1963 - MÙA PHẬT ĐẢN ĐẪM MÁU
CHÍNH ĐẠO
LỜI TÁC GIẢ:
Cuộc tranh
đấu của Phật giáo năm 1963 là một đề tài c̣n gây nhiều xúc động và tranh căi.
Tuy nhiên, cho tới hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu sử đích thực nào về đề
tài này. Một trong những lư do quan trọng là thiếu sử liệu. Tài liệu văn khố
chưa được hoàn toàn giải mật. Đa số các tác giả đều đứng về phe này hay phe kia,
xếp đặt và diễn giải các dữ kiện vốn bị giới hạn và thiếu sót theo sự yêu ghét
hay khuynh hướng chính trị, tôn giáo của họ. Tác nhân lịch sử bị đặt lên những
chiếc giường của tên tướng cướp, thừa chặt bớt, ngắn kéo dài ra cho vừa khuôn
thước thành kiến tiên thiên của ḿnh. Không ít người c̣n bịa đặt ra những chi
tiết không thực để bẻ cong lịch sử.
Trong cuốn
Tôn Giáo & Chính Trị: Phật giáo, 1963 -1967, do nhà Văn Hóa xuất bản năm 1994,
tôi đă dành một chương khá dài cho cuộc tranh đấu năm 1963 của Phật giáo miền
Nam. Gần 10 năm qua, nhiều tài liệu văn khố Mỹ, Pháp và Liên Hiệp Quốc đă được
giải mật thêm, nên tác giả đă hiệu đính chương này sau mỗi lần nghiên cứu ở các
văn khố. Tuy nhiên, trên đại thể, những nét chính vẫn không thay đổi bao lăm.
Xin đọc
thêm “Cái chết của một hàng tướng: DƯƠNG VĂN MINH, 1916-2001” trong Nguyên Vũ,
Ngàn Năm Soi Mặt (Houston: Văn Hóa, 2002).
I. TỪ CỜ ĐẾN MÁU LỬA:
Ngày 6/5, Đổng lư Văn pḥng
Phủ Tổng Thống, Quách Ṭng Đức, gửi đi khắp nơi lệnh cấm treo cờ tôn giáo, theo
"khẩu lệnh" của Tổng thống NGÔ Đ̀NH DIỆM (1955-1963). (1)
Lệnh này được ban hành không
đầy 48 tiếng đồng hồ trước Lễ Phật Đản 2507 (15/4 Quí Măo, tức 8/5/1963), và tới
các địa phương ngày hôm sau, 7/5, khi các tư gia, chùa chiền đă treo cờ ngũ sắc
Phật giáo, cùng biểu ngữ và cổng chào. Theo lời khai của các viên chức chính
phủ với phái đoàn Liên Hiệp Quốc [LHQ] vào tháng 10/1963, Diệm biết rơ rằng lệnh
cấm treo cờ trên sẽ ảnh hưởng đến ngày Phật Đản sắp tới—ngày lễ quan trọng
nhất của Phật giáo—nhưng bất chấp hậu quả. (2)
Lập luận của chính phủ để biện
minh cho lệnh cấm treo cờ ngày Phật Đản là Diệm thấy rằng quốc kỳ (cờ vàng ba
sọc đỏ) phải được tôn trọng hơn cờ tôn giáo. Hàm ư là dân chúng chỉ được phép
treo quốc kỳ, c̣n cờ tôn giáo chỉ được phép treo trong các ngày lễ, tại các nơi
thờ tự hay tư gia, với sự chấp thuận của chính quyền địa phương. Đó là tinh thần
Nghị định 189/BNV/NA/P5, hiệu lực từ ngày 12/5/1958 của Bộ Ngội Vụ. (3)
Cờ Phật giáo ngũ sắc được
chính thức công nhận tại Đại Hội Phật giáo Thế Giới [World Fellowship of
Buddhists, hay Hội Bằng Hữu Phật giáo Thế Giới] tại Colombo (Sri Lanka, hay Tích
Lan), từ ngày 26/5 tới 7/6/1950. Thượng tọa Tố Liên đại diện cho Việt Nam tại
Đại Hội này. Chùa Quán Sứ Hà Nội là nơi lá cờ ngũ sắc của Phật giáo được
trương lên trước tiên trên toàn thể đất nước Việt Nam. Trong thập niên 1950, lá
cờ Phật giáo ngày càng trở thành quen thuộc v́ sự phát triển khá mạnh của các hệ
phái Phật giáo tại phía Nam vĩ tuyến 17.
Sự phát triển đặc biệt này,
tưởng cần nhấn mạnh, không do sự khuyến khích của tam đầu chế Ngô Đ́nh Thục -
Ngô Đ́nh Diệm - Ngô Đ́nh Nhu. Sự giúp đỡ bất cứ tôn giáo không Ki-tô nào chỉ có
tính cách tượng trưng, do các cấp viên chức địa phương (như không khắt khe áp
dụng luật số 10 về các hiệp hội, hay cho mở sổ số để gây quĩ, v.v...). Nhận hiểu
rơ ràng rằng Phật tử chiếm đa số dân chúng trong nước, trong những năm đầu chế
độ Thục-Diệm-Nhu quay mặt làm ngơ trước sự phát triển mạnh mẽ của các khuôn hội,
đoàn Phật tử, v.v... Những người góp công lớn trong việc phát triển này của
Phật giáo là số tăng ni di cư miền Bắc và một số khá đông Phật tử chống Cộng.
Xây dựng chùa chiền, tổ chức các ban đại diện, phát động phong trào Phật tử,
phát huy và hoằng dương đạo pháp là một phương thức chống Cộng ḥa b́nh và hữu
hiệu nhất: Lấy tôn giáo chống lại Cộng Sản vô thần (những người từng ví von tôn
giáo như thuốc phiện).
Ngoài ra, việc phát triển các
chùa chiền, khuôn hội c̣n phản ảnh một giai đoạn mới của cuộc chiến tranh lạnh
giữa Phật giáo và Ki-tô giáo, đă kéo dài hơn bốn thế kỷ, và lên cao độ dưới thời
Pháp thuộc (1858-1945, 1945-1955). Trong giai đoạn Pháp xâm chiếm Việt Nam,
Ki-tô giáo ngày một vượt thắng v́ là tôn giáo của giai tầng chiếm đóng (Bảo hộ
Pháp) và đa số giai tầng trung gian bản xứ trung kiên. Rất nhiều danh tự của
Đại Nam đă biến thành nhà thờ ở Hà Nội, Sài G̣n, Nam Định hay Quảng Trị. Mặc dù
từ thập niên 1910 các viên chức Pháp quyết định đoạn tuyệt với chính sách đồng
hóa và Ki-tô hóa của Hội truyền giáo, chuyển sang chính sách hợp tác hay
Pháp-Việt đề huề, măi tới thập niên 1920 Phật giáo và các tổ chức tôn giáo
bản xứ khác mới bắt đầu được "duy tân" và khuyến khích đoàn ngũ hóa. Nhưng thời
gian này, các cộng đồng Ki-tô bản xứ đă trở thành những quốc gia trong một quốc
gia, và cung cấp cho giai tầng trung gian bản xứ cũng như thị dân một nhân số
quan trọng. Chính v́ thế Ngô Đ́nh Diệm (1897-1963)—với thành tích hết hợp tác
với Pháp tới Nhật, và bị đánh giá là "a Catholic mystic"—vẫn được chọn
làm lănh tụ miền Nam chống Cộng. Ngắn và gọn, số chùa chiền, tu viện, hay
khuôn hội Phật giáo gia tăng từ 1954 tới 1963 không chỉ do ảnh hưởng của quốc
sách chống Cộng, mà c̣n bộc lộ sự chống đối vừa tiêu cực vừa tích cực của các
lănh tụ Phật giáo với chế độ giáo phiệt Ki-tô Diệm-Thục-Nhu. (4)
Tổng Giám Mục Thục
(1897-1984), người cai quản địa phận Huế từ năm 1961, dĩ nhiên chẳng muốn thấy
sự hiện hữu của bất cứ lá cờ Phật giáo nào tại Huế hay miền Trung, nói chi sự
phát triển vững mạnh của Tổng Giáo Hội Phật giáo.
Thục, theo Tướng Lê Văn Nghiêm, từng tuyên
bố với những người tín cẩn rằng "cần phải hạ Phật giáo bằng mọi phương tiện, nếu
không Phật giáo sẽ mạnh hơn Ki-tô," và "ngay cả đời sống giáo dân sẽ bị đe dọa."
(5)
Mùa Xuân 1963 Thục c̣n có thêm
lư do khác để "ra tay" với Phật giáo. Ngày lễ kỷ niệm 25 năm thụ phong Giám mục
sắp đến. Thục—theo lời một nhân chứng ngoại quốc, viết bằng Mỹ ngữ ngày
12/6/1963, và Linh mục Cao Văn Luận, Viện truởng Đại học Huế - đă xin với
Vatican lên chức Hồng Y v́ "80% dân chúng trong giáo phận Huế là giáo dân
Ki-tô." (6)
Vatican bèn gửi một phái đoàn
điều tra tới miền Trung vào đầu tháng 5/1963. Mặc dù cờ Ki-tô giáo giăng mắc
khắp nơi trong thời gian phái đoàn ở Việt Nam, đại biểu Vatican cũng ghi nhận là
Phật tử đang chuẩn bị cờ ngũ sắc Phật giáo, biểu ngữ và cổng chào mừng đón Phật
đản 2507. Bởi thế phái đoàn Vatican kết luận sơ khởi rằng chỉ có 20% dân miền
Trung theo đạo Ki-tô mà không phải 80% như Thục báo cáo. Để che dấu sự thực,
Thục ngầm cho lệnh các viên chức địa phương cấm treo cờ hay tuần hành rước lễ
Phật Đản. Dù Thục có áp lực Diệm ban hành lệnh cầm treo cờ Phật giáo trong ngày
Phật Đản 2507 hay chăng, văn thư nhắc nhở lệnh cấm ngày 6/5/1963 là một sỉ
nhục lớn lao với Phật tử. V́, cho tới ngày 5/5, cờ Ki-tô giáo nửa vàng, nửa
trắng c̣n phất phới khắp miền Nam, trong khi tổng số giáo dân Ki-tô không quá
10% dân số.
