|
Francois Trufaut: Nhà điện ảnh cổ điển của đợt sóng mới
Sâm Thương
Chiều ngày 21.10.1984,
Francois Truffaut, một trong những nhà điện ảnh lỗi lạc của nước Pháp và thế
giới đă từ trần v́ căn bệnh ung thư tại một bệnh viện ở Neuilly. Giới điện ảnh
coi cái chết của ông như một biến cố , và không chỉ báo chí Pháp, mà khắp nơi
trên thế giới, cho đến nay, người ta vẫn tiếp tục giới thiệu và phân tích cuộc
đời và tác phẩm của ông với sự thương tiếc và mến mộ đặc biệt. “Tôi làm phim để
đem lại hạnh phúc cho chính ḿnh; khi phim tôi thành công th́ hạnh phúc ấy tôi
đem lại cho những người khác- và đó là điều lư tưởng…”, Truffaut từng viết như
vậy. Những người khác ấy, đông đảo, nuối đuôi nhau từng ḍng, đă ngậm ngùi tiễn
đưa ông về nghĩa trang Montmartre, ở khu tuổi thơ và thời niên thiếu của ông,
đến chia tay với ông trên chỗ đất đă nằm xuống trước ông, những tên tuổi sáng
chói của nước Pháp muôn đời: Stendhal, Sacha Guitry, Jacques Offenbach…
Francois Truffaut sinh ngày
6.2.1932 tại Paris. Ông đă trải qua một thời niên thiếu phóng đăng và vô cùng cơ
cực. Thế chiến lần thứ hai chấm dứt, mười bốn tuổi Truffaut đă phải bỏ học làm
đủ nghề để kiếm sống. Năm 1950, Traffaut gặp gỡ vợ chồng nhà phê b́nh André
Bazin giữa khi ông đang trong t́nh trạng bế tắc và họ đă tạo điều kiện cho ông
đến với những ước mơ của đời ông.
Bài viết nổi tiếng của
Truffaut mang tựa đề “ Một khuynh hướng nào đó của điện ảnh Pháp” đăng trên tạp
chí Cahiers du Cinéma số tháng 1.1954 đă làm chính thức bùng nổ cuộc bút chiến
giữa ê-kíp của Cahiers du Cinéma ( gồm Francois Truffaut, Jean-Luc Godard,
Jacques Rivette, Claude Chabrol và Eric Rohmer) và những nhà điện ảnh thuộc
khuynh hướng bảo thủ Pháp sau chiến tranh. Nhưng, như Truffaut có nói, Đợt Sóng
Mới không phải là một đám trẻ tham vọng chỉ biết đâm vào các bậc đàn anh của họ
để chiếm chỗ, mà ngược lại, Francois Truffaut và những nhà biên tập trẻ của
Cahiers du Cínema tŕnh bày quan điểm của ḿnh, đưa ra một cái nh́n mới về lịch
sử và nghệ thuật điện ảnh, và đă cố gắng phục hồi vị trí của những người mà ông
gọi là những người thực sự của điện ảnh như Abel Gance, Jean Cocteau, Jean
Renoir, Robert Bresson, Max Ophuls, Jean Vigo, Jacques Tati ở Pháp, Howard
Hawks, John Ford và Orson Welles ở Mỹ. Ông đă nỗ lực t́m mọi cách để quần chúng
nh́n nhận Marcel Pagnol và Sacha Guitry như những nhà Điện ảnh toàn diện, những
người có sức mạnh biểu thị tư tưởng của ḿnh bằng nghệ thuật điện ảnh. Đồng thời
ông cũng vạch định cho ḿnh một con đường hoàn toàn riêng biệt trong nghệ thuật
điện ảnh, và muốn chứng tỏ ḿnh làm phim không chỉ trên danh nghĩa yêu thích
điện ảnh mà c̣n v́ sự nghiệp điện ảnh và v́ chính cuộc sống. Truffaut và bằng
hữu của ông đă khuấy động và làm cho nền điện ảnh Pháp trở nên sội động và khởi
sắc hơn. Francois Truffaut từ đó đă trở thành một khuôn mặt được biết đến nhiều
nhất của Đợt Sóng Mới, và là người có khả năng nhất về bút chiến. Những nét độc
đáo và kỹ thuật của Truffaut đă được các thế hệ phê b́nh phim Anh- Mỹ su này
theo chân và phổ biến như Andrew Sarria, Robin Wood, V.F Perkins và Dave Kohr.
