|
John Pilger bàn về cuộc chiến Iraq
Vài hàng giới thiệu:
JOHN PILGER là một kí giả ḱ cựu, một nhà làm phim thời
sự thuộc loại “hard hit” người Úc. Trong hơn 30 năm trời trong sự nghiệp làm
báo, làm phim, và viết sách, Pilger là người trực tiếp có mặt trong những cuộc
chiến đẩm máu trên thế giới, kể cuộc chiến Việt Nam, và mới đây cuộc chiến
Afghanistan và Iraq. Pilger là người liên tiếp chỉ ra những tội phạm chiến
tranh của các thế lực Tây phương và tội ác của bọn ḱ thị chủng tộc ở Nam Phi.
Trong cuốn phim thời sự mới
nhất, “Breaking the Silence: Truth and Lies in the War on Terror,” Pilger đánh
đổ những cái cớ gây chiến ở Iraq của chính phủ Mĩ và Anh. Đặc biệt, Pilger khám
phá một cuốn băng từ năm 2001 mà trong đó có thu thanh và thu h́nh lời nói của
Bộ trưởng ngoại giao Colin Powell và Cố vấn an ninh quốc gia Condoleezza Rice
thú nhận một sự thật quan trọng – rằng Iraq không có thực lực quân sự đe dọa an
ninh đến các nước chung quanh, và cũng không có vũ khí tàn phá hàng loạt. Cuốn
phim thời sự mới nhất này được tŕnh chiếu ở Anh vào tháng 9 vừa qua. Ngoài ra,
Pilger c̣n cho xuất bản một quyển sách mới, “The New Rulers of the World”, sách
gồm những bài luận văn của Pilger viết trong ṿng 10 năm qua, kể cả phần “cập
nhật hóa” về cuộc chiến ở Iraq.
Bài phỏng vấn sau đây do
Anthony Arnove thực hiện vào ngày 20 tháng 10 năm 2003. Chuyển Luân xin giới
thiệu bài viết đến bạn đọc.
***
Anthony Arnove (AA). Trong cuốn phim thời sự mới nhất của anh, anh trưng
bày một bằng chứng quan trọng là Colin Powell và Condoleezza Rice cho biết Iraq
không phải là một mối đe dọa. Anh có thể cho biết thêm về cái bằng chứng này
được không?
John Pilger (JP).
Đó là lời nói, là chữ của chính
họ. Trong lúc làm phim và t́m tài liệu, tôi phát hiện cuốn băng đó trong văn
khố, mà trong đó họ nói như thế, và tôi dùng tài liệu này trong cuốn phim của
tôi.
Cụ thể là như sau: Ngày 24/2/2001, tại Cairo, Ai Cập, Powell nói: "Ông
ta [Saddam Hussein] không thể nào phát triển nổi một khả năng quân sự để sản
xuất vũ khí tàn phá hàng loạt. Ông ta không có khả năng dùng các lực lượng quân
sự
chính qui chống lại láng
giềng." Bây giờ th́
chúng ta thấy ông ấy xoay 180 độ và tuyên bố rằng Hussein có vũ khí tàn phá hàng
loạt!
Powell c̣n khoe khoang rằng chính nhờ vào chính sách "ngăn chận" của Mĩ mà
nhà độc tài Hussein phải bó tay – một lần nữa, câu này hoàn toàn đi ngược lại
với những ǵ mà ông Bush và Blair tuyên bố ngày nay và nhiều lần trước khi cuộc
chiến Iraq xảy ra. Ngày 15/10/2001, Powell c̣n đi xa hơn và tuyên bố rằng ngay cả trong 10 năm tới, Saddam Hussein cũng không có
khả năng xây dựng
lực lượng quân sự
hay có khả năng phát triển vũ khí tàn phá hàng loạt. Ông cho biết Mĩ đă thành
công trong việc giữ Hussein trong cái hộp.
Hai tháng sau đó, Condoleezza Rice cũng mô tả một Iraq yếu đuối, chia rẽ,
và không có khả năng pḥng thủ. Rice nói: "Saddam không c̣n kiểm soát miền Bắc
Iraq nữa, chúng ta sẽ tiếp tục giam cầm ông ta. Lực lượng
quân sự của ông ta vẫn c̣n yếu ớt sau cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất.”