Sáng ngày 7/5 (tức 14 tháng 4
Quí Măo), Tỉnh trưởng Thừa Thiên kiêm Thị trưởng Huế là Nguyễn Văn Đẳng báo cáo
với Cố vấn chỉ đạo miền Trung Ngô Đ́nh Cẩn (1911-1964) về lệnh cấm treo cờ.
Theo một nguồn tin, Cẩn bảo Đẳng đừng can thiệp v́ có giao t́nh với Tổng Hội
Phật giáo Việt Nam và bài vị cha mẹ Ngô Đ́nh Khả c̣n đặt tại chùa Diệu Đế.
(7)
Cẩn cũng sai Hồ Đắc Khương,
Đại biểu Chính phủ tại Trung Phần, đánh điện tín xin Sài G̣n hoăn thi hành lệnh
trên. Tuy nhiên, một số nhân viên Cảnh Sát, Công An đă sốt sắng tháo gỡ cờ Phật
giáo bất kể sự phản đối của dân chúng. Mật Vụ của Hồ Đắc Vang cũng đến các tư
gia yêu cầu họ hạ cờ Phật giáo. (8)
Cẩn c̣n mời Thượng tọa Trí
Quang tới tư dinh, dự một cuộc họp với Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lượng và Thị
trưởng Đẳng. Theo lời khai của Lượng với Phái đoàn Liên Hiệp Quốc ngày
30/10/1963, đích thân Lượng cho lệnh tạm hoăn thi hành lệnh cấm treo cờ, và các
lănh đạo Phật giáo rất măn nguyện. (9)
Tại Đà Nẵng, cách Huế khoảng
100 cây số về phía Đông Nam, Cảnh sát cũng tới các cơ sở thương mại, ra lệnh cấm
treo cờ mừng Phật đản; bằng không sẽ bị rút giấy phép. Chẳng hiểu việc làm này
liên hệ ǵ đến Thị trưởng Hà Thúc Luyện hay chăng.
Cách nào đi nữa, ngày 8/5, Tư
lệnh Quân Đoàn I là Thiếu tướng Lê Văn Nghiêm vẫn cho phép quân nhân Phật tử tổ
chức lễ Phật Đản. (10)
Tại Đà Nẵng, quân nhân Phật tử
dựng một khán đài tại góc đuờng Thống Nhất và bờ sông Bạch Đằng (sông Hàn), và
tổ chức diễn hành xe hoa.
Tại Huế, Phật tử cũng dựng
khán đài và kết cờ Phật giáo. Nhưng không khí tranh đấu đă được hâm nóng bằng
bài diễn văn nẩy lửa của Thượng tọa Trí Quang trong buổi lễ sáng 8/5 tại chùa
Từ Đàm, với sự tham dự của nhiều viên chức cao cấp địa phương.
Tối đó, một biến cố đẫm máu
đột ngột xảy ra. Giữa lúc hàng ngàn Phật tử tụ họp trước Đài phát thanh Huế vào
khoảng 8 giờ tối để nghe chương tŕnh phát thanh đặc biệt Phật Đản, một nhóm
thanh niên Ki-tô giật cờ Phật giáo tại một cổng chào, rồi xông tới đập phá lễ
đài. Bạo động bùng nổ. Giám đốc đài phát thanh Huế cũng từ chối phát lại cuốn
băng buổi lễ Phật Đản tại chùa Từ Đàm, khóa trái cửa "để bảo vệ máy móc"
trước sự đe dọa của một số Phật tử hung hăn. Thiếu tá Đặng Sỹ, Phó Tỉnh trưởng
Nội An, dẫn Cảnh Sát, và lực lượng an ninh (Biệt đội Ngô Đ́nh Khôi) gồm 8 tuần
thám xa [blinder] của Địa Phương Quân, 1 đại đội ĐPQ, 1 đại đội trừ Bộ
Binh, đến tái lập trật tự. Sau khi đám đông không chịu giải tán, Sỹ cho lệnh
dùng ṿi rồng phun nước, và rồi nổ súng. Đa số binh sĩ không tuân lệnh, chỉ có
đơn vị riêng của Sỹ thẳng tay đàn áp.
Dân chúng hoảng hốt tranh nhau
bỏ chạy tứ phía. 9 người chết, 14 bị
thương. (11)
Trong
số người chết, có 2 trẻ em bị tuần thám xa cán chết. (12)
Đây là một tội ác chiến tranh
[war crime] và tội ác chống lại nhân quyền [crime against Human
rights] của Đặng Sỹ; và các cấp chỉ huy, kể cả Diệm, phải liên đới trách
nhiệm. Để che đậy sự thực, thoạt tiên chính phủ loan tin một quả lựu đạn của
quân khủng bố nổ, v́ lực lượng chính phủ đă được lệnh chỉ bắn chỉ thiên hoặc
đạn mă tử. Sau khi đám đông đă bị giải tán, viên chức chính phủ mang 9 xác chết
tới bệnh viện thị xă Huế. Y sĩ Lê Khắc Quyến, Giám đốc Y tế miền Trung, được
lệnh phải ghi vào giấy chứng tử là các nạn nhân "chết v́ lựu đạn do
khủng bố Việt Cộng ném." Quyến không chịu kư. (13)
Diệm bèn cách chức Quyến, gọi
vào Sài G̣n đợi lệnh. Thị trưởng Đẳng cũng cách chức Sỹ, và viết thư phản đối
lên chính phủ. Những ngày kế tiếp, t́nh h́nh Huế cực kỳ sôi động. Suốt đêm
mồng 8 rạng 9/5, thanh thiếu niên kéo nhau đi quanh các đường phố, hô to khẩu
hiệu đả đảo Diệm. Khoảng 11G00 sáng, chừng
800 Phật tử tụ họp biểu t́nh. Tỉnh trưởng Đẳng yêu cầu họ giải tán để
tránh bị "phản loạn" lợi dụng. Ngày 9/5, Diệm sai Bộ trưởng Nội vụ trở lại Huế
giải quyết. Lượng tiếp xúc giới lănh đạo Phật giáo, kể cả Thượng tọa Trí
Quang. Lượng áp lực Trí Quang phải đi theo xe phóng thanh kêu gọi mọi người ra
về. Trí Quang chỉ ḥa thuận bề ngoài, chưa chịu lùi bước. (14)
Thị trưởng Đẳng cũng ban hành
lệnh giới nghiêm từ 9 giờ tối. Chiều 9/5, Phong trào Cách Mạng Quốc Gia
tổ chức mít-tinh, lên án Cộng Sản phá hoại, khủng bố trong đêm 8/5. Rất ít
người tham dự, và không ai lên diễn đàn.
Một số tiểu đoàn Dù gốc Nùng được điều tới Huế để "bảo vệ trật tự." Mật
vụ của Cẩn cũng bắt đầu lùng bắt các lănh tụ Phật tử, và lực lượng an ninh cô
lập hàng ngàn người biểu t́nh trong ṿng rào kẽm gai. (15)
Ngày 10/5, trong cuộc biểu
t́nh qui tụ khoảng 5,000-6,000 Phật tử, tăng ni tại chùa Từ Đàm, Trí
Quang đọc diễn văn, kêu gọi bất bạo động và Phật tử tiếp tục treo cờ.
Sau đó, đại diện Ủy ban tranh đấu trao cho
Thị trưởng Đẳng một Thông Bạch [Manifesto], đ̣i hỏi 5 điều tương đối ôn
hoà:
? tự
do treo cờ;
? Phật
giáo được hưởng quyền dành cho Ki-tô giáo như qui định trong
Dụ số 10 [ngày 6/8/1950];
?
ngưng bắt giữ và khủng bố Phật tử;
? tự
do tín ngưỡng;
? bồi
thường cho nạn nhân ngày 8/5 và trừng trị những người có trách nhiệm.
Năm
người đứng kư tên là Thượng tọa Tường Vân, Mật Nguyện, Mật Hiền, Trí Quang, và
Thiện Siêu (16)
Với đại đa số Phật tử, "Dụ số
10" nêu trong Thông Bạch ngày 10/5/1963 có vẻ xa lạ. Dụ này do Bảo Đại ban
hành ngày 6/8/1950 liên quan đến qui chế các hiệp hội, đảng phái. Gồm 5
chương, 45 điều. Điều thứ 44 ghi nhận:
"Chế độ đặc biệt cho các hội
truyền giáo Thiên chúa và Gia tô, và các Hoa kiều lư sự hội sẽ ấn định sau."
(17)
Điều này có nghĩa các tổ chức
tôn giáo như Phật giáo, Hoà Hảo, Cao Đài, Islam v.v... đều chỉ được phép hoạt
động nếu có sự đồng ư của chính phủ.
Thị trưởng Đẳng, con nuôi tinh
thần của Ḥa thượng Tịnh Khiết, Hội chủ Tổng hội Phật giáo, lên diễn đàn xin lỗi
về tai nạn đă xảy ra, và hứa sẽ bồi thường cho các nạn nhân và gia đ́nh. Trong
khi đó Cẩn áp lực Trí Quang và các lănh đạo Phật giáo phải ngưng tranh đấu, t́m
cách giải quyết. Hôm sau, 11/5, Trí Quang triệu tập một buổi họp với các Giáo
sư và sinh viên, học sinh để giải thích 5 nguyện vọng của Phật giáo. (18)
Từ ngày 13/5, Trí Quang cũng
gặp Đại biểu chính phủ để thảo luận về 5 đ̣i hỏi của Phật giáo. Mặc dù cho rằng
những yêu sách của Phật giáo là "vô căn" [groundless], viên chức này
tuyên bố chính phủ sẽ cứu xét.
