuy nhiên lúc đó Liên Sô c̣n là một siêu cường nên các cuộc can thiệp bạo động ít lộ liễu hơn. Giai đoạn thứ ba là ở Châu Mỹ La Tinh, bắt đầu từ Cuba và hầu như không có nước nào ở Nam Mỹ không bị chánh quyền Mỹ can thiệp. Mức bạo động này hiện diện trên cả hai phương diện vĩ mô và vi mô, tuy nhiên mức bạo động không đến nổi như hung bạo như các cuộc can thiệp ở Đông Á. Giai đoạn thứ tư là Tây Á, bắt đầu từ Palestine và Iran, đến Libya, Lebanon và Syria và vào đầu thế kỹ 21, lan qua Iraq và Afghanistan. Có nghĩa là Mỹ can thiệp vào các quốc gia có các nền văn hoá Khổng-Phật, cho đến Chính Thống Giáo và Thiên Chúa-Ky Tô và cuối cùng là đến Hồi Giáo.

 Phần lớn các nước trên thế giới có nhận thức phổ thông về nước Mỹ, và biết Mỹ nghĩ ǵ vế thế giới qua các show trên TV như Alias và các phim sản xuất từ Hollywood, như phim Executive ActionThe Siege. Tuy nhiên những nhận thức này cũng dựa trên những kinh nghiệm thực tế- như những hành động ngang ngược của Mỹ tại Liên Hiệp Quốc.

 Thật vậy hành động của Mỹ tại Liên Hiệp Quốc không khác ǵ hành động của cơ quan phản gián SD-6 trong show Alias là bao nhiêu: v́ nước Mỹ khống chế thế giới, Mỹ muốn làm ǵ th́ làm. Nguyên Tổng Thư Kư Liên Hiệp Quốc, ông Boutros Boutros-Ghali viết trong tác phẩm Unvanquished: một chuyện trường thiên về mối liên hệ giữa Liện Hiệp Quốc và Hiệp Chủng Quốc, cho rằng hiện nay Liên Hiệp Quốc chỉ là tài sản của một cường quốc duy nhất- Mỹ. Các hành động không chế, dọa dẫm, dùng quyền phủ quyết biến cơ quan quốc tế này thành một công cụ phục vụ cho quyền lợi riêng tư của Mỹ. Khi nào trùng hợp với quyền lợi của ḿnh, Mỹ dùng cơ quan Liên Hiệp Quốc để hợp pháp hóa cho những hành động của ḿnh, như thành lập liên minh với các nước khác để trừng trị những quốc gia “thảo khấu” Như trường hợp Bosnia). Khi nào bị dư luận thế giới chống đối, Mỹ đối xử Liên Hiệp Quốc một cách khinh miệt. 

Sau thế chiến thứ Hai, Mỹ là quốc gia chính trong việc đôn đốc thành lập Liên Hiệp Quốc, và thành h́nh những sáng kiến của Liên Hiệp Quốc như Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền- và xem mô thức Tây Phương là mô thức điển h́nh toàn cầu. Trong suốt quá tŕnh hoạt động của Liên Hiệp Quốc, Mỹ đă phủ quyết bất cứ một quyết định hay một quyết nghị nào không phản ảnh ưu tiên và quyền lợi thương mại của Mỹ. William Blum viết trong tác phẫm Rogue State (2001) “Hoa Thịnh Đốn thường xuyên thấy ḿnh trong t́nh trạng đơn độc- thỉnh thoàng có thêm một hai quốc gia khác ủng hộ- chống đối lại với những quyết nghị của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. Những quyết nghị của LHQ chỉ nhằm mục đích bành trướng việc bảo vệ nhân quyền, duy tŕ hoà b́nh, tài giảm vơ khi nguyên tử, khuyến khích mọi nước tôn trọng công lư về mặt kinh tế, chống lại chế độ kỳ thị chủng tộc ở Nam Phi, vạch trần thái độ ngang ngược của Do Thái bất chấp luật lệ quốc tế và những quyết định phát động các công tŕnh tiến bộ khác trên thế giới. Từ năm 1984 đến năm 1987, theo bản liệt kê của Blum, Mỹ đă đơn thương độc mă bỏ phiếu chống lại những quyết nghị của Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc hơn 150 lần. 

Trên thực tế, Mỹ từ chối đóng góp tiền phí tổn điều hành Liên Hiệp Quốc trong nhiều thập niên. Khi Mỹ đồng ư trả số tiền thiếu sau khi đă thương thuyết để được ‘bớt’, nhưng cuối cùng Mỹ cũng không chịu trả như đă hứa. Ai cũng thấy sự bực tức của các quốc gia khác đối với Mỹ trong các kỳ họp đại hội đồng LHQ. Sự bực tức này đă đưa đến việc thành lập Hội Đồng Kinh Tế và Xă Hội Liên Hiệp Quốc (ECOSOC) nhằm loại Mỹ ra khỏi 53 hội viên của Ủy ban Nhân Quyền (HRC) vào tháng 5 năm 2001. (xem thêm bài của Trần Chung Ngoc, Nhân Quyền cho ai? trên Giao Điểm và Chuyển Luân)

 Đây là lần đầu tiên chuyện này xảy ra kể từ khi tổ chức ECOSOC được thành lập vào năm 1946. Các hội viên trong ECOSOC bầu phiếu kín, và người ta nghĩ rằng chiến dịch trục xuất Mỹ khỏi tổ chức này phải do các nước thuộc thế giới thứ ba phát động để trả đũa việc họ bị Mỹ chèn ép. Trên thực tế, các phiếu của các quốc gia Ấu Châu và các quốc gia ‘thân thiện” với Mỹ là những phiếu quyết định trục xuất Mỹ. Mỹ cũng bị một thất bại tương tự vào năm 1998 khị bị trục xuất khỏi Ủy Ban Cố Vấn về Những Vấn Đề Tài Chánh và Hành Chánh (ACABQ), tuy nhiên sau đó được phép tái gia nhập. Ủy ban này có trách nhiệm chính về tại trợ cho toàn thể tổ chức Liên Hiệp Quốc.