Trên chặng đường đi đến với
điện ảnh, trước hết, Truffaut là một người viết. Ng̣ai những bài phê b́nh, bút
chiến trên tạp chí Cahiers du Cinéma và một số báo khác, ông c̣n có một số tác
phẩm đựơc xuất bản thành sách như Điện Ảnh Theo Hitchcock, Hitchcock,
Những Bộ Phim Trong Đời Tôi v.v…
Mặt khác, sau hai năm làm phụ
tá cho đạo diễn Robert Rossellini, Truffaut khởi đầu công tác đạo diễn bằng
những phim ngắn, như Một Cuộc Viếng Thăm (1955), Bọn Nhóc ( 1957)
và Câu Chuyện của Nước ( 1959).
Với bộ phim truyện đầu tay Bốn
Trăm Cú (1959) Truffaut đă đọạt giải Cành Cọ Vàng tại Liên hoan phim Cannes.
Phim do chính ông viết kịch bản và đạo diễn, có thể nói như bản tự thuật những
vấn đề t́nh cảm một thời tuổi trẻ đau khổ. Nói khác hơn, đó là chân dung của
thời đại hôm nay, mang đặc trưng Pháp sâu sắc. Hơn thế, qua phim này, Truffaut
c̣n có công phát hiện một tài năng mà toàn thế giới đều biết tới : Jean-Pierre
Léaud, một diễn viên 25 năm liên tục xuất hiện trong nhiều phim của Truffaut
trong vai Antoine Doinel- một nhân vật tiêu biểu, từ tuổi niên thiếu cho đến lúc
trưởng thành.
Sau Bốn Trăm Cú sự
nghiệp của Truffaut vượt trội hẳn nhờ khai thác nhân vật Antoine Doinel ấy. Có
thể nói là trong 25 năm làm phim của Truffaut, cả đạo diễn, nhân vật Doniel và
Jean-Pierre Léaud đều cùng nhau lớn lên. Chàng thiếu niên bướng bỉnh, bất trị
trong Bốn Trăm Cú đă trở nên một người e thẹn, vụng về trong vấn đề t́nh
dục trong T́nh Yêu Lứa Tuổi Hai Mươi (1962), rồi chàng lớn hơn lên,
trong Những Chiếc Hôn Vụng Trộm (1967), nhưng thật ra ở đó chàng cũng
không khôn ngoan ǵ hơn trong lĩnh vực t́nh yêu, cũng như chuyện kiếm tiền.
Trong Tổ Ấm ( 1970), Doinel đă cưới vợ, nhưng anh vẫn chạy theo một cái ǵ
khác hơn cái gia đ́nh mà anh có : sự quyến rũ lạ kỳ của những cuộc phiêu lưu
t́nh ái khác. Rồi trong T́nh Yêu Trốn Chạy (1977), Doinel vẫn chạy, và chạy đă
trở thành một ẩn dụ thiết yếu để nhân vật Doinel tồn tại. Nó khởi đầu từ cái
trường đọan chạy để kết thúc Bốn Trăn Cú. Và Doinel đă ly dị, thiên
truyện Truffaut cũng đă hoàn tất. Đó là chuyện của Truffaut, toàn bộ câu chuyện
về nhân vật Doinel đă được Truffaut quay thành phim và Truffaut đă đặt vào phim
của ông những trường đọan là những hồi ức về những ǵ ông đă từng trải qua và
cảm nhận của toàn bộ tiến tŕnh h́nh thành Doinel. Antoine Doinel là nhân vật
duy nhất trong điện ảnh Pháp, một nhân vật đă tự nó xóa bỏ cái ranh giới giữa
cuộc đời và hư cấu nghệ thuật của nhân vật, được chứng minh bởi sự liên kết chặt
chẽ giữa cá nhân Truffaut, người nắn tạo ra Doinel, nhân vật Doinel và
Jean-Pierre Léaud, diễn viên đă thể hiện nhân vật Doinel ấy.
Những bộ phim khác của Francois
Truffaut đă khai thác về ranh giới giữa nghệ thuật và cuộc đời, như Hăy Bắn
Vào Nhạc Sĩ Dương Cầm (1960), dựa theo tiểu thuyết của Davis Goodis.
Jules và Jim (1961) và Hai Phụ Nữ Anh và Đại Lục (1971) đều cùng dựa
theo tiều thuyết của Henri- Pierre Roché, nhưng Jules và Jim đem lại thành công
cho Truffaut bởi cách nh́n đời, nh́n người và đă được biểu hiện một cách tinh
tế.