Đại biểu của chính phủ thêm
rằng đ̣i hỏi của Phật giáo mang tích cách một "tối hậu thư," và đây là một
sai lầm. (19)
Có lẽ
thỏa măn với những nhân nhượng của chính quyền, Trí Quang nhờ Tỉnh trưởng Thừa
Thiên chuyển thư cho Cẩn, hứa không tranh đấu nữa. (20)
Tại Sài G̣n, dù chưa là trung
tâm của mắt băo, Phật tử cũng biểu t́nh liên tiếp trong hai ngày 7 và 8/5 để
chống lệnh cấm treo cờ và đ̣i b́nh quyền tôn giáo. Ngày 9/5, Thượng tọa Tâm
Châu, Phó Hội chủ Tổng Hội Phật giáo Việt Nam, thành lập Ủy Ban Liên
Phái Bảo Vệ Phật giáo—quyết "Tử V́ Đạo." Ủy ban này qui tụ 11 Hội đoàn. (
21)
Tâm Châu được cử làm Chủ tịch;
với Mai Thọ Truyền, Tổng thư kư. Văn pḥng đặt tại chùa Xá Lợi trên
đường Bà Huyện Thanh Quan.
Bộ
Ngoại Giao Mỹ đặc biệt quan tâm đến cuộc đàn áp Phật tử ở Huế. Mặc dù tuyên bố
trung lập trong cuộc đấu tranh của Phật giáo, các viên chức cao cấp tại Bạch
Cung có thiện cảm với phe Phật giáo. Từ Oat-shinh-tân, chiều ngày 9/5 [04G24
sáng ngày 10/5 VN], Ngoại trưởng Dean Rusk chỉ thị Đại sứ Frederick Nolting yêu
cầu Diệm:
(1)
Không nên đàn áp Phật tử,
(2)
bày tỏ cảm t́nh với gia đ́nh nạn nhân và giúp tiền an táng,
(3) sử
dụng những biện pháp thích nghi để văn hồi trật tự, và
(4)
tạo tinh thần thân ái giữa các nhóm giáo dân. (22)
Trong khi đó, cơ quan CIA ghi
nhận có tin đại diện Cao Đài và Hoà Hảo đang thảo luận việc phối hợp hành động
với Phật giáo. Lại cũng có tin tuyệt thực đă bắt đầu tại Huế từ ngày 12/5.
Theo trung tá Thuong (?), Giám đốc Cảnh Sát Công An Trung nguyên Trung Phần,
Phật tử dự định biểu t́nh khắp đồng bằng miền Trung ngày 21/5. Tại Sài G̣n cũng
có tin sẽ biểu t́nh ngày 21/5. (23)
Do sự dàn xếp khôn khéo của
Nolting, ngày 15/5, Diệm tiếp kiến đại diện Phật giáo tại Sài G̣n. Phái đoàn
Phật giáo đầu tiên này gồm có Thượng tọa Thích Thiện Ḥa (Trị sự trưởng Giáo
Hội Tăng Già Toàn quốc); Thích Thiện Hoa (Trị sự trưởng Giáo Hội Việt Nam);
Thích Thiện Thái (Trị sự trưởng Giáo Hội Bắc Việt), Thượng tọa Lâm Em
(Trị sự trưởng Chùa Chanterasey), Thích Dũng Chí (đại diện Phật giáo
Nguyên Thủy), cùng hai cư sĩ Mai Thọ Truyền (Hội trưởng Hội Phật học Nam
Việt), và Vũ Bảo Vinh (Hội trưởng Hội Phật học Bắc Việt). Phe chính
phủ cóù Bùi Văn Lượng (Nội vụ) và Paul Ngô Trọng Hiếu (Công dân vụ). (24)
Theo Việt Tấn Xă ngày
17/5, về đ̣i hỏi số 1 (rút lại lệnh cấm treo cờ Phật giáo), Diệm cho rằng cả
Ki-tô lẫn Phật giáo đă có lỗi về việc treo cờ; chỉ được treo cờ trong các thánh
đường hay chùa. Về đ̣i hỏi thứ hai (Dụ số 10), Diệm nói sẽ cứu xét lại. Điểm
3, về việc bắt giữ Phật tử và tăng ni, Paul Hiếu khẳng định không hề có "khủng
bố." Lượng tuyên bố "không hề có việc quân đội ném lựu đạn, xe thiết giáp bắn
trọng pháo hay cán vào đám đông... Sự thật chỉ có hai trái plastic do
Việt Cộng thừa lúc lộn xộn mà giựt, v́ Quân đội không có plastic và căn
cứ vào vết tích c̣n lại." Diệm nói những người bị bắt có hành động bất an cho
dân chúng và chính quyền, nếu tha ra, phần tử xấu sẽ lợi dụng. Điểm 4, về tự do
tín ngưỡng, Diệm nói đó là quyền hiến định. Điểm 5, về bồi thường, Diệm chỉ hứa
sẽ nghiên cứu việc trợ cấp. Đại diện Phật giáo đưa thêm hai đề nghị: ra Huế
thăm viếng những người bị bắt giữ và tổ chức cầu siêu cho nạn nhân. Diệm nói sẽ
cứu xét đ̣i hỏi thứ nhất, và đồng ư đ̣i hỏi thứ hai, với điều kiện chỉ tổ chức
trong khuôn viên các chùa. Nhưng đại diện Phật giáo, qua buổi họp này, kết luận
rằng Diệm chưa có quyết định nào rơ rệt. (25)
Đáng ghi nhận là từ ngày
15/5/1963 này, Lượng bắt đầu thay "lựu đạn" bằng hai trái ḿn từ lực của Cộng
Sản mà quân đội không được cấp phát. Đây là nỗ lực "sửa sai" của chế độ để chối
bỏ tội lỗi (trong khi măi tới ngày 25/5, Diệm mới thú nhận là cấp dưới đă báo
cáo sai lạc về một hay nhiều trái lựu đạn). (26)
V́ sắp rời Việt Nam qua Greece
[Hy Lạp] nghỉ thường niên, Nolting khuyến khích Diệm nên ra một tuyên cáo chính
thức về vấn đề Phật giáo. Nolting cũng tiếp xúc Khâm sứ Vatican là Salvatore
d’Asta và Linh mục Cao Văn Luận để thuyết phục Diệm. Theo Bộ trưởng Nguyễn Đ́nh
Thuần, thương thuyết với Phật giáo tiến triển tốt đẹp, nhưng chủ chốt là chính
phủ muốn tránh trách nhiệm. (27)
Ngày 18/5, khi cùng XLTV Đại
sứ William C. Trueheart qua chào tạm biệt Diệm, Nolting cố thuyết phục Diệm đáp
ứng nguyện vọng của Phật giáo. Nolting muốn Diệm phải tuyên bố chịu trách nhiệm
về biến cố ở Huế, bồi thường cho nạn nhân, và tái khẳng định chính sách b́nh
quyền tôn giáo và không kỳ thị. (28)
Diệm không hứa điều ǵ. Diệm
vẫn tin, hoặc muốn diễn giải rằng biến cố ở Huế là do các lănh tụ Phật giáo
khích động; những người chết ở Huế là do một hay nhiều trái lựu đạn, do Cộng sản
hay những người chống đối chế độ ném, không phải viên chức chính phủ; và một số
lănh đạo Phật giáo lợi dụng biến cố ở Huế để củng cố thế lực trong nội bộ Giáo
hội. Dưới mắt Diệm, vấn đề Phật giáo không quá nghiêm trọng như Mỹ tưởng nghĩ.
(29)
Dù được xem những khúc phim về
cuộc đàn áp - chứng minh quân lính của Sỹ bắn vào Phật tử - Diệm không thay đổi
lập trường. (30)
Diệm chỉ quyết định cách chức
Đẳng, đưa Nguyễn Văn Hà ra Huế. Đồng thời, bổ nhiệm Nguyễn Xuân Khương, đương
kim Tổng Giám Đốc Điền Địa, thay Hồ Đắc Khương làm Đại biểu Trung Phần, hiệu
lực từ ngày 1/6/1963.
Cho rằng chính phủ kỳ thị Phật
giáo, các tăng ni quyết tranh đấu đến cùng. Ngày 21/5/1963, tại Sài G̣n, 600 tu
sĩ biểu t́nh, rồi diễn hành từ chùa Ấn Quang đến chùa Xá Lợi.
Mặc dù từ ngày 24/5 các chuyên viên y khoa khẳng định rằng thương tích nạn nhân
ở Huế đêm 8/5 không do mảnh lựu đạn gây nên Diệm vẫn chẳng tỏ một thái độ ḥa
giải nào. (31)
Măi
tới ngày 29/5—sau khi tuần báo Newsweek ngày 27/5/1963 đề cập đến sự lộng
hành của tập đoàn cai trị Ki-tô của Thục cùng các "quan" ở Huế (32)- báo chí bán
chính thức của chính phủ mới đăng một tuyên cáo của Diệm, khẳng định quyền tự do
và b́nh đẳng tín ngưỡng được qui định trong điều 17 của Hiến Pháp; nhưng vẫn bảo
vệ lệnh treo cờ, v́ quốc kỳ phải có địa vị tối thượng. Ngày này, tại Mỹ, báo
New York Times [New York Thời Báo] loan tin Phật tử rất bất măn về
cách đối xử của Diệm, và đang chuẩn bị đấu tranh tuyệt thực, đồng thời tổ chức
cầu siêu trong ṿng 4 tuần lễ. David Halberstam—một trong những kư giả lập nên
sự nghiệp nhờ chiến tranh Việt Nam và chủ trương nhà Ngô phải ra đi—thuật lại là
trong buổi họp ngày 15/5, Diệm đă lên án các tăng sĩ là "bọn khùng" [damn
fools] khi đ̣i hỏi b́nh đẳng tôn giáo, v́ quyền này đă được Điều 17 của Hiến
pháp (một bộ tiểu thuyết luật pháp và nhân quyền) bảo đảm.