 Mỹ tiếp tục chống đối những sáng kiến của Liên Hiệp Quốc nhằm bành trướng việc bảo vệ nhân quyền (theo mô thức LHQ). Chỉ có hai quốc gia chưa chịu phê chuẩn-ngoại trừ Iraq- hiệp ước về Bảo Vệ Quyền Lợi Trẻ Em. Mỹ cũng chưa chịu phê chuẩn quyềt nghị cấm dùng ḿn đặt dưới đất (Landmines) và Hiệp Ước thiết lập Toà Án Tội Phạm Quốc Tế. Theo Ủy Ban chống Tra Tấn của Liện Hiệp Quốc, cơ quan giám sát các hành động của các quốc gia hội viên, Mỹ tiếp tục vi phạm Những Quy Ước thế giới. Lực lượng đặc biệt Mũ Xanh của Mỹ thường xuyên tra tấn trong khi thẩm vấn các tù binh mà họ bắt được ở Việt Nam. CIA thường xuyên tra tấn các người bị t́nh nghi là những cán bộ nằm vùng trong các tổ chức tỵ nạn Số Viết ở Tây Âu. Mỹ huấn luyện và duy tŕ tổ chức mật vụ SAVAK, một tổ chức mật vụ độc ác nổi tiếng của Hoàng Gia Iran trước đây. Mỹ huấn luyện và trang bị các tổ chức mật vụ của Bolivia, Uruguay, Brazil và Do Thái với các kỹ thuật tra tấn hiện đại. Đây chỉ là một vài thí dụ nhỏ. Như Blum ghi nhận, trong hai năm 1982 và 83, Mỹ đă bỏ phiếu chống các tuyên ngôn về giáo dục, nhân dụng, Y Tế , dinh dưỡng và phát triển quốc gia, được cộng đồng thề giới xem là những yếu tố quan trọng của nhân quyền. Và 13 năm sau đó, thái độ của Mỹ về những vấn đề này cũng không mềm dẻo thêm một chút nào. Vào năm 1996, một Hội Nghị Thượng Đỉnh Về Lương Thực, do Liên Hiệp Quốc bảo trợ, đă xác định “tất cả mỗi người đều có quyền được bảo đảm an toàn và quyến được nuôi nấng đầy đủ dinh dưỡng”. Mỹ tuyên bố là họ không công nhận ‘quyền được nuôi nấng bổ dưỡng’ là một yếu tố nhân quyền căn bản! Đối với những người dân ở các nước đang phát triển, những quyền này, được các cộng đồng thế giới đề xướng ra và cổ động như là mô thức của nhân quyền trên thế giới- là một phần của phương tiện tự vệ chống lại các nhà cai trị độc tài, tham nhũng và đối xử bất công trong các quốc gia và bởi các đại lư và các tổ hợp của nước ngoài. Trong hiện trạng và lịch sử của các nước trong khối thứ Ba, xác nhận những nguyên tắc này như những quyền làm người căn bản, đưa đến các cuộc thảo luận về những cơ chế bất công c̣n lưu lại, những cơ chế vẫn có gây ra bất công, nghèo đói và thiếu đồng đều cơ hội. Nó cũng khuyến khích những biến đổi xă hội. Thay vào đó, Hoa Thịnh Đốn, chỉ muốn cổ vơ cho một chuyện duy nhất: Tự Do Mậu Dịch.

Nếu Mỹ là thế giới, Mỹ không cần một định chế thế giới nào để điều hành chánh sách về ngoại giao và kinh tế của ḿnh. Nói một cách tổng quát, Mỹ không cần đến những cơ quan của LHQ như Chương Tŕnh Phát Triển(UNDP), Tổ Chức Giáo Dục, Khoa Học và Văn Hoá Liên Hiệp Quốc (Unesco), Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc (UNHCR). Một tổ chức mà Mỹ hoàn toàn kiểm soát là Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế (WTO). Thực thế nhiều người nói là WTO là một dụng cụ chính yếu để Mỹ duy tŕ “chủ nghĩa đế quốc”. Tuy nhiên lời phê b́nh này đưa chúng ta lại một mô thức lỗi thời khi so sánh Mỹ với các nước đế quốc thực dân Âu Châu trước đây. Ngày nay, kỹ thuật đă gắn liền sản xuất, phân phối và hệ thống thị trường, liên kết các nhà sản xuất, thiết kế và người tiêu thụ với nhau, giúp tư bản và các sản phẩm tiêu thụ và văn hóa của Mỹ tràn ngập thế giới, không c̣n bị giới hạn của biên giới quốc gia như thời trước đây. Như chúng ta thấy trong show truyền h́nh Alias, nhờ kỹ thuật tân tiến mà nhân vật Sydney hoàn thành sứ mệnh một cách dễ dàng. Khi nhân vật này đi đến các nơi khác trên thế giới, cô luôn luôn liên lạc với ngựi chỉ huy. Chỉ cần một vài giây cô có thể dùng các tia laser để mở một tủ sắt an toàn trong một ngân hàng có những biện pháp an ninh chặt chẽ. Cô có thể kêu trực thăng Mỹ đến cứu khi đang ở trên một sa mạc ở Argentina, và từ một nơi xa xôi cô có thể sao chép hồ sơ trong phần cứng trong máy vi tính ngay tức khắc. Cũng thế, kỹ thuật tân tiến và vĩ đại đă biến Mỹ thành một siêu cường vô địch.Với hệ thống vi tính nối kết vĩ đại, một ngàn năm trăm tỷ ($1.5 Trillion) có thể đổi chủ trong ṿng một ngày. Tất cả con bài chính nằm trong tay của những người nắm giữ kỹ thuật và thông tin. Những điều này dẫn đến việc thành h́nh một śêu cường “độc cô cầu bại”.

Những tổ chức được Mỹ chọn lựa để duy tŕ vị thế siêu cường của ḿnh không phải chỉ có WTO, nhưng c̣n là Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank). Trước tiên WTO, IMF là một tổ chức THIẾU MINH BẠCHPHẢN DÂN CHỦ nhất. Tất cả những chánh sách đều được quyết định trong ṿng bí mật. Sự bí mật trong quá tŕnh đạt đến các quyết định biến các cơ quan này thành những cơ quan lư tưởng khiến những quốc gia đang bị khó khăn có thể than phiền khiếu nại. Thứ hai, các cơ quan WTO và IMF là những bộ máy hữu hiệu để bắt các quốc gia khác thi hành bổn phận bắt buộc, nhất là quốc gia đang phát triển. WTO dọa là sẽ trả đũa đối với hàng hóa xuất cảng của các quốc gia bất tuân lịnh, và IMF áp đặt những điều kiện vay nợ khắt khe cho các nước nghèo. Nước Mỹ đă dùng các cơ quan này để áp lực các quôc gia đang phát triển không được lộn xộn và giúp các tổ hợp kinh tế thế giới hủy bỏ được những chướng ngại và nếu cần, đưa vài quyền lợi nhỏ để quyến dụ các quốc gia này chịu phục tùng. Theo quy ước do Mỹ áp đặt, tất cả những chức vụ chỉ huy của các cơ quan WTO, IMF và World Bank do Mỹ và Âu Châu chia nhau chỉ định. Khi một nhân vật từ một nước đang phát triển, như Supachai Panitchpakdi của Thái Lan, có nhiều triển vọng trở thành một ứng cử viên lănh đạo WTO, Mỹ bèn áp dụng vơ tự do. Cựu Tổng Thống Bill Clinton dọa sự bế tắc trong việc chỉ định chức vụ lănh đạo sẽ kéo dài vĩnh viễn, trừ phi ứng cử viên do Mỹ đưa ra được chỉ định. Clinton nói thẳng thừng là ông phải “chú ư đến những vấn đề liên quan đến quyền lợi của nước Mỹ khi chỉ định người chỉ huy của tổ chức này và việc chĩ định này phải phù hợp với những điều mà chúng tôi tin tưởng là sẽ phục vụ cho những nhu cầu của WTO.” V́ thế không ai ngạc nhiên khi tờ Financial Times trích dẫn kết luận của Ủy Ban điều tra do Liên Hiệp Quốc về việc chỉ định Giám Đốc của WTO, đă so sánh WTO như là cơn ác mộng hăi hùng của các nước đang phát triển. Những hoạt động của WTO phản ảnh cho một chánh sách cổ động cho quyền lợi các tổ hợp kinh tế quốc tế, hiện nay hầu như đă đóng vai tṛ độc quyền trên các hoạt động thương măi quốc tế. Theo tờ The Economist cho IMF và World Bank là công cụ phản ảnh rơ ràng chánh sách ngoại giao của các nước Tây Phương, nhất là Mỹ.