Tiếp đó, Truffaut tiếp tục với
Làn Da Mịn Màng (1964), Farhenehit 451 (1966),ø Cô Dâu Mặc Bộ
Đồ Đen (1967), Người Đẹp Trên Sông Mississipi (1969), Người Con
Gái Đẹp Như Tôi (1972), Đứa Trẻ Man Dại (1970), Câu Chuyện Về
Adèle H. (1974), Người Nữ Láng Giềng, Căn Pḥng Xanh (1978)
đều là những tác phẩm ít nhiều hé mở những đ́êu bí ẩn của chính cuộc đời
Francois Truffaut.
Đêm Nước Mỹ (1973) là
bộ phim Truffaut đă cùng Jean-Louis Richard và Susanne Chiffman viết chung kịch
bản phân cảnh, đă đưa chính cuộâc sống của họ, của những người làm phim vào
phim. Tất cả vấn đề là con người đối diện với chính cuộc sống. Bộ phim đă đọat
giải Oscar dành cho phim nước ngoài hay nhất năm 1974.
Chuyến Tàu Điện Cuối Cùng
(1980) là bộ phim chính trị nhất của Truffaur, trong đó, h́nh như ông muốn
khẳng định vị thế của ḿnh qua câu chuyện một đoàn hát ở Paris khi thành phố này
bị phát-xít Đức chiếm đóng. Bộ phim không chỉ là những kỷ niệm sâu sắc nhất về
thời niên thiếu của ông, mà chính là bối cảnh xă hội và khuôn mặt của thời đại.
Chuyến Tàu Điện Cuối Cùng, năm ấy đă được trao tặng 12 César.
Ngày Chủ Nhật Sống Động
(1983) dựa theo tiểu thuyết Đêm Thứ Bảy Dài của Charles Williams, nhà văn
Anh, là bộ phim sau cùng của Francois Truffaut.
Truffaur luôn coi phim là một
hành động tri thức, bỡ lẽ công việc ấy đ̣i hỏi mọi thứ cần phải có những chọn
lựa, những quyết định. Làm phim với ông là một hành động nghệ thuật và thuộc
lĩnh vực xúc cảm bởi lẽ những chọn lựa và quyết định ấy bắt nguồn từ một nhận
thức và bỡi lẽ làm phim, chúng ta không chỉ đưa vào cuộc có mỗi sự rung động, mà
cả trực giác của chúng ta nữa.
Ngoài 3 phim ngắn, toàn bộ tác
phẩm của ông gồm 22 phim truyện đều đưa ra không biết bao nhiêu con người, đủ
mọi thành phần và dù ít dù nhiều, mỗi người có một hoàn cảnh, một tâm trạng và
nổi rơ nhất trên màn ảnh của ông vẫn là khuôn mặt những phụ nữ , với những diễn
viên hơi khác thường và rất lôi cuốn như Marie Dubois, Francoise Dorléac, Jeanne
Moreau, Catherine Deneuve, Jacqueline Bisset, Fanny Ardant và những thiếu niên
qua những diễn viên như Jean-Pierre Léaud, Patrick Aufray…
Truffaut giải thích : “Trước
hết là phụ nữ và trẻ em. Trong sự lựa chọn của tôi, tôi gạt ra ngoài những hài
kịch thuần túy, v́ cuộc đời chẳng có ǵ khôi hài lắm, tôi gạt ra những bi kịch
thuần túy v́ cuộc đời đâu đến nỗi bi thảm lắm. Tôi cũng cố gắng không quay những
chiếc tàu và những con ngựa, v́ chúng làm tôi sợ, tôi cũng không quay những
người mặc đồng phục v́ học dễ làm tôi chán. Vậy gạt bỏ dần, tôi làm việc với
những ǵ c̣n lại. Những chuyện t́nh và trẻ em “. Nhưng cái chính yếu mà người ta
có thể t́m thấy nơi Truffaut là một ư thức dấn thân trong sự lựa chọn của chính
ḿnh : “Nghệ sĩ là một kẻ ở ng̣ai xă hội, anh ta gửi gắm tới xă hội. Do đó, anh
ta đặt định cho người khác cái độc đáo của anh ta chứ không phải đi về phía cái
tầm thường của họ, đúng vậy, phải nói rơ mọi điều cho trung thực. Hiện nay tôi
rất tin vào những việc đặt định cái độc đáo của ḿnh. Đó là một công việc đầy
xúc tín và tác phẩm trở thành một cuộc đấu tranh với mọi người”. Mặc khác,
Truffaut không ngừng hướng tới những nỗ lực mới. Mỗi bộ phim ông thực hiện là
một phủ nhận hay phản kháng với phim trước, một cách đương đầu với một kỹ thuật
mới.