Bộ Ngoại Giao Mỹ vội thông báo
cho Trueheart về nội dung bài báo trên, đồng thời chỉ thị Trueheart phải đích
thân gặp Diệm, thuyết phục Diệm thỏa măn nguyện vọng của Phật giáo. (33) Hôm
sau, Bộ Ngoại Giao đồng ư cho Trueheart gặp Khâm sứ Vatican, nhờ khuyên bảo Diệm
về vấn đề Phật giáo. (34)
Trueheart chưa kịp gặp Diệm,
Phật giáo đă hành động. Ḥa thượng Tịnh Khiết—đúng hơn nhóm lănh đạo tranh
đấu—chỉ thị cho các tăng sĩ tuyệt thực 48 tiếng đồng hồ kể từ 2 giờ chiều ngày
30/5/1963. Ngày này, tại Sài G̣n, 350 tăng ni biểu t́nh trước Quốc Hội, rồi
tuyệt thực. Tại Huế, dù chùa Từ Đàm bị cô lập, các cấp lănh đạo Phật
giáo vẫn tuyệt thực. Khoảng 3,000 Phật tử bị vây hăm trong ṿng rào kẽm gai.
Tại Quảng-Trị, Phật tử biểu t́nh trong trật tự.
Ngày Thứ Bảy, 1/6, đúng ngày
Tỉnh trưởng Đẳng, Phó Nội an Đặng Sỹ và Đại biểu Trung phần bị thay thế, nhiều
đoàn Phật tử Huế tụ họp tại một số địa điểm trong thành phố, kể cả văn pḥng
tỉnh trưởng và Đại biểu chính phủ tại miền Trung. Khoảng 10,000 người tụ họp
trước chùa Từ Đàm. Sau đó giải tán do yêu cầu của các tăng sĩ. Đỗ Cao Trí điều
Nhảy Dù và M-113 từ Quảng-trị vào Huế đề pḥng bất trắc. (35)
Tại Đà Nẵng, Phật tử cũng tổ
chức tuần hành không bạo động vào ngày 1/6, do các tăng ni dẫn đầu. Tối hôm
trước, 31/5, Đại tá Lâm Văn Phát, Tư lệnh Sư đoàn 2 BB—một giáo dân Ki-tô tân
ṭng, thường tự chứng tỏ là rất trung thành với chế độ—cho lệnh các đơn vị dưới
quyền chuẩn bị chống biểu t́nh. Chiều 1/6ù, một xe vận tải hai tấn rưỡi (GMC)
của quân đội chở đầy đạn bỗng dưng bị hư máy ở một ngă tư cách Toà Thị chính một
khu phố về phía Bắc. Cấp chỉ huy bèn phái một xe GMC khác tới tháo rỡ đạn, dưới
sự bảo vệ an ninh của một đơn vị tác chiến. Quân Cảnh, Cảnh Sát và Công An cũng
chặn đường từ phía Nam lên Toà Thị chính.
Kế hoạch của Phát không đủ
ngăn cản Phật tử biểu t́nh trong trật tự. Các tăng ni dẫn đầu một đoàn phụ nữ
và thiếu niên diễn hành qua đường phố, với khẩu hiệu đ̣i tự do tín ngưỡng và
b́nh quyền tôn giáo. Tới trước cửa Toà Thị chính, 7 nhà sư rời đám đông, biểu
t́nh ngồi; trong khi Phật tử tiếp tục cuộc diễn hành, rồi giải tán. Giữa lúc
Phật tử đang biểu t́nh, Phát vào gặp Thị trưởng Đà Nẵng là Hà Thúc Luyện, cho
lệnh phải dời 7 nhà sư đang ngồi trước Toà Thị chính, và giải tán cuộc diễn
hành, cho dẫu "đích thân Thị trưởng phải ném lựu đạn vào đám đông." Luyện, mặc
dù là một cán bộ Cần Lao cao cấp thân tín của Cẩn, từ chối. Trong đêm 2/6, Phát
điều thêm một số đơn vị khác vào thành phố. Một đại đội cũng tăng cường cho Ty
Công An Đà Nẵng (đối diện khách sạn). Phần các quân nhân Phật tử bị cấm trại.
Trong đêm, 7 nhà sư bị bắt đi mất tích. Qua ngày hôm sau, 3/6, Luyện bị cất
chức Thị trưởng; gọi vào Sài G̣n tŕnh diện. Trung tá Trần Ngọc Châu, Tỉnh
trưởng Kiến-hoà, một Phật tử gốc miền Trung, ra thay.
Trong
khi Đà Nẵng đang sôi động, ngày 2/6, Phật tử Quảng-Trị lại biểu t́nh. Chính
quyền đàn áp bằng lựu đạn cay.
Giao thông với Huế bị cắt
đứt.
Chiều hôm sau, 3/6, tại Huế,
khoảng 500 thanh niên tụ họp trước Ṭa Đại Biểu Trung Phần. Quân đội "dàn
chào" bằng lưỡi lê và lựu đạn cay. Các nẻo đường dẫn đến chùa bị phong tỏa bằng
kẽm gai. Phật tử biểu t́nh ngồi. Binh sĩ dùng lựu đạn cay giải tán. Trong khi
đó, Trí Quang đă tuyệt thực nhiều ngày, sức khoẻ suy giảm. Đỗ Cao Trí ra lệnh
giới nghiêm. Khoảng 18G30, quân đội lại
tấn công mạnh Phật tử biểu t́nh tại chợ Bến Ngự. Dùng cả chất hóa học (blister
gas), khiến 67 nạn nhân bị nôn mửa, lưu lại vết bỏng trên da. (36)
Được báo cáo, ngày 3/6 [sáng
4/6 Việt Nam] Bộ Ngoại Giao Mỹ hai lần chỉ thị Trueheart phải yêu cầu Diệm
hoà giải với Phật giáo và báo cáo rơ hơn về khói hóa học sử dụng để đàn áp Phật
tử. (37)
Trueheart vội đến gặp Bộ
trưởng Thuần vào khoảng 11G45 ngày 4/6. Khác với Nolting, Trueheart trở lại
thái độ công khai áp lực mà cựu Đại sứ Elbridge Durbrow đă áp dụng. Trueheart
cảnh cáo Diệm rằng Mỹ có thể ngưng yểm trợ nếu c̣n đàn áp Phật giáo. Thuần tiết
lộ Hội đồng chính phủ đă đề nghị thành lập một Ủy Ban Liên Bộ
để cứu xét các đ̣i hỏi của Phật giáo
như Trueheart yêu cầu từ ngày 1/6, và Diệm đă chấp thuận. Nhu cũng hứa sẽ tiếp
xúc với lănh tụ Phật giáo. Ngay chiều đó, Thuần c̣n mời Trueheart tới tư dinh,
nói đă thành lập một ủy ban điều tra về vũ khí hơi độc ở Huế, do Trần Văn An, và
trung tá Y sĩ Liêm cầm đầu. Diệm cũng sẽ
tuyên bố thành lập Ủy Ban Liên Bộ [UBLB], gồm Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc
Thơ, Bộ trưởng Nội Vụ Lượng và, Thuần.
Nhưng khoảng 17G00, MACV lại
xin ư kiến Trueheart về việc Bộ Tổng Tham Mưu yêu cầu MACV không vận 300 Cảnh
sát từ Vũng Tàu ra Huế. Trueheart không chấp thuận. (38)
II. TUYÊN CÁO CHUNG 16/6/1963:
Do áp lực của Mỹ, từ giữa
tháng 5/1963, Diệm đă gặp các lănh tụ Phật giáo để thảo luận về 5 đ̣i hỏi ngày
10/5. Tuy nhiên, chế độ Diệm chỉ muốn kéo dài thời gian để vô hiệu hóa dần cuộc
tranh đấu. Họ không muốn nh́n nhận trách nhiệm v́ cho đó là nhược điểm. Diệm
cũng không muốn thỏa măn các nguyện vọng của Phật giáo v́ sợ rằng Phật giáo sẽ
tiếp tục đ̣i hỏi nhiều hơn. Áp lực của Mỹ khuyên Diệm ḥa hoăn th́ được giải
thích theo một ư nghĩa khác—thực ra, chế độ Diệm đang rơi vào một cuộc khủng
hoảng niềm tin với Mỹ, và Nhu đang bí mật ve văn Cộng Sản với sự tiếp tay của
Pháp và India. (39)
Trong khi đó, các lănh tụ Phật
giáo khéo léo phối hợp giữa biểu t́nh và ngoại giao, kể cả việc sử dụng các cơ
quan truyền thông quốc tế, để đạt mục tiêu. Nhưng biến cố gây xúc động nhất là
cuộc tự thiêu của Thượng tọa Quảng Đức ở Sài G̣n ngày 11/6/1963. Có thể nói đây
là lần đầu tiên có một mặt trận đấu tranh chính trị tinh xảo đến thế. Trong khi
đó, chính phủ Mỹ không ngừng áp lực Diệm phải giải quyết cuộc khủng hoảng. Nhờ
vậy, ngày 16/6, Diệm và Ḥa thượng Thích Tịnh Khiết ra một Thông cáo chung.
Nhưng Diệm không thực tâm thi hành những điều đă kư kết. Đặc biệt, Thục và
vợ chồng Nhu-Lệ Xuân t́m mọi cách ngăn chặn việc thực thi tuyên cáo ngày
16/6/1963. Phật giáo cũng không lùi bước.
¡ A. THƯƠNG THUYẾT:
Ngày 5/6/1963, Ủy Ban Liên Bộ
[UBLB] cùng các Thượng Tọa Thiện Minh và Thiện Hoa ngồi vào bàn thương thuyết.
