|
Luận kiếm bên bờ
giếng
Đặng Tiến
Nhiều màn ảnh ở các thành phố lớn tại Pháp đang đồng thời tŕnh chiếu hai
phim Trung Quốc: Anh Hùng (Hero) và Giếng Mù (Blind Shaft)
hai h́nh ảnh tương phản trên phim trường Hoa Lục.
Anh Hùng, phim màu của Trương nghệ Mưu, là một tác phẩm dă sử, rộn
ràng, rực rỡ ; Giếng Mù, đen trắng, của Lư Dương, là một phim hiện
thực, u ám và uất ức.
Hai ống kính, hai cái nh́n chính trị khác
nhau.
1.
Anh Hùng là một kịch bản có tham vọng tổng hợp lịch sử Trung Quốc
cuối thời chiến quốc, khi Thủy Hoàng Đế nước Tần muốn tóm thâu lục quốc.
Nhiều nước chư hầu, liệu không chống cự nổi, gửi thích khách sang Tần để
mưu sát Thủy Hoàng – điển h́nh là Kinh Kha. Phim Anh Hùng hư cấu
một đoạn cuối thời đó : hai tay kiếm khách cuối cùng Chiết Kiếm và Vô Danh
có cơ hội sát thủ Tần Thủy Hoàng nhưng không ra tay, v́ ư thức rằng chủ
trương « b́nh thiên hạ » của vua Tần là chính đáng, để chấm dứt những nội
chiến không ngừng giữa các chư hầu tranh bá đồ vương. « Sự đau khổ của
một cá nhân không nghĩa lư ǵ trước quyền lợi quốc gia » ư thức chính
trị ở nhân vật Chiết Kiếm có tính cách đột xuất, dần dần trở thành biện
luận ; Ở nhân vật Vô Danh, ư thức này trưởng thành từng bước, cho đến
quyết định ngừng tay. Tên của các kiếm khách: Thiên Kiếm - Kiếm Trời - là
một tự hào chủ quan, đến Chiết Kiếm – Kiếm Găy - là sự đổ vỡ của niềm tin
vào bạo lực cuối cùng, đến Vô Danh, là ư thức ḥa đồng và ḥa b́nh. Ba
giai đoạn cấu trúc cốt truyện.
Để nói lên biến chuyển đó, các tác giả đă hư cấu một kịch bản rối rắm :
đây là mặt yếu của phim. Muốn đạt ḷng tin cậy của Thủy Hoàng, Vô Danh
phải dâng nộp vũ khí của ba kiếm khách lừng danh, đă từng mưu sát nhà vua
và được triều đ́nh treo giá. Vô Danh đă kể lại kỳ công khi sát hại ba địch
thủ, nhưng Thủy Hoàng không tin, tưởng tượng ra một câu chuyện khác, và sự
thật có thể khác nữa… Và cứ thế, nhiều giả thiết nằm chồng lên kịch bản –
trên lư thuyết văn học th́ hay, nhưng trên màn ảnh cốt truyện lẫn lộn [1].
Tuy nhiên người xem không cần nắm vững t́nh tiết, vẫn có thể theo dơi và
thưởng thức tác phẩm và qua đó, nắm bắt đôi điều trong văn hóa Trung Hoa.
Ví dụ như tương quan giữa kiếm pháp và thư pháp (calligraphie) cả hai môn
đều sử dụng năng lực tinh thần, và xa hơn nữa là thi pháp : Lư Bạch trước
khi làm thơ, đă là kiếm khách. Tương quan giữa kiếm thuật và âm nhạc, «
khúc đâu Hán Sở chiến trường / nghe ra tiếng sắt tiếng vàng chen nhau
» (Kiều).
Tương quan giữa vơ thuật và vũ điệu : một phần lớn cuốn phim là điệu múa
kiều diễm giữa đường nét và màu sắc : từ đỏ thắm chu sa đến phơn phớt đào
hồng, từ xanh thẫm đại dương đến xanh lơ hồ thủy, từ vàng sánh hoàng kim
đến vàng óng lụa tơ. Ngũ sắc quy chiếu ngũ hành trong quy luật âm dương.
Trận chiến giữa Chiết Kiếm và Thủy Hoàng, giữa kim khí và lụa là, giữa
cương và nhu, động và tĩnh, là biện chứng Âm Dương cố hữu trong tư tưởng
Đông Dương. Người phương tây cũng nắm bắt được điều này khi viết về : «
sự đối lập giữa đường thẳng của quyền lực trung ương và đường cong của thư
pháp và kiếp pháp… Phim Hero biến dần thành việc cắt dán trừu tượng của
h́nh thể kỷ hà, một chuỗi họa tiết cực kỳ diễm lệ » [2]. Người Tây bàn
về phim Tàu đến như vậy, quả là thiên nhai tri kỷ.
Anh Hùng là phim vui nhẹ, gợi lên những giá trị truyền thống Trung Quốc,
nhưng không khệnh khạng. Hiểu cặn kẽ th́ vui, chỉ thưởng thức cảnh đấu
kiếm, lại thêm vui. Hoặc nghe đoạn kết, Tần Thủy Hoàng luận kiếm « bước
đầu trong kiếm thuật, là kiếm và người phải kết hợp làm một, khi ấy một lá
cỏ cũng sắc như gươm. Bước thứ nh́, có kiếm trên tay không bằng có kiếm
trong tim. Nhưng bậc kiếm khách thượng thừa không có kiếm trên tay mà cũng
không có kiếm trong tim ».
Như vậy mỗi khán giả, khi rời khỏi rạp, đều có thể tự cho ḿnh là kiếm
khách thượng thừa. Cũng vui thôi.
