Trong khi con số tử vong được
công khai báo cáo th́ con số thương tích vẫn nằm trong ṿng bí mật, hay ít ra là
nó không công khai trên mặt báo. Người ta biết chắc rằng con số này không nhỏ
v́ qua hệ thống bảo hiểm y tế và quân sự, con số này lên đến hàng chục ngàn
người. Quân lính bị thương trong cuộc chiến Iraq thường được điều trị sơ khởi
ngay tại Iraq và sau đó chuyển đến Trung tâm y tế quân sự Landstuhl ở Đức
(Landstuhl Regional Medical Center). Trung tâm này chăm sóc cho tất cả các bệnh
nhân quân đội trong chiến dịch “Operation Iraqi Freedom” (cuộc chiến ở Iraq) và
“Operation Enduring Freedom” (cuộc chiến ở Afghanistan). Đây là trung tâm y tế
quân sự lớn nhất ngoài nước Mĩ, với 322 lượng giường bệnh. Kể từ ngày
16/9/2003, trung tâm Landstuhl đă điều trị khoảng 6,000 quân lính tham gia trong
cuộc chiến ở Iraq.
Từ trung tâm Landstuhl, các
quân lính bị thương được chuyển về trung tâm y tế Walter Reed Army Medical
Center ở Washington, DC. Và từ đây, họ được chuyển đến các bệnh viện hay trung
tâm y tế trên khắp nước Mĩ. Do đó, rất khó mà thu thập con số thương tích và
hậu quả của vết thương sau khi các quân lính này được “xuất viện”.
Theo tờ
Washington Post (3/9/2003) con số lính Mĩ bị thương trong và nhất là sau khi
chiến tranh chấm dứt càng ngày càng cao, cao đến nổi đêm nào cũng có máy bay vận
tải C-17 (chuyên chở các quân lính bị thương) đáp xuống Căn cứ không quân
Andrews (Andrew Air Force Base) ở ngoại ô Washington. Tính từ khi cuộc chiến bắt
đầu, có hơn 6,000 quân lính bị thương đă được chuyển về Mĩ. Đó chỉ là con số
thương tích trong chiến tranh, chưa tính đến số người bị thương ngoài cuộc chiến
và số bệnh tâm thần.
Số phận những
binh sĩ bị thương này ra sao? Theo tờ Boston Globe (4/8/2003),
khoảng 1 trong số 7 người bị thương trong cuộc chiến Iraq chết sau đó vài
tháng. (Trong Thế chiến thứ II, tỉ lệ tử vong sau khi bị thương là 25% đến 33%;
trong chiến tranh Việt Nam và Hàn Quốc, tỉ lệ này là 24%). Như vậy, con số lính
Mĩ bị chết sau khi bị thương có thể lên đến 860 người.
C̣n thương vong
trong quân lính và thường dân Iraq th́ sao? Không ai biết chính xác có bao
nhiêu quân lính Iraq bị chết, nhưng các quan sát viên chiến tranh ước tính rằng
con số tử vong trong quân đội Iraq chỉ tính chung quanh thành phố Baghdad là
khoảng 2,300 người.
C̣n con số thường dân bị chết
trong cuộc chiến? Cũng không ai biết chính xác, v́ chẳng ai thu thập thống kê.
Nhưng các nhà quan sát cho biết có ít nhất là 9,000 thường dân Iraq đă bỏ mạng
v́ cuộc chiến do Mĩ và Anh cầm đầu. Cuộc chiến mà họ cho biết với vũ khí chính
xác do laser dẫn đường sẽ tối thiểu hóa con số tử vong. Và, trong khi các cuộc
tấn công mang tính du kích càng dồn dập, con số tử vong và thương vong trong
thường dân càng ngày càng cao hơn.
Người phát ngôn cho quân đội
Mĩ, Trung úy Kate Noble, cho biết lính Mĩ đă được huấn luyện kĩ càng để tránh
gây thương vong cho thường dân: “Chúng tôi hoạt động trong khuôn khổ luật pháp
chiến tranh cho phép và chúng tôi không cố ư tấn công vào thường dân hay các cơ
sở dân sự ... Song, tổn thất dân sự sẽ không thể tránh khỏi, nhất là trong các
cuộc đụng độ có cường độ cao.”
Liên quân Mĩ – Anh không giữ
hay thu thập thống kê về những tổn thất dân sự. Họ (Liên quân) cho biết thu
thập những thông tin như thế khó khăn lắm và không cách ǵ cập nhật hóa được.
Những người phê b́nh cuộc chiến và đấu tranh cho nhân quyền th́ tố cáo Liên quân
Mĩ – Anh là cố t́nh xem nhẹ những tổn thất trong dân chúng Iraq. Không thèm thu
thập các thống kê về thương vong trong thường dân có nghĩa là các giới quân sự
Mĩ – Anh chẳng thèm quan tâm đến các cuộc chiến tương lai, v́ những con số đó có
thể giúp cho họ cải tiến kế hoạch hành quân sao cho số thương vong trong dân
chúng phải tối thiểu.
Hamit Dardagan là một người
chuyên nghiên cứu về thương vong trong cuộc chiến Iraq. Trong trang nhà trên
liên mạng có tên là “Iraq Body Count”, Dardagan và đồng nghiệp dùng các báo cáo
của báo chí Tây phương về số lượng thường dân bỏ mạng trong cuộc chiến. Nhóm
này c̣n cẩn thận chỉ đếm những cái chết được ít nhất là hai báo đưa tin. Kết
quả? Từ 7,352 đến 9,152 thường dân Iraq đă bỏ mạng v́ cuộc chiến.
Tại sao con số tử vong trong
thường dân Iraq quá cao như thế trong khi cuộc chiến chỉ kéo vài có vài tuần?
Câu trả lời cũng không khó mấy: bởi v́ lính Mĩ – Anh dùng các vũ khí mạnh, những
vũ khí tàn sát hàng loạt để đè bẹp kẻ thù và do đó làm tổn hại nhiều đến thường
dân sống trong những vùng bị ảnh hưởng. Đâu phải lúc nào lính Mĩ – Anh cũng
dùng bom do laser chỉ đường, họ c̣n dùng xe bọc sắt, xe tăng, súng máy, tên lửa,
v.v... tức là những vũ khí không có độ chính xác cao để tấn công. Thủ đoạn dùng
hỏa lực lớn để đàn áp kẻ thù có hiệu quả cao trong chiến trường nhưng rất nguy
hiểm cho thường dân, nhất là thường dân trong các thành phố có mật độ dân số
cao.
Ngoài ra, các cuộc tấn công
mang tính du kích mà dân quân Iraq nhắm vào liên quân làm cho liên quân phản ứng
thêm quyết liệt. Điều này có nghĩa là họ sẽ dùng tất cả những vũ khí ǵ có
được để trả thù, và nạn nhân th́ vẫn là thường dân, thay v́ du kích quân.
Trong suy nghĩ
của những người ham thích chiến tranh, cứ việc bỏ bom, bắn giết, thay v́ suy
nghĩ một chính sách chiến lược lâu dài, là cách giải quyết tốt nhất cho một cuộc
khủng hoảng. Họ chẳng cần quan tâm đến mạng sống con người, nhất là con người
sống trong nước được gọi là “thù địch”. Ấy thế mà lănh tụ các nước này không
ngớt nói đến nhân quyền, họ nói mà không biết thẹn hay xấu hổ ǵ cả. Đế quốc
làm những ǵ mà nó muốn: vũ lực và giết người.