Ngay sau buổi họp đầu, cả hai bên đều thất vọng về sự thiếu thành khẩn của
nhau. Dẫu vậy, Thuần cùng Thiện Minh, phụ tá của Trí Quang, bí mật đạt được
những thỏa thuận sơ khởi trên 5 đ̣i hỏi của Phật giáo, với điều kiện phải gặp
Diệm để được phê chuẩn. (40)
Hôm sau, 6/6, Diệm đọc một
diễn văn truyền thanh ngắn, kêu gọi mọi người hăy b́nh tĩnh v́ chính phủ cần
thời gian để giải quyết cuộc khủng hoảng. (41)
Ngày này, UBLB cùng Thiện Minh
và Thiện Hoa cũng đồng ư dự thảo thỏa ước: Chính phủ sẽ trút các đơn vị quân đội
và an ninh khỏi vùng lân cận các chùa chiền, Đỗ Cao Trí phải ngừng ngay những
cuộc biểu dương vơ lực. Ngược lại, phe Phật giáo ngừng các chiến dịch tuyên
truyền chống chính phủ.
Thiện Minh lập tức lên đường
ra Huế tường tŕnh về những điều thỏa thuận với UBLB, mang theo một cư sĩ quen
biết Thuần để bảo đảm rằng những phần tử "quá khích" [extremits elements] không
phá hoại kết quả thương thuyết. Theo dự
trù, Hoà thượng Tịnh Khiết, đang tuyệt thực ngoài Huế, cũng sẽ vào Sài G̣n kư
tuyên cáo chung. (42)
Nhưng
tại Huế, t́nh h́nh thêm
căng thẳng. Trong ngày 5/6, bạo động lại diễn ra khiến 4 Phật tử chết, hơn 100
bị thương và hơn 1,000 người bị bắt. Hai sinh viên bị mất tích. 3 y sĩ Germany
[Đức] và 2 y sĩ Mỹ đang phục vụ tại Huế đă tích cực giúp đỡ các Phật tử. Diệm
bèn cho lệnh hai y sĩ Germany, Erich Wulff và Hans Holterscheidt, phải lập tức
rời cố đô. Sau đó, trục xuất họ khỏi Sài G̣n với lư do "không được ưa chuộng"
[Persona Non Grata]. (43)
Chính quyền Huế và các địa
phương c̣n ngưng tiếp tế cho những
người biểu t́nh bị cô lập. Lănh sự John
J. Helble báo cáo rằng t́nh trạng thực phẩm và nước uống tại chùa Từ Đàm
đă ở vào t́nh trạng báo động đỏ. Phi cơ chính phủ th́ rải truyền đơn đả kích
Trí Quang và đ̣i bắt giữ cả Tịnh Khiết. (44)
Tại
Sài G̣n, thái độ họ Ngô cũng đột ngột cứng rắn hơn. Vợ chồng Nhu-Lệ Xuân công
khai trách mắng Thuần là đă nhân nhượng quá nhiều với Phật giáo. Ngày 7/6,
Phong Trào Phụ Nữ Liên Đới [PTPNLĐ] của Lệ Xuân ra "quyết nghị" lên án những
cuộc biểu t́nh chống chính phủ là chống lại người quốc gia
(anti-nationalist), bị "Cộng sản khai thác và lợi dụng, dẫn đến hỗn loạn và
trung lập." Và yêu cầu chính phủ không thể tiếp tục im lặng trước những mưu
toan chính trị, lập tức trục xuất những ngoại nhân chuyên phá hoại, dù mặc áo
thày tu hay không, đặc biệt là những kẻ mưu toan biến Việt Nam thành chư hầu
ngoại bang. (45)
Quyết
nghị này được trao cho báo chí ngày hôm sau, 8/6/1963. Ngày này, Trueheart gặp
Thuần về quyết nghị của PTPNLĐ trên nhưng Thuần thú nhận ḿnh không giải quyết
được ǵ.
Chiều
đó, Truehart phải vào
Dinh Gia Long gặp Diệm, đích thân phản đối lời tuyên bố của vợ Nhu, và dọa sẽ
công khai không ủng hộ chính sách Phật giáo của Diệm.
Diệm nói không thể bác bỏ quyết nghị của
PTPNLĐ, v́ đây là một hội đoàn tư nhân, nhưng sẽ cho lệnh Bộ trưởng Nội vụ
phải để những người biểu t́nh tại chùa Từ Đàm được tiếp tế lương thực
và nước uống.
Diệm
cũng nói không biết ǵ về việc phi cơ chính phủ thả truyền đơn sỉ nhục lănh tụ
Phật giáo. Sau đó, Diệm khẳng định lập trường của chính phủ:
Sẽ
thương thuyết trong thế mạnh;
Phật
giáo vi phạm lời cam đoan tạm ngưng chiến dịch tuyên truyền, tiếp tục phát tài
liệu cho báo chí ngoại quốc (như Thiện Minh đă tiết lộ về những điều khoản thỏa
thuận);
Phật
giáo thiếu thành tín (bad faith).
Lần
đầu tiên, Diệm thú nhận với Trueheart rằng chính quyền địa phương bất lực trong
việc đối xử với Phật giáo; v́ măi đến ngày 24/5—tức hơn hai tuần lễ sau cuộc
thảm sát ở Huế—chuyên viên y khoa mới báo cáo là thương tích không
do mảnh lựu đạn gây nên. Nhưng Diệm nhấn mạnh sẽ sử dụng các biện pháp cần
thiết để duy tŕ trật tự nếu hỗn loạn tiếp tục. (46)
Hôm
sau, 9/6, báo Times of Vietnam [Việt Nam Thời Báo] đăng nghị quyết ngày
7/6 của PTPNLĐ. Báo này nhấn mạnh vai tṛ của các tăng sĩ Nam tông (Nguyên thủy
hay Therevada) trong những cuộc rối loạn hiện nay. Hàm ư là các tăng sĩ Nam
tông có liên hệ với chính sách trung lập hoá miền Nam của Tổng thống Charles de
Gaulle và Norodom Sihanouk. Các báo Việt ngữ không đăng. Diệm cũng cho lệnh
đài phát thanh không được nhắc đến lời Lệ Xuân đả kích Phật giáo. Tuy nhiên,
lệnh này chỉ được ban hành sau khi đài Sài G̣n đă phát thanh vài ba lần.
Tại
Huế, số Phật tử bị phong tỏa đă 3 ngày không có nước uống, thực phẩm và thuốc
men. Một số tư nhân
mang tặng thực phẩm, nước uống. Chính phủ cho chụp h́nh, loan báo đó là do
chính phủ cung cấp. Trong khi đó, điện thoại với Sài G̣n bỗng dưng bị "hư."
Lănh sự Huế Helble không thể liên lạc được
với Trueheart. Thuần cũng lâm vào hoàn cảnh tương tự. Phi cơ chính phủ th́
tiếp tục rải truyền đơn, tố cáo Trí Quang, Phó Chủ tịch Phong trào Phật tử tranh
đấu, là Cộng Sản. Đây là bước đầu, chuẩn bị cho việc bắt giữ các lănh tụ
tranh đấu—v́ chỉ cần "liên hệ với phiến Cộng" (tức phiến loạn Cộng Sản) đă là
một trọng tội dưới chế độ Diệm, có thể bị kết án từ khổ sai tới tử h́nh. Không
ít người đă bị tra tấn đến chết hay thủ tiêu. (47)
Tại
Oat-shinh-tân, trưa ngày 8/6 [đêm 8 rạng 9/6 tại Việt Nam], Rusk chỉ thị cho
Trueheart yêu cầu Thuần hay Diệm bác bỏ nghị quyết của PTPNLĐ, rút bỏ Sắc luật
số 10, và cần xác định lời tuyên bố của Lệ Xuân có được chính phủ duyệt trước
hay chăng. Lời tuyên
bố của Lệ Xuân, Rusk nhấn mạnh, làm suy giảm vị thế của VNCH, và làm tổn hại uy
tín của Mỹ, có thể gây khó khăn cho việc tiếp tục yểm trợ VNCH tại Quốc Hội cũng
như dư luận Mỹ. (48)
Gặp Thuần ngày 9/6, Trueheart
cho Thuần biết chỉ thị của Bộ Ngọai giao Mỹ.
Rồi đả kích việc chính phủ đang chuẩn bị tổ
chức phản biểu t́nh vào ngày 10 hay 11/6. Kế hoạch phản biểu t́nh của Paul Hiếu
này gồm có những thủ thuật sử dụng "sư giả" từ các tỉnh miền Nam, Thanh Niên
Cộng Hoà và bọn tệ đoan xă hội ở Chợ Lớn giả làm sư. Trueheart cảnh cáo rằng
nếu quả thực như vậy, cần phải ngừng ngay. Trueheart cũng nêu lên vấn đề giáo
dân Đà Nẵng đang chuẩn bị ra nghị quyết cách chức thiếu tá Thiệt, Tỉnh trưởng
Quảng-Nam, nhân dịp làm lễ cầu hồn cho Giáo hoàng John XXIII (1958-1963) vào
ngày 10/6. Nếu đúng sự thực, cần chấm dứt ngay. Trueheart c̣n nêu lên vấn đề 4
kư giả (Michaud của AFP, Sheehan của UPI, Browne của AP và Parry của báo NY
Times) đă bị bắt giữ 1 giờ đồng hồ tại Quận 3. Hành động này, Trueheart bảo
thẳng Thuần, là "khùng" và bất lợi. (49)
Măi
tới 9 giờ sáng ngày Thứ Hai, 10/6, Thuần mới gặp Trueheart để phúc đáp. Theo
Thuần, Thuần đă tŕnh bày với Diệm và Nhu về những đề nghị của Mỹ. Về Sắc luật
số 10, Diệm không có quyền rút lại. Quyết nghị của PTPNLĐ không phải là "tuyên
bố của bà Nhu," mà là của "một tổ chức đại chúng" (cả Thuần lẫn Trueheart
đều mỉm cười). Diệm đă gọi điện thoại cho Hiếu trước mặt Thuần về vấn đề tổ
chức phản biểu t́nh. Hiếu chối không có kế hoạch đó. Cũng không có kế hoạch ra
nghị quyết đ̣i cách chức Tỉnh trưởng Quảng Nam. Đang dàn xếp cho những người
trong chùa Từ Đàm ở Huế ra về không gặp trở ngại, ngoại trừ các công
chức. Chính phủ không đứng ra tổ chức lễ cầu hồn cho John XXIII. Diệm khẳng
định vẫn muốn thương thuyết, nhưng cần cô lập những thành phần quá khích. UBLB
của PTT Thơ sẽ họp lúc 10G00 để nghiên cứu lá thư mới nhất của UB Tranh đấu Phật
giáo. (50)
B. NGỌN LỬA CÚNG DƯỜNG ĐẠO
PHÁP:
Biến cố khiến cuộc tranh đấu
của Phật giáo được dư luận thế giới chú ư nhất là cuộc tự thiêu của Thượng tọa
Quảng Đức tại ngă tư Phan Đ́nh Phùng-Lê Văn Duyệt Sài G̣n (ngay trước Ṭa Đại
sứ Cao Miên).