 Nói một cách khác kinh tế thế giới hiện nay hoạt động cho quyền lợi của Mỹ và nhóm đại cường kinh tế G7 do Mỹ cầm đầu. (Nga la một hội viên mới G8, tuy nhiên không đóng vai tṛ đáng kể về kinh tế) Đối với các nước đang phát triển, các hoạt động này chỉ là sự xếp đạt liên tục để giữ họ măi măi bị giữ trong t́nh trạng yếu thế. Nếu những cấu trúc kimh tế tiếp tục hoạt động như thế, cái gọi là phát triển kinh tế, như chúng ta thường hiểu hiện nay, là một trở ngại hơn là một giải pháp cho t́nh trạng chậm tiến. Sự phát triền có tánh cách quy ước hiện nay tạo ta một t́nh trạng lẩn quẩn, làm thiệt hại đến quyền lợi của những nước nghèo nhất. Theo mô thức phát triển quy ước này, các nước nghèo tiếp tục nai lưng ra nhập cảng những kỹ thuật mắc tiền- và thường thường lỗi thời tại các nước tiên tiến- từ Mỹ và các nước phát triển kỹ nghệ khác, mà các nước đang phát triển ít có khả năng quản lư và bảo quản. Các kỹ thuật này thường lấn át các kỹ nghệ sản xuất cũ kỹ địa phương. Các quốc gia đang phát triển biết rơ nghịch lư này và thường nài nỉ yêu cầu Mỹ thay đổi chánh sách, nhưng thường bị gác bỏ ngoài tai. Nếu cả thế giới chỉ có một cái nh́n duy nhất và chỉ có một số các “giá trị” chung, v́ hoàn cảnh lịch sử và kinh tế phức tạp khác biệt, các ‘cơ hội phát triển kinh tế’ của các nước nghèo dần dần trở thành những thất bại kinh tế và cuối cùng các cơ hội này hoàn toàn biến mất. Những sự thất bại kinh tế không phải là do lỗi của các của những nước nghèo mà là một phó sản trực tiếp của thái độ ích kỷ của những nước giáu nhất. Nước Mỹ đă dùng 8 phương thức để tước đoạt tài sản của các quốc gia nghèo mà chúng ta sẽ lần lượt xem xét sau đây. 

1- Nước Mỹ đă tài trợ sự tăng trưởng kinh tế quốc nội của ḿnh bằng cách dùng vốn tiết kiệm của cả thế giới. Ed Mayo, Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu New Economic Foundation (NEF), đặt cơ sở ở London, nói là “kể từ khi vàng không c̣n là trữ kim để bảo đảm cho việc phát hành tiền tệ, Mỹ hưởng lợi rất nhiều v́ Mỹ là một nước dẫn đầu về tiền tệ. Mỹ phát hành tiền tệ một cách tự do (v́ không cần trữ kim bảo chứng-seignorage) và tiền Mỹ trở thành đơn vị tiền tệ lưu hành khắp thế giới. Mỹ cũng tự ư quyết định mức lăi xuất tuỳ theo quyền lợi nước Mỹ thay v́ quyền lợi của thế giới. Một trong những thảm họa xảy ra v́ chính sách tài chánh dưới thời Reagan và Thatcher là việc Mỹ nâng mức lăi xuất lên quá cao, đă gây ra sự sụp đổ tài chánh của Mexico, làm nước này vĩnh viễn mang nợ ngập đầu cũng như làm thiệt hại đến các quốc gia nghèo khác. Từ đó đến nay, có rất nhiều quốc gia đă lâm vào t́nh trạng thiếu nợ ngập đầu ngập cổ tương tự. Nhiều quốc gia lâm vào t́nh trạng tân thối lưỡng nan, hoặc là họ thả nổi giá trị tiền tệ, một quyết định bất lợi v́ sức mạnh của đồng Mỹ Kim, đồng Yen và đồng Euro, hay định giá trị tiền tệ theo một mức nào đó so đồng đô la Mỹ, thường đưọc gọi là “đô-la hóa”, với những hậu quả không thể lường trước được như trong trường hợp của Argentina. Mayo nói là khi một quốc gia nghèo như Argentina bị mắc nợ không c̣n cứu văn được, một số lượng tiền tệ khổng lồ (130 tỷ Mỹ Kim, gần bằng tổng số tiền mà Argentina mắc nợ) bị các giai cấp giàu có đưọc giáo dục từ Mỹ, chuyển sang các ngân hàng ngoại quốc, phần lớn sang các ngân hàng ở Mỹ. T́nh trạng này cũng tương tự như trường hợp các nông gia nhỏ ở Mỹ phải chịu đựng. Các nông gia nhỏ ở Mỹ được khuyến khích mượn tiền với mức lời “rẻ” để khuếch trương nông trại của họ, mua thêm nông cụ, hạt giống vân vân, nhưng cho dù họ có canh tân hay cải thiện nông trại đến đâu họ cũng không thể nào cạnh tranh với những công ty nông nghiệp lớn có tài nguyên vĩ đại, hiện kiểm soát sản xuất cũng như thị trường Mỹ. Hậu quả là số tiền mắc nợ càng ngày càng nhiều, và các quốc gia- cũng như các nông gia độc lập nhỏ ở Mỹ, không đủ lợi tức để trả tiền lời, nói chi là tiền vốn, dù họ làm việc khó nhọc bao nhiêu.