Đấy, đó là những tuyên bố của hai quan chức cao cấp nhất trong chính phủ
Bush. Ngày nay, chúng ta biết rằng chính họ nói láo trước công chúng để mạo
hiểm vào cuộc chiến ở Iraq.
AA.
Bây giờ th́ cuộc chiến đă xong
rồi, cái “Hồ sơ” (Dossier) cho rằng Iraq có vũ khí tàn phá hàng loạt mà Tony
Blair dùng để gây chiến có c̣n giá trị ǵ không?
JP.
Đó là một tṛ hề. Một phần
trong cái gọi là “Hồ sơ” đó được ăn cắp và đạo văn từ một luận án tiến sĩ của
một sinh viên Mĩ. Không những đạo văn, mà ngay cả các lỗi chính tả, họ cũng ăn cắp
luôn. Chẳng những ăn cắp, mà họ c̣n sửa
chữ nữa.
Chẳng hạn như những từ như
"opposition groups" (các
nhóm đối lập) th́ bị đổi thành "terrorist groups" (các nhóm khủng bố). Đây là
một sự dối trá nghiêm trọng nhất, nhưng cũng tồi dở nhất. Phần c̣n lại của cái
Hồ sơ đều bị chính giới t́nh báo Anh bác bỏ hay bẻ găy hết, ngay cả chính Chánh
văn pḥng của Blair cũng không chấp nhận những luận cứ trong cái Hồ sơ đó.
AA.
Thế anh có t́m thấy thông tin
nào cho thấy Iraq và al-Qaeda có quan hệ với nhau không?
JP.
Không. Thực vậy, hai nguồn tin
tốt nhất của tôi là Tổng thống Mĩ và Bộ trưởng quốc pḥng Rumsfeld, hai người
từng tuyên bố, chỉ sau vụ 9/11 vài ngày, rằng cái ư niệm cho rằng Iraq và
al-Qaeda có quan hệ nhau là vô duyên. Đó, đấy mới chính là thước đo lường sự
hoài nghi của họ. Nói láo với quốc gia, nói láo với thế giới, để sao cho người
Mĩ tin vào ḿnh, rồi lặng lẽ chính ḿnh bác bỏ. Cứ nh́n qua những báo cáo trên
giấy trắng mực đen, chúng ta chả thấy có mối liên hệ nào giữa al-Qaeda và Iraq,
chẳng t́m thấy bằng chứng có cán bộ của al-Qaeda ở Iraq. Có thể họ có mặt ở
Iraq, nhưng cũng như vụ vũ khí tàn phá hàng loạt, chúng ta không có bằng chứng.
AA. Anh nghĩ sao khi ông Bush cho rằng những du kích quân chống
Mĩ hiện nay ở Iraq là các lược
lượng
từ nước
ngoài?
JP.
Thật là mỉa mai! Người Mĩ đề cập đến “các lực lượng từ nước ngoài” tấn công
người Mĩ ở Iraq? Chao ôi, nghe cứ như là người Mĩ là người Iraq, hay là người
Iraq không hiện hữu.
Như Robert Fisk đă chỉ ra, hiện nay có khoảng 200,000 lính từ nước ngoài
đang có mặt ở Iraq, và trong số này, có 146,000 mang quân phục Mĩ. Có thể có
các chiến binh khác từ nước ngoài ở Iraq. Cuộc xâm lăng Iraq do Mĩ-Anh chủ
xướng là một cuộc tấn công vào thế giới Á Rập, và tôi sẽ không ngạc nhiên khi
thấy một lực lượng kháng chiến Á Rập được h́nh thành hiện nay hay nay mai để
chống lại Mĩ-Anh. Phong trào kháng chiến Pháp cũng từng được sự giúp đỡ từ các
chiến binh nước ngoài, đặc biệt là từ Anh, và như chúng ta biết, nhiều chuyện
khủng khiếp từng xảy ra. Ngày nay cũng sẽ chẳng có ǵ khác biệt. Bộ máy tuyên
truyền ngày nay đang nhắm vào việc làm lu mờ các sự thật của phong trào kháng
chiến Iraq.