Quảng Đức, tục danh Lâm Văn
Tức (1897-1963), đang tu tại chùa Quán Thế Âm trên đường Nguyễn Huệ, Gia
Định. Lúc 9G30 sáng ngày 11/6 - giữa lúc Diệm và hầu hết nhân viên cao cấp
trong chính phủ đang tham dự buổi quốc lễ cầu hồn cho Giáo Hoàng John XXIII -
chiếc xe Austin của một Phật tử, dưới sự dẫn đường của một đoàn 400, 500
tăng sĩ, đưa Quảng Đức tới chỗ hóa thân. Địa điểm này được các tăng ni làm hàng
rào cản không cho Cảnh sát can thiệp. Số khán giả ṭ ṃ lên tới khoảng 500
người, ngày càng đông. Một số kư giả như Sheehan của hăng UPI cũng được thông
báo trước. Từ xe bước xuống giữa ngă tư, Thượng tọa Quảng Đức ngồi xuống theo
thế thiền định, nhờ một Đại đức đổ xăng lên thân thể ḿnh, rồi tự tay châm lửa
bằng diêm (quẹt). Malcolm Browne, nhân viên hăng AP, thu được tấm h́nh này—bức
h́nh rồi sẽ gây chấn động dư luận thế giới. (51)
Trưa đó, khoảng 400 tăng sĩ
đưa thi hài Quảng Đức tới chùa Xá Lợi. 2,000 Phật tử cũng lũ lượt kéo
nhau tới chùa. Khoảng 1,000 Cảnh sát tới "bảo vệ an ninh," nhưng các tăng ni
được di chuyển tự do trong khu vực này. (52)
Khoảng 12G30, quân đội được
lệnh cấm quân. Bảy tiểu đoàn Dù được lệnh ứng chiến. Đại tá Lê Quang Tung tăng
cường 2 Đại đội Lực Lượng Đặc Biệt [LLĐB] cho Sài G̣n, trí quân trong phi
trường Tân Sơn Nhất. Nhân viên Mỹ được nghỉ sớm, và khuyến cáo không nên đến
gần các đám biểu t́nh. (53)
Trong
khi đó, Trueheart tới gặp Thuần tại tư dinh, bảo thẳng Thuần rằng Diệm phải có
thái độ ngay chiều đó, bằng không Bộ Ngoại Giao Mỹ sẽ tuyên bố không liên hệ đến
chính sách tôn giáo của Diệm.
Khi Thuần hỏi có thể dẫn lời
Trueheart cho Diệm và Nhu nghe được không, Trueheart đồng ư. (54)
Phó Tổng thống Thơ và Ngoại
trưởng Vũ Văn Mẫu cũng vào yết kiến Diệm yêu cầu phải có hành động tức khắc,
đồng thời chỉ thị UBLB xúc tiến nhanh việc thương thuyết với Ủy Ban Liên Phái
Phật giáo Tranh Đấu. (55)
Ngay
tối 11/6 đó, Diệm đọc diễn văn, long trọng cam kết là "phía sau Phật giáo c̣n
có Hiến Pháp, tức là có tôi." (56)
Hy
vọng của Diệm và các cố vấn là diễn văn truyền thanh của Diệm sẽ trấn an dư luận
cho tới hôm sau, khi UBLB sẽ gặp mặt Ủy Ban
Liên Phái.
Tại Oat-shinh-tân, gần nửa đêm
11/6 [gần trưa 12/6 tại Việt Nam], Ngoại trưởng Rusk chỉ thị cho Trueheart:
"Nếu Diệm không có những bước cấp tốc và hiệu lực để giải quyết cuộc khủng hoảng
để gây lại niềm tin của Phật tử, chúng ta sẽ phải tái duyệt xét việc ủng hộ chế
độ Diệm." (57) Tối ngày 12/6, Trueheart mới gặp được Diệm. Không những
thông báo cho Diệm biết cuộc tự thiêu của Quảng Đức đang gây sôi nổi dư luận thế
giới, Trueheart c̣n trao cho Diệm một văn bản cảnh giác Diệm—theo đúng chỉ thị
của Rusk—là Mỹ có thể sẽ công khai tuyên bố không ủng hộ chính sách Phật giáo
của Diệm. Trước khi kiếu từ, Trueheart nêu lên 3 điểm:
1. Báo
cáo ngày 11/6 cho biết chính quyền Huế và Đà Nẵng tiếp tục bắt giữ những người
biểu t́nh.
2. Chính phủ không thể truy tố
những người "giúp" Thượng tọa Quảng Đức tự thiêu.
(Diệm nói có người giúp Quảng Đức đổ xăng
lên ḿnh, và châm lửa. Trueheart nhấn mạnh rằng hai nhân chứng đích mắt thấy
Quảng Đức tự ḿnh tưới xăng và châm lửa).
3. Có tin chính phủ đang cấm
các tăng ni từ các tỉnh vào Sài G̣n. (Cả
Diệm lẫn Thuần trả lời là v́ lư do an ninh. Diệm thêm rằng Quốc Hội đang
thành lập tiểu ban nghiên cứu việc sửa đổi Sắc Luật số 10).
(58)
C. THÔNG CÁO CHUNG:
Từ sáng ngày 12/6, Hoà thượng
Tịnh Khiết, cùng hai Thượng tọa Trí Quang và Thiện Minh rời Huế vào Sài G̣n để
thương thuyết với UBLB. Ba lănh tụ Phật
giáo tới phi trường Tân Sơn Nhất lúc 13G15, và tạm trú tại chùa Xá Lợi.
(59)
Phó TT
Thơ viết thư yêu cầu hai bên họp ngay lúc 18G00 hôm đó để giải quyết mau chóng
các đ̣i hỏi của Phật giáo. Phe
Phật giáo muốn tŕ hoăn ít ngày để bàn bạc với các đại diện miền Nam, nên nêu lư
do Tịnh Khiết c̣n yếu sau 5 ngày tuyệt thực, cần tĩnh dưỡng ít ngày nữa. Thơ
lại đề nghị gặp nhau hôm sau, giờ và địa điểm do phe Phật giáo chọn. Cuối cùng,
Phật giáo đề nghị họp ngày 14/6, với điều kiện chính phủ phải nhân nhượng toàn
bộ 5 đ̣i hỏi ngày 10/5/1963. (60)
Ngày Thứ Sáu, 14/6, phái đoàn
Phật giáo do Thiện Minh làm Trưởng đoàn—gồm Thiện Hoa, Tâm Châu, Huyền Quang
(Thư kư), và Đại đức Đức Nghiệp (Phó Thư kư)—bắt đầu họp bàn với UBLB. Do áp
lực của Trueheart, ngay sáng hôm đó, chính phủ Diệm nhượng bộ đ̣i hỏi thứ nhất:
đồng ư cho Phật tử treo cờ Phật giáo.
Trong phiên họp chiều, đồng ư sửa lại Sắc luật số 10 của Bảo Đại. Để chứng tỏ
thiện chí, Tịnh Khiết kêu gọi Phật tử tạm ngưng biểu t́nh. (61)
Hôm sau, khoảng 18G30, việc
thương thuyết hoàn tất. Ngày Chủ Nhật, 16/6, hai bên ra thông cáo chung với
những điều khoản sau: Tạm ngưng áp dụng Dụ số 10; cứu xét lại những khiếu nại
của Phật giáo; xác nhận tự do tôn giáo; sẽ "trợ cấp" (không phải "bồi thường"
như Phật giáo đ̣i hỏi) cho gia đ́nh nạn nhân ở Huế. (62)
Sau đó, Tịnh Khiết và Diệm
cùng kư vào bản Tuyên Cáo trong Dinh Gia Long.
Trong khi thương thuyết đang
diễn ra, Phật tử và một số lănh tụ Phật giáo thiên về bạo động hơn. Ngày 13/6,
Phật tử khắp nơi treo cờ Phật giáo, chống lại lệnh cấm của Diệm (thực ra Diệm đă
bí mật đồng ư). Buổi lễ cầu siêu cho Quảng Đức ngày Chủ Nhật, 16/6, tại chùa
Xá Lợi qui tụ hàng chục vạn người. Hơn 500,000 thanh niên, hoc sinh và Phật
tử xuống đường biểu t́nh. Xô xát Cảnh Sát kéo dài 45 phút trước chùa Xá Lợi.
(63)
Buổi tối, Thiết Giáp phải đến
tăng cường cho lực lượng Cảnh Sát. Một thiếu niên 15 tuổi bị tử thương v́ trúng
đạn ở đầu. 3 tăng và 2 Phật tử bị thương. Hàng ngàn người bị bắt giữ. (64)
Ba ngày sau, 19/6, nhờ Cảnh
Sát, Công An nỗ lực ngăn chặn Phật tử tham dự, lễ an táng Quảng Đức bớt hỗn loạn
hơn.