2- Mỹ từ chối không cho hai phần ba dân chúng toàn cầu kiểm soát một cách dân chủ các nền kinh tế của họ. Phần lớn các quốc gia đảng phát triển không có tiếng nói nào trong các quyết định của IMF và không có quyền phát động bất cứ một sáng kiến nào để thay đổi các quyết định của WTO, nhất là những chánh sách họ bắt buộc phải thi hành như những điều kiện bắt buộc khi được vay tiền. Các chính sách này đưa đến việc các tư bản ngoại quốc dần dần làm chủ các cơ quan tài chánh và guồng máy sản xuất và chế ngự hầu hết kinh tế quốc gia. Thí dụ như trong cuộc khủng hoảng kinh tế tại các nước Đông Nam Á, IMF, với áp lực của Mỹ, buộc Thái Lan và Nam Hàn phải cho tư bản ngoại quốc làm chủ thêm cổ phần các ngân hàng và công ty tài chánh. Đây là những điều kiện có tánh cách chiến lược quan trọng nhất của IMF, ngoài những điều kiện kinh tế vĩ mô (macro-economic) như tăng mức lăi xuất, giảm mức chi tiêu của chánh phủ (phần lớn về mặt an sinh, y tế, giáo dục), chú ư đến mức tăng trưởng kinh tế và giảm sự thâm thủng ngân sách. Như một phần của các điều kiện trong cuộc thương thuyết với IMF, Thái Lan “được” yêu cầu cho tư bản ngoại quốc làm chủ thêm các ngân hàng địa phương. Qua những điều kiện cho mượn tiền kiểu này, các đại công ty thương măi và kỹ thuật cuối cùng làm chủ một phần hay toàn phần các cổ phần trong các ngân hàng địa phương, các cơ quan tài chánh cũng như các ngành kỹ thuật chính yếu tại các nước đang phát triển.

3-  Mỹ giải thích việc “tự do hoá thương mại” một chiều, nghĩa là các nước đang phát triển phải mở cửa cho các tổ hợp và các doanh nghiệp Mỹ. “Tự Do Hoá thương mại”, nghĩa là hủy bỏ hay giảm các hàng rào ngăn chặn hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia, đă bắt đầu từ thập niên 1980. Theo các thỏa ước của WTO về nông phẩm, (AoA) Word Bank và IMF đặt ra chương tŕnh gọi là chương tŕnh gọi là “thích ứng các cấu trúc” (SAPs) mà các nước đang phát triển phải thực hiện. Các nước nghèo không những phải thay đổi chánh sách về thực phẩm và nông nghiệp, c̣n phải mở cửa kinh tế của họ để nhập cảng thực phẩm, đồng thời giảm hay giới hạn mức trợ cấo tài chánh cho các nông gia địa phương. Trong khi hiệp ước AoA đ̣i hỏi các hội viên của WTO giảm mức ǵới hạn thực phẩm nhập cảng xuống 24% trong ṿng 10 năm, phần lớn các SAPs đ̣i hỏi các nước đang phát triển thực hiện nhiều phương thức “tự do hóa thương mại” toàn diện, cũng như các phương thức liên hệ như tư hữu hóa những công ty quốc doanh, băi bỏ việc trợ cấp và kiểm soát giá cả và băi bỏ các Ủy Ban Phụ Trách Thị Trường (như Ủy Ban Phân Phốí Lúa Ḿ Úc AWB có thể bị hy sinh đề đánh đổi hiệp ước về tự do mậu dịch mà Ua Và Mỹ đang kèn cựa) . Ai cũng tưởng là các thỏa thuận mà WTO đưa ra là do sự đồng ư và tham dự của các nước đang phát triển. Trên thực tế, toàn bộ thỏa thuận này là do Mỹ và khối Âu Châu đạo diễn. Cơ quan từ thiện Anh Oxfam gọi AoA là hành động “lường gạt” trắng trợn và là một trong những nguyên nhân làm tăng mức độ nghèo khó của dân chúng các các quốc gia thứ ba và đă huỷ diệt nguồn sinh sống cùa những nông gia nhỏ. Thỏa thuận này giúp Mỹ và khối Công Đồng Âu Châu xuất cảng các hàng hóa với giá rẻ sang các nước đang phát triển, và các nông gia ở các nước này không thể nào cạnh tranh nổi về giá cả và sẽ phải bị phá sản hay đổi nghề. Các hàng hóa nhập cảng với giá rẻ là một dịp để các nước giàu “đem đổ” các thực phẩm thừa mứa qua các nước nghèo, thường được bán thên thị trường địa phương với giá rẻ mạt, dưới cả giá thành sản xuất. Thí dụ như tại Ghana, nông dân không thể nào bán nông phẩm như bắp, gạo, đầu nành, thỏ, cừu và dê với một giá phải chăng, ngay tại các thị trường trong làng xóm. Trong quá tŕnh sản xuất, các nông gia này phải trả giá cao cho các loại phân bón và thuốc diệt rầy và hạt giống với giá cao- và giá bán ra thường thấp hơn giá thành sản xuất. Tuy nhiên giá thực phẩm bán cho người tiêu thụ vẫn không hạ. Mức sống của các nông dân nghèo khó ở các vùng quê càng ngày càng thấp mặc dù mức sản xuất của họ tăng gia. Hậu quả là, có hàng ngàn nông dân phải đổ ra các thành phố lớn t́m cách sống và họ trở nên một gánh nặng cho kinh tế quốc gia. Hậu quả thường thấy là kinh tế nông thôn bị huỷ diệt, mức sản xuất thực phẩm địa phương xuống dốc và mức độ an toàn trong việc cung cấp thực phẩm cho dân chúng trong nước bị đe dọa. Hiện tượng này được lập đi lập lại từ quốc gia này sang quốc gia khác.

4- Mỹ cổ động cho một loại “kinh tế tự do” nhưng chính thực ra nhằm hủy diệt tự do kinh tế của người nghèo. Các nưóc đang phát tŕển nằm trong thế gọng ḱm. Một mặt họ phải mở rộng cửa cho những doanh nghiệp kỹ nghệ của các nước ngoài vào và họ cần dành giựt những thị trường trên thế giới. Mặt khác, việc mở cửa tự do này ngăn cản những cố gắng của họ trong nổ lực tăng gia sản phẩm và kỹ nghệ xuất cảng nhưng trên th5ưc tế hàng hóa do họ sản xuất không xâm nhập vào thị trường Mỹ như họ mong muốn. Kinh tế thị trường là thế đấy! Kinh tế này c̣n mang tên khác là chủ nghĩa tân tự do (neo-liberalism), muốn trở lại chủ nghĩa tự do thề kỷ thứ 19, nền kinh tế ‘muốn làm ǵ th́ làm’, trong đó nhà nước hoàn toàn không nhúng tay can thiệp vào các hoạt động kinh tế. Trên thực tế chánh quyền Mỹ đóng một vai tṛ quan trọng trong việc cổ động cho các tổ hợp quốc tế và các doanh thương Mỹ. Cho nên cái gọi là “tự do mậu dịch” do WTO và IMF cổ động không khác ǵ hơn là một h́nh thức “ăn cướp cạn” (nguyên văn highway robbery), chỉ có lợi cho nước giàu và khiến cho dân chúng ở các nước nghèo bị nguy cơ thiếu thực phẩm, như Andrew Simms, người cầm đầu chương tŕnh kinh tế toàn cầu NEF. V́ những chánh sách kinh tế của Mỹ, dưới biểu ngữ kinh tế toàn cầu hóa, mỗi một ngày các nước nghèo mất gần 2 tỷ đồng v́ chương tŕnh mậu dịch quốc tế “gian lận” (rigged) này, 30 ngàn (ba chục ngàn) trẻ con bị chết v́ những căn bịnh có thể ngăn ngừa được và 60 triệu mỹ kim từ các nước nghèo chạy vào trong túi của các nước giàu.