Dù muốn hay không, đối với nhiều người Iraq, Saddam Hussein là hiện thân
của một phong trào quốc gia chủ nghĩa, và cái gọi là "tàn dư Saddam" là những
người theo chủ nghĩa quốc gia. Iraq là một nước có lịch sử lâu đời, một nước
với những tự hào dân tộc, chứ không phải một quốc gia bị chia rẽ v́ bộ lạc như
vài nhà b́nh luận Tây phương muốn chúng ta phải tin đâu.
Cuộc xâm lăng Iraq có vài biểu hiện giống với cuộc xâm lăng Việt Nam,
nhưng có lẽ nó giống với cuộc xâm lăng Afghanistan của Nga hơn. Nhưng hiện nay,
th́ những đặc điểm giống nhau chưa rơ nét đâu. Chỉ khi nào các nhóm Shia hành
động th́ chúng ta sẽ thấy nhiều hơn.
Theo tôi biết, một lực lượng quân đội Shia đang h́nh thành; họ có một
truyền thống kiên nhẫn, và họ sẽ đợi thời cơ, cũng như họ đă từng đợi thời cơ
dưới thời Shah ở Iran. Cuộc xâm lăng của Bush và Blair sẽ gặp trở ngại lớn nay
mai.
AA. Tại sao anh lại nghĩ rằng hệ thống truyền thông Mĩ quá chậm chạp để
cảnh cáo Mĩ về những bằng chứng mà anh đưa ra?
JP.
Hệ thống truyền thông của Mĩ chịu sự chi phối của các đại công ti, và là một
cánh tay dài của chính phủ Mĩ. Đấy là một sự thật quá hiển nhiên, nhưng không
được giảng dạy ở các phân khoa báo chí. Nh́n lại quang cảnh truyền thông trong
thời tố cộng McCarthy; đọc báo, nghe đài, xem ti-vi, th́ chúng ta sẽ rơ thôi.
Ngoại trừ một vài trường hợp ngoại lệ và cá biệt, tất cả hệ thống báo chí, radio
và truyền h́nh ngày nay cũng chẳng khác ǵ thời đó. Phong trào McCarthy được
lên cao và trở thành nguy hại đến xă hội Mĩ cũng nhờ vào sự tiếp tay của giới
truyền thông của Mĩ và các đại công ti Mĩ.
Ngay cả Edward R. Murrow cũng phải chờ măi đến năm 1954 mới dám vạch mặt
McCarthy, và lúc đó th́ McCarthy mới bắt đầu phai mờ. Chỉ đến khi mà McCarthy
tố cáo giới quân sự Mĩ có dính dáng với cộng sản th́ ông ta mới thất bại, chứ
thật ra, hệ thống truyền thông chẳng có góp phần nào vào việc hạ bệ McCarthy cả.
Ngày nay, trong thế kỉ 21, cũng cái hệ thống truyền thông đó la làng về
chủ nghĩa cực đoan. Charles Lewis, người điều hành Trung tâm Liêm chính Công
cộng (Center for Public Integrity) và là một cựu kí giả làm việc cho đài CBS,
tin rằng nếu giới truyền thông thách thức những lừa dối của Bush ngay từ lúc đầu
th́ có lẽ cuộc xâm lăng Iraq sẽ không xảy ra. Tôi đồng ư với nhận xét này.
Đó là tiềm năng sức mạnh của truyền thông, nhưng để biến tiềm năng đó
thành sự thật, giới kí giả phải hành xử như là những người bảo vệ sự thật và bảo
vệ quần chúng, chứ không phải tuyên truyền và chạy theo các quyền lực đương
thời. Đây là lúc mà giới kí giả phải nghiêm túc về nghề nghiệp của họ, phải xem
xét lương tâm của họ, và chấm dứt những xuyên tạc, bóp méo sự thật, chấm dứt
việc bẻ cong ng̣i bút và đạo đức nghề nghiệp nhằm giữ cái nồi cơm cá nhân.