Mặc dù được coi là con đẻ của
Đợt Sóng Mới, Truffaut đă làm sống lại truyền thống điện ảnh Pháp, đă cố gắng
giải quyết những vấn đề của thời đại, đồng thời bản thân ông cũng bị lôi cuốn
vào những vấn đề hệ trọng của con ngươiø. Mặc dù rất thán phục nền điện ảnh Mỹ,
chịu nhiều ảnh hưởng của Alfred Hitchcock (sau Jean Renoir và Roberto
Rossellini), Truffaut vẫn là nhà điện ảnh Pháp nhất của nước Pháp, đại biểu cho
nền điện ảnh sáu góc (hexagonal) vừa dựa trên chủ nghĩa lăng mạn, vừa dựa vào
chính hiện thực của đời sống: ngay cả khi thực hiện những bộ phim được xây dựng
từ những kịch bản hoặc tiểu thuyết của nước ng̣ai, tính dân tộc Pháp cũng không
chút lu mờ. Theo Truffat th́ “các nghệ sĩ Pháp có năng hướng về chủ nghĩa hoài
nghi, đưa họ tới chỗ thể hiện trong sắc độ chứ không bao giờ trong sự bùng vỡ
(…) Công việc của một nhà điện ảnh Pháp là một công việc có tính tranh luận, nó
thường là một công cuộc đặt lại vấn đềø về mặt xă hội, ít nhiều đó là công việc
thuộc phạm vi quan sát và phê phán”.
Trong nghệ thuật biểu hiện,
những nhà phê b́nh điện ảnh c̣n cho rằng Truffaut là một nhà đi nhà điện ảnh cổ
điển nhất, v́ giống như Jean Renoir, Jacques Becker và Sacha Guitry, ông biết
làm sống lại câu chuyện và những nhân vật, giữa hiện thực cuộc sống và hư cấu
nghệ thuật. Ông thuật, biết giá trị của đối thọai kết hợp với h́nh ảnh… Đồng
thời, Truffaut c̣n được coi là một nhà nhà điện ảnh huyền bí nhất, v́ trong mỗi
phim ông đều nói lên, đă thông qua h́nh ảnh về thời ththơ ấu, những xung đột
t́nh cảm, t́nh yêu, những cảm xúc tinh tế, những bất ngờ thú vị, những t́nh
huống nối tiếp và khí phách mà ḷng tự trọng đă không cho phép ông bộc lộ trực
tiếp lộ trong tác phẩm của ḿnh hay ngay trong đời sống của bản thân giữa mọi
người.
“Đời sống rất ngắn… Quá ngắn”.
Như một lời tiên tri buồn bă về công việc nghệ thuật của ḿnh, Truffaut từng
viết như vậy. Cái chết, khi làm mất đi của Đợt Sóng Mới người đại diện lăng mạn
nhất và của nền điện ảnh Pháp, người phát ngôn vững vàng và nổi tiếng nhất, cũng
đă làm ngưng đọng lại một công tŕnh nghệ thuật lớn lao, với toàn bộ những cống
hiến làm biến đổi và phong phú nền điện ảnh Pháp và thế giới. Làm ngưng lại? Chỉ
làm ngưng lại thôi sao? Hẳn nhiên là vậy, bởi lẽ công việc của Truffaut, người
bạn của thanh niên mọi thế hệ, người luôn đặt lên nhân vật của ḿnh đôi mắt trẻ
thơ không thể chấm dứt.
“Anh đừng nghĩ rằng anh đă mất chị
ấy, hăy nghĩ rằng giờ đây anh không c̣n có thể mất chị ấy nữa. Hăy dành hết ư
nghĩa của anh, những hành động của anh, trọn t́nh yêu của anh cho chị ấy. Anh sẽ
thấy rằng những người chết thuộc về chúng ta và chúng ta chấp nhận là ḿnh cũng
thuộc về họ. Hăy tin tôi, Gérard, những người chết thân yêu của chúng ta vẫn có
thể tiếp tục sống…”. Chúng ta c̣n nghe vang vọng tiếng nói của Truffaut trong
Căn Pḥng Xanh - Lời nhắn nhủ sau cái chết của ông, bây giờ, như muốn bảo với
những con người, những việc làm tốt đẹp chúng ta biết tưởng nhớ và yêu mến, trân
trọng. Truffaut chết đi và chắc chắn sẽ sống lại trong công việc đánh giá thế hệ
sau của ông - đánh giá và tiếp tục con đường ông đă đi.
|
|