2.
Thủy Hoàng hỏi : chữ « kiếm » có bao nhiêu cách viết. Trả lời : 19 cách.
Thủy Hoàng : vậy th́ nhiều quá, ta chỉ dùng một cách, để thống nhất chữ
viết, cho mọi người dễ học. Nhưng từ ư chí thống nhất chữ viết, thống nhất
thiên hạ, đến thống nhất tư duy, con đường không xa, và cực kỳ nguy hiểm.
Quan niệm « sự đau khổ của một người không nghĩa lư ǵ so với quyền lợi
đất nước » thời những kiếm khách, đă là con dao hai lưỡi. Ngày nay, là
quả bom mảnh, quả ḿn nổ chậm. Bao nhiêu chế độ đă nhân danh tiêu chuẩn «
nhất thống » ấy để gây ra tội ác.
Tần thủy Hoàng đă được rất nhiều kẻ thừa kế vinh danh, bằng những thành
tích vượt xa tiền bối.
Tôi không đi sâu vào vấn đề, không cật vấn Trương Nghệ Mưu, v́ làm như vậy
sẽ tự ḿnh sa vào cạm bẫy « nhất thống ». Nh́n con chim én bay ve,à báo
hiệu mùa xuân, chúng ta không t́m cách bới lông t́m vết.
Nhưng cũng nhân cơ hội giới thiệu và đề cao một nhà làm phim trẻ : Lư
Dương.
3.
Giếng Mù, Blind Shaft, của Lư Dương mô tả kiếp cần lao oan khuất
trong các hầm mỏ miền bắc Trung Quốc thời mở cửa. Phim được đánh giá cao ở
Tây Phương, được giải thưởng ở Deauville, ở Berlin, dựa trên một tiểu
thuyết cùng tên và ăn khách [3]. Và nhiều cuộc điều tra tại chỗ của tác
giả. Một thứ Germinal hơn trăm năm sau.
Phim được quay lén và hiện bị cấm chiếu tại Hoa Lục, v́ tác giả đă tố cáo
chế độ, qua cảnh khai thác mỏ than vô nguyên tắc, mà chính quyền Trung
Quốc đă giao phó cho tư nhân, bất chấp pháp lư, luật lao động, và những
quy tắc đạo đức cơ bản.
Cốt truyện : hai người thợ mỏ cố t́nh làm sập hầm, giết một đồng nghiệp để
đ̣i truy lănh bồi thường cho gia đ́nh họ ; chủ nhân, v́ hành nghề phi pháp
đành chịu trả tiền để phủi tay. Hai gian nhân nhận tiền tử tuất, một phần
gửi về quê, phần dùng để đi chơi gái, rồi đi thành phố khác, t́m hầm mỏ
khác, nạn nhân khác, để tái diễn tṛ lừa gạt. Nạn nhân sau cùng là một chú
bé 16 tuổi, phải bỏ học đi làm phu mỏ để nuôi thân và giúp cha mẹ, số phận
chưa biết ra sao.
Đề tài hiện thực, gần như một phim tài liệu. Cốt chuyện đơn giản, dàn cảnh
trần trụi. Nghệ thuật trái ngược hoàn toàn với phim Anh Hùng nói
trên – và dụng tâm chính trị cũng đối nghịch. Khán giả bị hất tung từ một
thế giới này sang thế giới khác. Dĩ nhiên là đề tài và thời điểm khác
nhau, nhưng cái « nội dung Trung Quốc » vẫn đặt ra nghi vấn : cùng một
Trung Quốc đó sao ? và ta sẽ hoang mang hơn khi nhớ ra rằng chính quyền
Hoa Lục hiện nay, trong Giếng Mù, là đứa con t́nh thần của tư tưởng
« nhất thống » từ nhà Tần, trong Anh Hùng; chính sách khanh nho,
phần thư đă trở thành Cách Mạng Văn Hóa, 1966 mà thân phụ Lư Dương là nạn
nhân trực tiếp [4].
Năm đó, Lư Dương 8 tuổi. Bi kịch và kinh hoàng đă khơi nguồn cho tư tưởng
nghệ thuật của Lư Dương, trong niềm phẫn nộ và phản kháng.
Giếng Mù một sản phẩm quốc cấm. Nhưng ngoài sức thu hút của trái
cấm, nó c̣n có chất lượng nghệ thuật cao, diễn đạt tư duy nghệ thuật tự do
và nhân ái, và đặt những câu hỏi thời sự nóng bỏng về chính trị, xă hội và
kinh tế thiết thân cho mỗi chúng ta.
Giếng Mù và Anh Hùng là hai tác phẩm hay. Mỗi phim hay một
cách, nhưng không phủ nhận hay khai trừ lẫn nhau, với những khán giả không
có thành kiến.
Như người luận kiếm, không cần có kiếm trên tay, hay trong tim.
Chú thích:
[1] Trước đâây, phim The Hours, giải Oscar
2003 của Stephen Daldry cũng dùng thủ thuật này, dựa theo tiểu thuyết Mrs
Dolloway của Virginia Woolf, 1925, và The Hours của M. Cunningham, giải
Pulitzer 1999. Chuyện này lồng vào chuyện kia như « những con búp bê Nga »
(Le Monde, 27/2/2003). Tương đối, The Hours dễ hiểu hơn.
[2] Aurélien Ferenczi, tuần báo Telerama, 24/9/2003, Paris.
[3] Le Puits (Shen Mu), Liu Qiubang, bản
tiếng Pháp Marianne Lepolard, nxb Bleu de Chine, 18 €
[4] Lư Dương trả lời phỏng vấn, Telerama
ngày 1/10/2003.
|