5- Mỹ ngăn cản một cách có hệ thống các biện pháp làm giảm nghèo đói và cung cấp thực phẩm cho dân chúng của các nước đang phát triển. Trái với nguyên tắc căn bản của tự do mậu dịch, Mỹ đă t́m nhiều cách để dựng lên một hàng rào ngăn cản các nông phẩm nhập cảng vào Mỹ như gạo, đường, và cà phê; đối các loại hạt Mỹ cấm nhập cảng 100%. Các giới hạn về thương măi này đă làm các nước nghèo thiệt hại 2 tỷ rưỡi một năm trong việc thu nhập ngoại tệ. Hậu quả toàn diện rất khốc hại. Thí dụ như ở Haiti, việc tự do hóa thị trường lúa gạo và sự tăng gia trợ cấp các sản phẩm nhập cảng từ Mỹ không những làm hủy hoại kỹ nghệ sản xuất lúa gạo ở đây mà c̣n làm vô số nông gia không c̣n đất sống và đe dọa việc cung cấp lương thực của quốc gia này. Từ quốc gia này đến quốc gia khác, các kỹ nghệ cần nhiều nhân công và các kỹ nghệ tạo ra công ăn việc làm cho công nhân của các nước nghèo như kỹ nghệ hàng vải, giày dép và nông nghiệp bị sụp đồ. Việc Mỹ bán tháo bán đổ các sản phẩm, thường với giá rẻ hơn là giá thành sản xuất của các kỹ nghệ địa phương, đă tiêu hủy nguồn sinh sống của thành phần yếu kém nhất và khiến họ lâm vào cảnh nghèo nàn truyền kiếp.

6- Mỹ gạt gẫm những quốc gia kém phát triển nhất và làm tăng nạn nghèo khó ở các quôc gia này. Thí dụ như Đạo Luật Tăng Trưởng Và Cơ Hội cho các quốc gia Phi Châu (AGOS) do Tổng Thống George W, Bush kư vào tháng 10 năm 2001, đă lừa các quốc gia Phi Châu. AGOA lẻ ra phải miễn thuế nhập cảng và băi bỏ giới hạn cho các sản phẩm nhập cảng từ các quôc gia Phi Châu vào thị trường Mỹ, để đổi một vài nhượng bộ kinh tế cho một số các công ty Mỹ. Các quốc gia Phi Châu được lợi những ǵ? Mỹ chỉ cho nhập cảng các loại hàng nào không gây thiệt tḥi của các nhà sản xuất của Mỹ. Do đó các nông phẩm như cà phê, đường và những sản phẩm khác có thể đem lại lợi tức cho các nên kinh tế Phi Châu, không được bao gồm trong danh sách các sản phẩm đặc biệt này. AGOA cho phép các loại hàng vải và quấn áo do các nước Phi Châu sản xuất được miễn thuế và nhập cảng tự do, tuy nhiên chỉ có loại hàng vải nào dùng tơ sợi của Mỹ để dệt mới được nhập cảng dễ dàng. Các loại hàng vải dệt từ tơ sợi do các nước Phi Châu hay các nước khác sản xuất sẽ bị giới hạn. V́ệc các sản phẩm được “tự do” nhập cảng vào Mỹ được duyệt xét hàng năm và không được quá 3.5% của các sản phẩm hàng vải nhập cảng vào Mỹ trong ṿng 8 năm. Hơn nữa Mỹ có thể rút lại đặc quyền này bất cứ lúc nào, nếu thấy số lượng hàng vải nhập cảng vào Mỹ tăng lên một mức có thể đe dọa các kỹ nghệ quốc nội. Việc đ̣i hỏi các nguyện liệu của Mỹ phải được dùng trong việc sản xuất hàng vải làm thiệt hại kỹ nghệ sản xuất nhiên liệu của các quốc gia Phi Châu; họ phải trả nguyên liệu nhập cảng từ Mỹ với một giá rất mắc, chưa kể sở phí chuyên chở và các sở phi liên hệ khác. Do đó các sản phẩm hàng vải do các nước Phi Châu sản xuất không cạnh tranh nổi với hàng nội địa Mỹ về mặt giá cả. Không phải là các sản phẩm này không cạnh tranh nổi với sản phẩm của Mỹ hay của các nước khác, nhưng v́ những luật lệ do Mỹ đặt ra khiến cho các sản phẩm này không cạnh tranh nổi! Mỹ đ̣i hỏi lại những ǵ trong chuyện này? Đạo luật AGOA đ̣i hỏi các quốc gia Phi Châu phải:

· băi bỏ hàng rào nhập cảng và mức đầu tư giới hạn ở Phi Châu, đối xử các công ty Mỹ như các công ty Phi Châu và bảo vệ bản quyền bảo vệ tài sản trí thức của Mỹ đúng theo tiêu chuẩn quốc tế

· Tư hữu hóa thêm và không đưọc trợ cấp các công ty quốc doanh và băi bỏ sự kiểm soát về giá cả

· bảo đảm các tiêu chuẩn quốc tế về lao động và định mức tuổi lao động cho trẻ con

· Không được có hành động nào có thể làm tổn thương đến an ninh quốc pḥng và chánh sách ngoại giao của Mỹ.

Mỹ có đưọc những quyền lợi thiết thực từ đạo luật AGOA , trong khi quyền lợi của các nước Phi Châu chỉ là một thứ bánh vẽ! Những loại “hiệp ước” kiểu này đă gây ra thêm nạn nghèo đói ở Phi Châu trong ṿng 2 thập niên qua.