III . GIAI ĐOẠN "HƯU CHIẾN,"
19/6 - 20/8/1963:
Thông cáo chung 16/6/1963 là
cơ hội tốt nhất cho chính phủ Diệm giải quyết cuộc khủng hoảng Phật giáo. Nhưng
v́ những nguyên do thầm kín, gia đ́nh họ Ngô quyết định không tôn trọng những
điều đă cam kết. Phật giáo cũng chẳng phải không đề pḥng. Các lănh đạo Phật
giáo chỉ tạm thời "ngưng chiến" trong ṿng 2 tuần lễ, chờ đợi thành tâm của
chính phủ.
A. NỖ LỰC PHÁ HOẠI THÔNG CÁO
CHUNG 16/6/1963:
Có những dấu hiệu cho thấy vợ
chồng Nhu-Lệ Xuân muốn phá hoại việc thực hiện thông cáo chung với Phật giáo.
Một mặt, Nhu vận động các hội
Phật giáo độc lập chống lại cuộc tranh đấu. Ngày 20/6, Phật giáo Cổ Sơn Môn—mới
thành lập tại chùa Giác Lâm, Chợ Lớn; do Huệ Tâm, Hoà thượng trụ tŕ
chùa Trung Nghĩa, Sa Đéc, thủ lĩnh Lục Ḥa Tăng làm Tăng
thống—tuyên bố ủng hộ chính sách tôn giáo của chính phủ, và đứng ngoài chính
trị. (65)
Nhu c̣n cho lệnh cắt bỏ đoạn
phim thời sự về cuộc thương thuyết giữa chính phủ và Phật giáo.
Mặt khác, Nhu sai các tỉnh tổ
chức mít-tinh lên án phong trào tranh đấu của Phật giáo và phong tỏa các chùa
chiền. Đoàn viên Thanh Niên Cộng Hoà [TNCH] mặc đồng phục xanh dương đi lấy chữ
kư để ra thỉnh nguyện thư phản đối bản thông cáo chung 16/6/1963, và chuẩn bị
biểu t́nh đ̣i xét lại thông cáo chung này. Bản thông cáo số 3 của TNCH đệ tŕnh
lên "Tổng thủ lănh" Nhu đề ngày 25/6/1963 gồm nhiều lời đả kích Phật giáo nặng
nề như "dị đoan cuồng tín," "phản loạn, tay sai của kẻ thù chung," v.v...
Đồng thời, lên án Bản Tuyên cáo chung 16/6/1963 là "không phù hợp với lư tưởng
của Thanh Niên Cộng Ḥa, có những đặc quyền và độc quyền cho một nhóm, có những
chủ trương trái với luật lệ hành chánh." (66)
Trước sự phản kháng của Phật
giáo với Thông cáo số 3, ngày 1/7/1963, TNCH lại ra Tuyên cáo số 4, ám chỉ các
lănh tụ Phật giáo tranh đấu là liên hệ với bọn phản loạn và phản quốc, trong khi
đích thân Tổng thủ lănh "cảnh giác để không cho phép bọn đầu cơ chính trị và
Cộng Sản lợi dụng Thông cáo chung [16/6/1963] đó hầu làm sai lệch nó ra ngoài
phạm vi tôn giáo." (67)
Lệ
Xuân th́ cho PTPNLĐ họp tại trụ sở trung ương ngày 16/6, cho loa phóng thanh
công bố Quyết nghị ngày 7/6. Rồi ra một Bạc thư [Sách trắng], do vợ chồng Gene
và Ann Gregory, chủ nhiệm báo Times of Vietnam soạn thảo, đăng trên
chính tờ Times of Vietnam số ra ngày 17/6, miệt thị cuộc tranh đấu của
Phật giáo, tố cáo cuộc tranh đấu của Phật tử không v́ lư do tôn giáo mà chỉ v́
lư do chính trị. (68)
Rồi
đến việc thực hiện kế hoạch ăn mừng lớn suốt ba ngày, từ 25 tới 27 tháng 6/1963,
để kỷ niệm 25 năm Thục được phong chức Giám mục (Lễ Ngân Khánh = Tea Deum).
(69)
Có lẽ
anh em Diệm-Nhu muốn sử dụng ngày lễ này để vận động sự ủng hộ của khối giáo dân
Ki-tô chống lại Phật giáo. Bởi thế, ngày 16/6, có lẽ do lời khuyên bảo của Đặc
sứ Vatican d’Asta, Tổng Giám Mục Paul [Nguyễn Văn] B́nh chỉ thị các họ đạo phải
giữ tôn giáo biệt lập với chính quyền.
"Một giáo dân Ki-tô tốt, và
đạo hạnh, là công dân thượng hạng, ràng buộc với tổ quốc, trung thành với chế độ
cầm quyền, bất kể sự chính thống của chính quyền ấy." Đó là lời giải thích của
Pie XI, trong Sắc Dụ ngày 31/12/1929." (70)
Hệ thống tuyên truyền của chế
độ cũng bắt đầu t́m đủ cách hạ giá trị của các lănh tụ Phật giáo và mục tiêu
tranh đấu của Phật tử. Cán bộ của chính phủ loan truyền tin đồn Cộng Sản đă
nhúng tay vào máu khi ném lựu đạn vào đám đông đêm 8/5/1963 trước Đài Phát
Thanh. Khi những cuộc giải phẫu tử thi không t́m thấy mảnh lựu đạn, câu chuyện
biến thành Cộng Sản dùng hai trái ḿn từ lực. Ít năm sau, lại mọc thêm chi tiết
một đại úy cố vấn Mỹ đă chết từng tự nhận ḿnh là tay đặt chất nổ.
Thượng tọa Trí Quang, linh hồn
của cuộc tranh đấu miền Trung, bị cáo buộc là cán bộ Cộng Sản cao cấp, từng bị
Pháp bắt giữ, âm mưu lật đổ chính quyền từ năm 1960.
Ḥa thượng Tịnh Khiết, theo
những lời tuyên truyền này, không biết chữ quốc ngữ, chỉ kư vào những ǵ mà các
sư trẻ, quá khích bắt buộc phải kư.
Cuộc tự thiêu của Quảng Đức,
vẫn theo các ḷ sản xuất tin đồn của chính phủ, không do tự nguyện, mà là một
h́nh tội sát nhân. Quảng Đức, theo lập luận này, đă bị chích thuốc trước khi
"sát nhân" đổ dầu và châm lửa đốt cháy. Diệm và Nhu có ư định truy tố ra ṭa
những người đă trợ giúp thượng tọa hóa thân. Lệ Xuân, vợ Nhu, th́ khẳng định
rằng cuộc tự thiêu cúng dường cho đạo pháp của Quảng Đức chỉ là một màn "nướng
thịt sư" [barbecue of a bonze] với xăng nhập cảng. Bác sĩ riêng của
Diệm th́ mật báo với Đại sứ Nolting rằng Quảng Đức bị một số sư trẻ thuyết phục
nên tự thiêu; v́ ít năm trước, Quảng Đức từng hứa với một người bạn là sẽ "đồng
tử," và nay người bạn đó đă chết, Quảng Đức cần giữ lời thề. Nói cách khác,
theo viên y sĩ mà Nolting dấu tên, Quảng Đức không thích chính trị, và không tự
thiêu để chống chính phủ. (71)
B. NỖ LỰC H̉A GIẢI CỦA MỸ:
Kennedy và các cố vấn cực kỳ
bối rối. Trong một phiên họp Hội Đồng An Ninh Quốc Gia [ANQG], Kennedy đặt câu
hỏi phải chăng Quảng Đức đă bị "thuốc" [drugged], nhưng các cố vấn khẳng
định đức tin đă quá đủ cho những hy sinh tương tự. Dù là một giáo dân Ki-tô, và
ủng hộ Diệm từ thập niên 1950, Kennedy sai toà Đại sứ Mỹ ở Sài G̣n phải gây áp
lực bắt Diệm đáp ứng ngay đ̣i hỏi của Phật giáo.
Ngày 14/6 [11 giờ sáng
15/6/1963 VN], Rusk chỉ thị Trueheart cứu xét việc đưa Phó Tổng thống Thơ lên
thay Diệm trong trường hợp bất trắc, và
Trueheart phải tiếp xúc Thơ cùng những người không ủng hộ Diệm. (72)
Nhưng
hai ngày sau, Trueheart trả lời là không tiện bàn với Thơ, v́ t́nh h́nh đă có vẻ
sáng sủa hơn—Phật giáo và UBLB đă đạt được thông cáo chung.