AA. Nếu họ không t́m đâu ra vũ khí tàn phá hàng loạt ở Iraq, và cũng không
t́m ra bằng chứng về mối liên hệ giữa Iraq với al-Qaeda, hai lí do để xâm chiếm
Iraq, th́ theo anh, động cơ xâm chiếm của họ là ǵ?
JP.
Dầu hỏa, dĩ nhiên là động cơ số 1, và kiểm soát Trung Đông là động cơ số 2. Này
nhé, Saudi Arabia, một đại diện Mĩ ở Trung Đông, càng ngày càng trở nên khó tin,
nên họ phải t́m một đại diện khác. Mĩ muốn chiếm toàn bộ Iraq để làm căn cứ, và
để khai thác dầu. Hăy đọc qua những bản báo cáo được đệ tŕnh lên Bush và Dick
Cheney ngay sau khi họ được tuyên bố là đắc cử th́ sẽ rơ. Một báo cáo của Hội
đồng Ngoại giao (Council on Foreign Relations) nói chẳng úp mở ǵ cả, rằng "Hành
động ngay từ
bây giờ để giành dầu hoả trước khi hết dầu, nếu không th́ Trung Quốc sẽ giành hết."
Cuộc xâm lăng c̣n là một cuộc chiến mà Alexander Haig gọi là "Cuộc chiến
chứng
minh." Nó chứng minh sự tham lam trắng trợn của những người cực đoan trong
chính phủ Bush, và quyết tâm của họ trong việc áp đặt loại tư bản chủ nghĩa trên
nhân loại. Nó gửi cho thế giới một thông báo: "Coi chừng. Khôn hồn mà liệu,
bằng không các ông là sẽ mục tiêu sắp tới của chúng tôi."
AA.
Anh đến Iraq nhiều lần. Nhận xét của anh về cuộc sống của người dân Iraq ngày
nay ra sao?
JP.
Tôi không thể nói cuộc sống của họ qua kinh nghiệm cá nhân. Nhưng bạn bè tôi
ở
Iraq cho tôi biết, nói như
một lá thư mà họ mới viết
cho tôi, là "Một địa ngục mà chúng tôi chưa bao giờ nghĩ đến." Một viện nghiên
cứu ở Baghdad vừa làm một nghiên cứu về dư luận công chúng sau ngày Mĩ xâm chiếm
Iraq, và phát hiện rằng đa số người Iraq tin rằng t́nh h́nh ngày nay c̣n tệ hơn
cả t́nh h́nh dưới thời Saddam Hussein.
Số lượng tù nhân ngày nay chắc chắn là cao hơn – tối thiểu là 4,000 người
đă bị tống giam, và có lẽ c̣n nhiều hơn nữa. Tra tấn tập thể, xâm phạm tất cả
các điều lệ quốc tế về chiến tranh và tù nhân, là chuyện hàng ngày. Tở chức
Amnesty International báo cáo rằng t́nh h́nh nhân quyền hiện nay ở Iraq chỉ
có thể thấy trong các chế độ độc tài, toàn trị.
AA. Anh vừa đến Afghanistan. Kinh nghiệm ở Afghanistan có
thể cho chúng ta những ài học ǵ về cuộc xâm chiếm Iraq không?
JP.
Chúng ta có thể học rằng Mĩ có một khả năng vô song để nghiền nát bất cứ một
quốc gia yếu ớt về quốc pḥng nào trên thế giới, nhưng Mĩ không có khả năng để
kiểm soát t́nh h́nh sau đó. Ở Afghanistan, người Mĩ gần như là bị bao vây chung
quanh căn cứ không quân Bagram, giống như lúc họ bị bao quanh căn cứ không quân
ở Pleiku, Việt Nam, vậy.
Ngoài ra, người Mĩ c̣n bị bao vây bằng sự bất tín và thù hận, và họ không
có ư muốn xây dựng một hệ thống thuộc địa từng giúp người Anh kiểm soát toàn bộ
dân số với vài ngàn quân. Tôi nghĩ một ngày nào đó, Mĩ sẽ bị hất cẳng khỏi
Iraq, và hậu quả cũng sẽ nghiêm trọng như thời họ bị hất cẳng khỏi Việt Nam vậy.
|