7- Mỹ tiếp tục có những hành động nhằm hạ giá các sản phẩm tiêu dùng của các nước đang mở mang. Mayo nói: “Chống lạm phát đựợc xem như là một trong những thành công chính của kinh tế Mỹ trong ṿng 10 năm qua và đă làm giá hàng tiêu dùng càng ngày càng hạ. Các hàng hóa giá hạ này do các quốc gia đang mắc nợ ngập đầu xuất cảng. WTO và IMF đă khuyến khích các quôc gia nghèo nâng mức xuất cảng như là một phương thức trả nợ. Những sản phẩm như trà, cà phê, và các loại hạt- viện trợ- và nạn dư thừa các sản phẩm khiến các quôc gia nghèo phải mượn nợ nhiều thêm- trong khi lợi tức của các quốc gia Phi Châu giảm xuống. Trong khi WTO và IMF hổ trợ việc các nước nghèo xuất cảng khiến cho số lượng sản phẩm xuất cảng thừa mứa, không có một tổ hợp xuất cảng nào thành h́nh, trừ tổ hợp xuất cảng dầu lửa OPEC, để quân b́nh mức cung và mức cầu. Khi những tổ hợp này sắp sữa được thành lập, các công ty đại diện quyền lợi Mỹ t́m mọi cách ngăn cản, như dự định thành lập một tổ hợp của các nhà sản xuất chuối phải bỏ dở nửa chừng vào các năm 1970, khi tổ hợp này muốn thành lập theo mô thức của tổ hợp các quốc gia sản xuất dầu hỏa. Các công ty sản xuất chuối ở các nước Trung Mỹ và Châu Mỹ La Tinh nghĩ là họ có thể hành động theo tổ hợp của các quốc gia sản xuất dầu hỏa. Tuy nhiên chuối không phải là dầu, v́ chuối không thể giữ lâu dưới ḷng đất như dầu, khi nào muốn bán th́ bơm lên bán, nhờ đó có thể kiểm soát mức cung cấp. Chuối để lâu sẽ bị hư thối! Tuy nhiên lư do chính khiến các tổ hợp chuối không thể thành h́nh được v́ các các đại công ty chuối ở Mỹ như Chiquita t́m cách phá hoại sự h́nh thành của tổ hợp này. Chuối thuộc thị trường của người mua, mà người mua chính là dân Mỹ. Dân chúng Mỹ hưởng lợi v́ mua chuối với giá hạ và chỉ có các quôc gia sản xuất bị thiệt tḥi. Mỹ xếp đặt một cấu trúc kinh tế toàn cầu, và trong bất cứ hoàn cảnh nào, chỉ có kinh tế Mỹ có lợi!. Sở dĩ dân Mỹ có thể duy tŕ được lối sống cao của một quốc gia giàu có nhất trong lịch sử thế giới, nhờ mua thực phẩm với giá rẻ, nhờ sự làm việc nặng nhọc và cố gắng liên tục của dân chúng ở các quốc gia nghèo nhất!

8- Nếu những điều này vẫn chưa đủ, Mỹ sẽ tự ư áp đặt những cấm vận kinh tế, được biềt như là những cấm đoán (sanctions) một cách thường xuyên. Trong ṿng 80 năm qua, Mỹ đă đưa ra các những cấm đoán về kinh tế tất cả là 120 lần, 104 lần kể từ khi thế chiến thứ 2 chấm dứt. Chỉ nội trong năm 1998 Mỹ đă đưa ra những cấm đoán đối với 75 quốc gia khác nhau, làm ảnh hưởng đến đời sống của 52% dân số toàn cầu.

 Quán Như chuyển ngữ từ chương 3 của tác phẩm Why Do People Hate America? Ziauddin Sardar & Merryl Wyn Davies, Icon Books, UK, 2002

 

Lời bạt của người chuyển ngữ: Trong khi dịch bài này, tôi đọc được bài Một Chuyến Về Quê của Hà Dương Dực. Anh Dực than phiền về nạn tham nhũng ở Việt Nam và hy vọng là vào năm 2005, Việt Nam sẽ tham gia vào WTO. Anh Dực nói là muốn hủy bỏ nạn nghèo đói ở Việt Nam cần làm hai chuyện. Một là rủ bỏ cái lư thuyết lỗi thời như ở Nga và Đông Âu, nói một cách khác là từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản. Hai là anh hy vọng là khi Việt Nam vào WTO, dân chúng sẽ giàu có hơn. Anh nói: “Tôi cũng vẫn c̣n hy vọng trông mong ở lịch tŕnh vô W.T.O. V́ vô W.T.O th́ luật pháp phải nghiêm minh, rơ ràng Với sức ép của cả trong lẫn ngoài th́ hy vọng đất nước ta sẽ tiến triển tốt hơn và nhanh hơn trước nhiều. Hơn 80 triệu dân ta đâu phải thiếu nhân tài.”

Đọc xong bài này, tôi có một nỗi vui mừng và một mối lo. Mừng là v́ không có “cái gọi là Nhóm Giao Điểm”. Giao Điểm chỉ là một Diễn Đàn của một số anh em Phật Tử “ưu thời mẫn thế”, bày tỏ những suy nghĩ riêng tư của ḿnh về Đạo và Đời, không làm ǵ có chuyện ‘nhất trí”. “Nhất trí” là bóp nghẹt và giết chết tư tưởng, biến trăm hoa thành một thứ Cúc Vạn Tho! C̣n lo là có nhiều bài viết v́ cảm tính, thiếu thông tin và kết luận tùy tiện. Không ai cản anh em viết tùy bút. Không ai cản ai chống ai, miễn là phải có lập luận và thông tin hổ trợ. Chuyện đi ngược lại cơn lốc Globalisation có thể là chuyện bất khả, như Trung Quốc là một thí dụ. Tuy nhiên chánh sách khôn ngoan của các nhà cầm quyền Trung Quốc đă biến Trung Quốc thành một nước có mức tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới hiện nay (9%). Khi Mỹ yêu cầu Trung Quốc tăng giá trị tiền tệ, Trung Quốc lắc đầu nguầy nguậy! Và Trung Quốc không cần bỏ ư thức lỗi thời (i.e, Cộng Sản) mà chỉ làm theo lời (Đặng Tiểu B́nh) Tử viết: “Có thể lột da mèo bằng nhiều cách”. Nhưng bảo là “WTO luật pháp nghiêm minh”, xin lổi anh Dực, tôi không ngửi nổi! Cũng xin cán ơn anh Trần Chung Ngọc. Sau khi dịch xong bài này, đọc lại bài về Nhân Quyền của anh, tôi mới thấy thấm thía. Tôi chỉ đồng ư với anh Dục là, t́nh trạng tham nhũng bên nhà có thể gây những đại họa lâu dài cho dân tộc. Cứ tưởng tượng là các đại công ty, tổ hợp kinh tế Mỹ đề nghị tặng một số các viên chức kinh tế hoạch định chính sách một ít shares tại thị trường chứng khoán của Mỹ, mười hiệp ước để vào WTO họ cũng kư, nữa là một. Anh Dực ớ, đó mới là lư do khiến dân chúng ở các nước nghèo như nước ḿnh “nghèo măi măi”, không ngóc đầu lên được. C̣n cái lư thuyết cũ kỹ th́ nhằm nḥ ǵ mấy thứ lẻ tẻ đó, nếu anh c̣n nhớ “(Đặng Tiểu B́nh) Tử viết:…”

 

Phụ lục: Các cuộc can thiệp quân sự của Mỹ từ năm 1890 đến 2001

SOUTH DAKOTA 1890 (-?) Troops 300 Lakota Indians massacred at Wounded Knee.

ARGENTINA1890 Troops Buenos Aires interests protected.

CHILE 1891 Troops Marines clash with nationalist rebels.

HAITI 1891 Troops Black workers revolt on U.S.-claimed Navassa Island defeated.

 IDAHO 1892 Troops Army suppresses silver miners' strike.