Trueheart chỉ hứa sẽ thuyết
phục Diệm hoà hoăn với Phật giáo, và nếu Diệm không chịu thi hành những điểm hứa
hẹn trong thông cáo chung, sẽ xúc tiến việc t́m "một giải pháp khác Diệm." (73)
Ngày Thứ Ba, 18/6, Trueheart
bảo Thơ rằng chỉ nên coi những thỏa thuận như bước khởi đầu mà chưa phải hồi kết
của cuộc khủng hoảng. Diệm cần thực hiện
những điều đă thỏa thuận. Sáng đó, khi gặp Thuần, Trueheart cũng nói tương tự
như trên, với lời lẽ cứng rắn hơn. Trueheart đặc biệt nhắc nhở Thuần về luận
điệu của tờ Times of Vietnam ngày 17/6 khi tường thuật về tuyên
cáo chung, và những hành động khiêu khích
của PTPNLĐ. (74)
Tối
ngày 19/6 [8G28 ngày 20/6/1963 tại VN], Roger Hilsman chỉ thị cho Trueheart nên
lưu ư các viên chức Việt Nam là đừng nên đồng hoá một cá nhân với chế độ miền
Nam. Thí dụ như lời tuyên bố "Phật giáo có thể tin cậy nơi Hiến pháp, nghĩa
là tôi" của Diệm tạo nên những cảm tưởng xấu ở Mỹ. Viên chức Việt cũng cần
tiếp xúc thường xuyên với các lănh tụ Phật giáo và đối xử đồng đẳng với họ. Đặc
biệt, thỏa ước 16/6/1963 phải được tôn trọng và nhanh chóng thực hiện để giảm
thiểu sự nghi ngờ của Phật tử. (75)
Dư luận thế giới cũng đă chú ư
hơn đến cuộc tranh đấu của Phật giáo. Ngày
Thứ Sáu, 14/6, Norodom Sihanouk viết thư cho Kennedy, phản đối việc đàn áp Phật
giáo tại miền Nam VN. Sihanouk cũng gửi cho TTK/LHQ U Thant, Thủ tướng
Bri-tên McMillan, TT Charles de Gaulle và TT India, Radhakrishnan một thông điệp
tương tự. Sihanouk c̣n trao cho Đại biện VNCH tại Phnom Penh một công hàm về vụ
tàn sát Phật tử ở Huế. (76)
Hôm sau, 15/6, lần đầu tiên
tin tức về Phật giáo Việt Nam được lên trang nhất báo The New York Times
[Nữu Ước Thời Báo], tờ báo uy tín của giới trung lưu Mỹ. Tai hại hơn nữa, Max
Frankel, tác giả bài báo cho rằng nhân viên ngoại giao Mỹ đă nói thẳng với Diệm
bằng một giọng điệu gay gắt rằng VNCH phải thỏa măn các đ̣i hỏi của Phật giáo,
bằng không chính phủ Mỹ sẽ tuyên bố không yểm trợ chính sách Phật giáo của Diệm.
(77) Hầu hết các báo lớn và các lănh tụ Mỹ đều chỉ trích chế độ Diệm.
Ngày 18/6, Thủ tướng Ceylon là
Bandaranaike cũng gửi thư cho Kennedy, yêu cầu ḥa giải để Phật tử, vốn giữ đa
số tại Việt Nam, đư ợc quyền tự do tín ngưỡng. Mười ngày sau, 28/6, đại biểu
Cambodia, Ceylon và Nepal tại LHQ cũng gặp đại biểu Mỹ để bày tỏ sự quan tâm về
t́nh h́nh Phật giáo tại Nam Việt Nam. (78) Nhưng Diệm, đặc biệt là Thục và vợ
chồng Nhu-Lệ Xuân, không muốn thực thi những điều đă thỏa thuận. Tăng sĩ và
Phật tử vẫn bị Mật Vụ và Công An âm thầm bắt giữ. Đáng lưu ư là trong ba tháng
đầu đấu tranh của Phật giáo, cả Hà Nội lẫn MT/GPMN đều không có một phản ứng rơ
ràng nào. Chỉ có dấu hiệu là cán bộ nằm vùng Cộng sản xâm nhập vào các cuộc
tranh đấu, lôi kéo thanh thiếu niên nam nữ. Có lúc, an ninh Mỹ phải đặt câu
hỏi thực chăng Cộng sản đă bỏ vùng thôn quê, dồn vào mặt trận tỉnh thị.
C. THAY ĐỔI ĐẠI SỨ MỸ:
Giữa thời gian này,
Oat-shinh-tân gửi công hàm hỏi ư kiến Diệm về việc bổ nhiệm Henry Cabot Lodge
làm Đại sứ thay Nolting. Ngày 20/6/1963, BNG Mỹ chỉ thị cho Trueheart xin gặp
Diệm để yêu cầu chính phủ Diệm chấp nhận cho Lodge thay Nolting làm Đại sứ.
(79)
Lúc 17 giờ ngày 22/6,
Trueheart gặp Diệm khoảng 1 tiếng đồng hồ. Ba ngày sau, 25/6, Thuần cho
Truheart biết Diệm rất bất măn việc thay đại sứ Mỹ ở Sài G̣n. Diệm cho rằng Mỹ
đang thay đổi chính sách và đang có nỗ lực bắt Diệm phải làm theo Mỹ hay sẽ bị
loại bỏ.
[Diem thought a new American
policy was involved and an effort to force him to do our bidding or to unseat
him]. Diệm đă tuyên bố, và Thuần cố gắng dẫn đúng lời Diệm: "they can send
ten Lodges, but I will not permit myself or my country to be humiliated, not if
they train their artillery on this Palace". (80)
Theo Thuần, Diệm sẽ trở nên
cứng đầu hơn. Truheart nói không biết Lodge đă nhận được những chỉ thị ǵ,
nhưng cách tốt nhất để tránh đương đầu với Mỹ là chính phủ Diệm nên bắt đầu thay
đổi cách làm việc. (81)
Ngày
26/6, Thứ trưởng Ngoại giao George W. Ball chỉ thị cho Trueheart gặp Diệm, giải
thích rằng chính sách của Mỹ không thay đổi; đó là yểm trợ chính phủ chống Cộng
miền Nam. Riêng việc bổ nhiệm Lodge đă được quyết định từ tháng 4/1963, trước
khi xảy ra cuộc khủng hoảng Phật giáo, v́ Đại sứ Nolting đă ở Việt Nam hai năm.
Mục đích của Mỹ là cảnh giác Diệm về những hiểm họa có thể tránh, không để làm
suy yếu Diệm. Nhưng quyết định và hành động là trách nhiệm của riêng Diệm. (82)
Hôm
sau, Diệm tiếp Trueheart khoảng 2 tiếng rưỡi đồng hồ, tuyên bố sẽ thực hiện việc
dân chủ hóa từ nông thôn lên, nhưng không muốn vợ chồng Nhu bị tách xa cá nhân
ḿnh. (83)
Thuần
cũng thông báo với Trueheart là Chính phủ Việt Nam sẽ ra chỉ thị cho các tỉnh
thi hành nghiêm chỉnh bản tuyên cáo chung 16/6/1963.
Cá nhân Diệm có thể sẽ ra Huế
để nghiên cứu và giải quyết mọi sự; Diệm cũng sẽ đọc diễn văn về việc thực thi
tuyên cáo chung.
Nhưng ngày 27/6, Bộ trưởng Nội
Vụ Lượng lại tuyên bố với một nhân viên CIA rằng Cộng sản đă xâm nhập phong
trào tranh đấu của Phật giáo, và trong vài ngày tới, sẽ ra thông cáo về việc
những người bị bắt giữ. (84)
Lời cáo buộc của Lượng báo
hiệu chính sách mới của họ Ngô với Phật giáo. Rất có thể chính sách này được
thảo luận kỹ càng hơn trong dịp anh em họ Ngô về Huế dự lễ kỷ niệm 25 năm ngày
thụ phong Giám mục của Thục, trong các cuộc họp mật vào cuối tháng 6/1963. (85)
C. ĐỢT TRANH ĐẤU THỨ HAI CỦA
PHẬT GIÁO:
Phần Phật giáo vẫn chuẩn bị
tiếp tục tranh đấu, nếu cần. Ngày 26/6, Thiện Minh viết thư phản đối với UBLB
về việc thành lập Phật giáo Cổ Sơn Môn. Không hài ḷng với thư trả lời
ngày 28/6 của UBLB, nhóm Phật giáo tranh đấu quyết định xuống đường. Ngày 30/6,
hàng ngàn tăng ni Sài G̣n bắt đầu tuyệt thực. Qua đầu tháng 7/1963, sinh viên,
học sinh Sài G̣n biểu t́nh trước Quốc hội để yểm trợ cuộc tuyệt thực của các
tăng ni.
Ngay 1/7, tờ Times of
Vietnam cho đăng trên trang nhất bản tin tựa đề: "Mysterious Scotch Tape and
End to Schizophrenia In Sight." [Băng keo Scotch bí ẩn và Đoạn kết chứng hoang
tưởng đă ló dạng]. Bài này hàm ư có sự chia rẽ giữa Nhu và Thơ-Thuần, cáo buộc
Quảng Đức đă bị "thuốc" trước khi tự thiêu, và đưa ra nhận định thời gian hưu
chiến hai tuần đă qua, nhưng Sài G̣n vẫn yên tĩnh; ngoại trừ có một biến cố đặc
biệt nào, thí dụ như một cuộc tự thiêu khác, có thể kết luận rằng những đ̣i hỏi
của Phật giáo đă được thỏa măn." (86)
Hai ngày sau, 3/7, Phó TT Thơ
tuyên bố vào là, theo sự điều tra của chính phủ, chính "Việt Cộng" đă gây nên
cuộc thảm sát đẫm máu ở Huế.
Ngày Thứ Hai, 1/7, Micheal
Forrestal yêu cầu cho Đại sứ Nolting trở lại Việt Nam v́ Phật giáo có thể biểu
t́nh trở lại sau thời gian "hưu chiến."
Tối 1/7 đó, Ball chuyển cho Trueheart chỉ thị của Hilsman và Nolting là phải
gặp Diệm ngay, bảo thẳng Diệm rằng dư luận Mỹ cho rằng người thân của Diệm đang
cố t́nh phá hoại sự thỏa thuận với Phật giáo. Đúng hay sai, dư luận Mỹ
cũng cho rằng đang có bách hại tôn giáo ở miền Nam. Khi Trueheart gặp Thuần,
Trueheart yêu cầu Thuần đọc bài viết trên Times of Vietnam, và đề nghị Mỹ
muốn Lệ Xuân đừng nên tuyên bố ǵ hết; bài báo trên Times of Vietnam hàm
ư thách thức Phật giáo tiếp tục tự thiêu.
Rồi thêm chẳng lẽ Diệm không hiểu rằng chỉ cần một vụ tự thiêu nữa là chính phủ
Mỹ sẽ tuyên bố không dính líu ǵ đến chính sách tôn giáo của Diệm? Thuần trả
lời rằng Diệm không biết điều đó, và đề nghị Trueheart nên nói thẳng với Diệm.
(87)