 HAWAII 1893 (-?) Naval, troops Independent kingdom overthrown, annexed.

 CHICAGO 1894 Troops Breaking of rail strike, 34 killed.

 NICARAGUA 1894 Troops Month-long occupation of Bluefields.

 CHINA 1894-95 Naval, troops Marines land in Sino-Japanese War.

 KOREA 1894-96 Troops Marines kept in Seoul during war.

 PANAMA 1895 Troops, naval Marines land in Colombian province.

 NICARAGUA 1896 Troops Marines land in port of Corinto.

 CHINA 1898-1900 Troops Boxer Rebellion fought by foreign armies.

 PHILIPPINES 1898-1910(-?) Naval, troops Seized from Spain, killed 600,000 Filipinos.

 CUBA 1898-1902(-?) Naval, troops Seized from Spain, still hold Navy base.

 PUERTO RICO 1898(-?) Naval, troops Seized from Spain, occupation continues.

 GUAM 1898(-?) Naval, troops Seized from Spain, still use as base.

 MINNESOTA 1898(-?) Troops      Army battles Chippewa at Leech Lake.

 NICARAGUA 1898 Troops Marines land at port of San Juan del Sur.

 SAMOA 1899(-?) Troops Battle over succession to throne.

 NICARAGUA 1899 Troops Marines land at port of Bluefields.

 IDAHO 1899-1901 Troops Army occupies Coeur d'Alene mining region.

 OKLAHOMA 1901 Troops Army battles Creek Indian revolt.

    PANAMA 1901-14 Naval, troops Broke off from Colombia 1903, annexed Canal Zone 1914-99.

 HONDURAS 1903 Troops Marines intervene in revolution.

 DOMINICAN REP. 1903-04 Troops U.S. interests protected in Revolution.

 KOREA 1904-05 Troops Marines land in Russo-Japanese War.

 CUBA 1906-09 Troops Marines land in democratic election.

 NICARAGUA 1907 Troops "Dollar Diplomacy" protectorate set up.

 HONDURAS 1907 Troops Marines land during war with Nicaragua.

 PANAMA 1908 Troops Marines intervene in election contest.

NICARAGUA 1910 Troops Marines land in Bluefields and Corinto.

HONDURAS 1911 Troops U.S. interests protected in civil war.

CHINA 1911-41 Naval, troops Continuous occupation with flare-ups.

CUBA 1912 Troops U.S. interests protected in Havana.

PANAMA 19l2 Troops Marines land during heated election.

HONDURAS 19l2 Troops  Marines protect U.S. economic interests.

NICARAGUA 1912-33 Troops, bombing 20-year occupation, fought guerrillas.

MEXICO 19l3 Naval Americans evacuated during revolution.

DOMINICAN REPUBLIC 1914 Naval Fight with rebels over Santo Domingo.

COLORADO 1914 Troops Breaking of miners' strike by Army.

MEXICO 1914-18 Naval, troops Series of interventions against nationalists.

HAITI 1914-34 Troops, bombing 19-year occupation after revolts.

DOMINICAN REPUBLIC 1916-24 Troops 8-year Marine occupation.

CUBA 1917-33      Troops Military occupation, economic protectorate.

WORLD WAR I 19l7-18 Naval, troops Ships sunk, fought Germany

RUSSIA 1918-22 Naval, troops Five landings to fight Bolsheviks.

PANAMA 1918-20 Troops "Police duty" during unrest after elections.

YUGOSLAVIA 1919 Troops Marines intervene for Italy against Serbs in Dalmatia.

HONDURAS 1919 Troops Marines land during election campaign.

GUATEMALA 1920 Troops 2-week intervention against unionists.

WEST VIRGINIA 1920-21 Troops, bombing Army intervenes against mineworkers.

TURKEY 1922 Troops Fought nationalists in Smyrna (Izmir).

CHINA 1922-27 Naval, troops Deployment during nationalist revolt.

HONDURAS 1924-25 Troops Landed twice during election strife.

PANAMA 1925 Troops Marines suppress general strike.

CHINA 1927-34 Troops Marines stationed throughout the country.

EL SALVADOR 1932 Naval Warships sent during Faribundo Marti revolt.

WASHINGTON DC 1932 Troops Army stops WWI vet bonus protest.

WORLD WAR II 1941-45 Naval,troops, bombing, nuclear Fought Axis for 3      years; 1st nuclear war.

 DETROIT 1943 Troops Army puts down Black rebellion.

 IRAN 1946 Nuclear threat Soviet troops told to leave north (Iranian Azerbaijan).

YUGOSLAVIA 1946 Naval Response to shooting-down of U.S. plane.

URUGUAY 1947 Nuclear threat Bombers deployed as show of strength.

GREECE 1947-49 Command operation U.S. directs extreme-right in civil war.

CHINA 1948-49 Troops Marines evacuate Americans before Communist victory.

GERMANY 1948 Nuclear threat Atomic-capable bombers guard Berlin Airlift.

PHILIPPINES 1948-54 Command operation CIA directs war against Huk Rebellion.

PUERTO RICO 1950 Command operation Independence rebellion crushed in Ponce.

KOREA 1950-53 Troops, naval, bombing, nuclear threats U.S.& South Korea fight China & North Korea to stalemate; A-bomb threat in 1950, & vs. China in 1953. Still have bases.

 IRAN 1953 Command operation  CIA overthrows democracy, installs Shah.

VIETNAM 1954 Nuclear threat Bombs offered to French to use against siege.

GUATEMALA 1954 Command operation, bombing, nuclear threat CIA directs exile invasion after new gov't nationalizes U.S. company lands; bombers based in Nicaragua.

EGYPT 1956 Nuclear threat, troops Soviets told to keep out of Suez crisis; MArines evacuate foreigners

LEBANON 1958 Troops, naval Marine occupation against rebels.

IRAQ 1958 Nuclear threat Iraq warned against invading Kuwait.

CHINA 1958 Nuclear threat China told not to move on Taiwan isles.

PANAMA 1958 Troops Flag protests erupt into confrontation.

VIETNAM 1960-75 Troops, naval, bombing, nuclear threats Fought South Vietnam revolt & North Vietnam; 1-2 million killed in longest U.S. war; atomic bomb threats in 1968 and 1969.

CUBA 1961 Command operation CIA-directed exile invasion fails.

GERMANY 1961 Nuclear threat Alert during Berlin Wall crisis. CUBA 1962 Nuclear threat Naval Blockade during missile crisis; near-war with USSR.

LAOS 1962 Command operation Military buildup during guerrilla war.

PANAMA 1964      Troops Panamanians shot for urging canal's return.

INDONESIA 1965 Command operation Million killed in CIA- assisted army coup.

DOMINICAN REPUBLIC 1965-66 Troops, bombing Marines land during election campaign.

GUATEMALA 1966-67 Command operation Green Berets intervene against rebels.

DETROIT 1967 Troops Army battles Blacks, 43 killed.

UNITED STATES 1968 Troops       After King is shot; over 21,000 soldiers in cities.

CAMBODIA 1969-75 Bombing, troops, naval Up to 2 million killed in decade of bombing, starvation, and political chaos.

OMAN 1970 Command operation U.S. directs Iranian marine invasion.

LAOS 1971-73 Command operation, bombing U.S. directs South Vietnamese invasion; "carpet-bombs" countryside.

SOUTH DAKOTA 1973 Command operation Army directs Wounded Knee siege of Lakotas.

MIDEAST 1973 Nuclear threat World-wide alert during Mideast War.

CHILE 1973 Command operation CIA-backed coup ousts elected marxist president.

CAMBODIA 1975 Troops, bombing Gas captured ship, 28 die in copter crash.

ANGOLA 1976-92 Command operation CIA assists South African- backed rebels.

IRAN 1980 Troops, nuclear threat, aborted bombing Raid to rescue Embassy hostages; 8 troops die in copter-plane crash. Soviets warned not to get involved in revolution.

LIBYA 1981 Naval jets Two Libyan jets shot down in maneuvers.

EL SALVADOR 1981-92 Command operation, troops Advisors, overflights aid anti-rebel war, soldiers briefly involved in hostage clash.

NICARAGUA 1981-90 Command operation, naval CIA directs exile (Contra) invasions,  plants harbor mines against revolution.

LEBANON 1982-84 Naval, bombing, troops Marines expel PLO and back Phalangists, Navy bombs and shells Muslim and Syrian positions.

HONDURAS 1983-89   Troops Maneuvers help build bases near borders.

GRENADA 1983-84 Troops, bombing Invasion four years after revolution.

IRAN 1984 Jets Two Iranian jets shot down over Persian Gulf.

LIBYA 1986 Bombing, naval Air strikes to topple nationalist gov't.

BOLIVIA 1986 Troops Army assists raids on cocaine region.

IRAN 1987-88 Naval, bombing US intervenes on side of Iraq in war.

 LIBYA 1989 Naval jets Two Libyan jets shot down.

 VIRGIN ISLANDS 1989 Troops St. Croix Black unrest after storm.

 PHILIPPINES 1989 Jets Air cover provided for government against coup.

 PANAMA 1989-90 Troops, bombing Nationalist government ousted by 27,000 soldiers, leaders arrested, 2000+ killed.

LIBERIA 1990 Troops Foreigners evacuated during civil war.

SAUDI ARABIA 1990-91 Troops, jets Iraq countered after invading Kuwait; 540,000 troops also stationed in Oman, Qatar, Bahrain, UAE, Israel.

IRAQ 1990-? Bombing, troops, naval Blockade of Iraqi and Jordanian ports, air strikes; 200,000+ killed in invasion of Iraq and Kuwait; no-fly zone over Kurdish north, Shiite south, large-scale destruction of Iraqi military.

KUWAIT 1991 Naval, bombing, troops Kuwait royal family returned to throne.

LOS ANGELES 1992 Troops Army, Marines deployed against anti-police uprising.

SOMALIA 1992-94 Troops, naval, bombing U.S.-led United Nations occupation during civil war; raids against one Mogadishu faction.

YUGOSLAVIA 1992-94 Naval Nato blockade of Serbia and Montenegro.

BOSNIA 1993-95 Jets, bombing No-fly zone patrolled in civil war; downed jets, bombed Serbs.

HAITI 1994-96 Troops, naval Blockade against military government; troops restore President Aristide to office three years after coup.

CROATIA 1995    Bombing Krajina Serb airfields attacked before Croatian offensive.

 ZAIRE (CONGO) 1996-97 Troops Marines at Rwandan Hutu refuge camps, in area where Congo revolution begins.

LIBERIA 1997 Troops Soldiers under fire during evacuation of foreigners.

ALBANIA 1997 Troops Soldiers under fire during evacuation of foreigners.

SUDAN 1998 Missiles Attack on pharmaceutical plant alleged to be "terrorist" nerve gas plant.

AFGHANISTAN 1998 Missiles Attack on former CIA training camps used by Islamic fundamentalist groups alleged to have attacked embassies.

IRAQ 1998-? Bombing, Missiles Four days of intensive air strikes after weapons inspectors allege Iraqi obstructions.

YUGOSLAVIA 1999-? Bombing, Missiles Heavy NATO air strikes after Serbia declines to withdraw from Kosovo.

YEMEN 2000 Naval Suicide bomb attack on USS Cole.

MACEDONIA 2001 Troops NATO troops shift and partially disarm Albanian rebels.

UNITED STATES    2001 Jets, naval Response to hijacking attacks.

AFGHANISTAN 2001 Massive U.S. mobilization to attack Taliban, Bin Laden. War could expand to Iraq, Sudan, and beyond.

For more information or with comments and additions please contact:

Zoltan Grossman, 1705 Rutledge, Madison, WI 53704 Phone Fax

 (608)246-2256. mtn@igc.apc.org

Permission to reproduce this list in its entirety

Is granted by the author, please send any published copy to the above.

Bài trong tháng

1963 - Mùa Phật Đản đẫm máu
Another VIETNAM
Bush và Iraq II
Bài vè Chuyển Luân
Báo chí các nước ASEAN: “Xin triệu lần cảm ơn VN”
Cholesterol và bệnh tim
Deception
Francois Trufaut: Nhà điện ảnh cổ điển của đợt sóng mới
Gió đă đổi chiều ...Nguyễn Văn Lục
Góp phần nghiên cứu về TRƯƠNG VĨNH KƯ
Hiện tượng Vi Thuỳ Linh
Hạt bụi theo về
John Pilger bàn về cuộc chiến Iraq
Kennedy là người đằng sau cái chết của Ngô Đ́nh Diệm
Leo núi Lăng Nghiêm với Vũ Khắc Khoan_Nguyễn Hữu Liêm
Lễ tưởng niệm Sư bà Trí Hải
Mất mùa xám trong nhà
Như Sương Như Điển chớp
Nhận thức sai đầy dẫy ở Mĩ
Nói chuyện với VNCH FOUNDATION
Nếp nhăn vượt thời gian
Pete Peterson
Phong trào Phật Giáo Miền Nam năm 1963 với cuộc đáo chính lật đổ ch́nh quyền NGÔ Đ̀NH DIỆM (01/11/1963)
Say "No" to SBS-TV. Are our fears justified?  Trịnh Nhật
Sư bà Trí Hải, một trí thức tận tuỵ
THÁNG 11 CÓ G̀ ĐÁNG GHI NHẬN
Thương vong trong cuộc chiến Iraq
Tradition and Arrogance
Truyện ngắn: MỘT TÁC PHẨM NGHỆ THUẬT
Tự Do Mậu Dịch
Tự do mậu dịch hay tự do cưỡng đoạt tài sản...
Văn hoá Đông Nam Á trong sự đồng hoá của phương Tây
Y học hiện đại và những hứa hẹn

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE