|
Yếu tố tôn giáo
trong cuộc đụng độ giữa Mĩ và Iraq
Nguyễn Văn
Cách đây trên dưới 7 năm,
Samuel P. Huntington, một giáo sư chính trị học thuộc Trường Đại học
Harvard, công bố một cuốn sách có tựa đề là “The Clash of Civilizations
and the Remaking of World Order” ( “Xung đột giữa các nền văn minh và
tái thiết lập trật tự thế giới mới”) gây chấn động dư luận bang giao và
chính trị quốc tế. Theo luận án của Huntington, trong thế kỉ 21, các quốc
gia trên thế giới sẽ tập trung thành 8 khối dựa theo những di sản tôn giáo
và văn hóa: Tây phương (chủ yếu là các nước theo đạo Ki-tô giáo); Châu Mĩ
Latin; Phi châu; Chính thống (Orthodox, tức các nước Đông Âu như Nga,
Ukraine ...); Ấn Độ giáo; Hồi giáo; Khổng giáo (gồm Trung Quốc, Việt Nam,
Hàn Quốc); và một khối gồm các quốc gia khác như Nhật Bản. Huntington
tiên đoán rằng những xung đột trong tương lai sẽ xảy ra giữa các nền văn
minh này, nhất là giữa sự kiêu ngạo của Ki-tô giáo (mà Mĩ đại diện), sự
bất khoan dung của Hồi giáo (phần lớn là khối Ả Rập), và sự tự tin của
Khổng giáo.
Theo dơi
những xung đột trong thời gian gần đây cho thấy luận án trên của
Hungtinton không phải là thiếu cơ sở. Trong cuộc chiến tranh vùng Vịnh
lần thứ nhất, giới chính trị Tây phương cho rằng họ là những hiệp sĩ đi
bảo vệ quyền lợi của các nước Ả Rập; nhưng giới học giả Hồi giáo lại xem
đó là một cuộc chiến tranh đầu tiên giữa hai nền văn minh: Ki-tô giáo
chống Hồi giáo. Cuộc chiến tranh vùng Vịnh, theo họ, là một cuộc đụng độ
giữa hai nền văn minh v́ Mĩ dùng quân sự can thiệp vào sự xung đột giữa
hai nước Hồi giáo.
Nhưng đó không phải là
lần đầu tiên có sự chạm trán giữa hai thế giới. Chiến tranh A Phú Hăn –
Liên Xô trong thời 1979-1989 mới thực sự là một cuộc chạm trán đầu tiên
giữa hai khối này. Chiến tranh A Phú Hăn – Liên Xô khởi đầu là do Liên Xô
muốn thiết lập một nhà nước vệ tinh, nhưng nó được biến thành một cuộc
chiến tranh lạnh khi người Mĩ (dưới thời Tổng thống Reagan) tổ chức và yểm
trợ kháng chiến, trong đó có Osama bin Laden, chống lại Liên Xô. Cuối
cùng, Liên Xô thất bại. Đối với các nước Tây phương và Mĩ, sự thất bại
của Liên Xô ở A Phú Hăn là một chiến thắng, một Waterloo của chiến tranh
lạnh. Nhưng đối với những người kháng chiến chống lại Liên Xô, đó là một
chiến thắng cho Hồi giáo. Lần đầu tiên, một cuộc kháng chiến dựa trên
nguyên lí Hồi giáo đă đánh bại một đế quốc (Liên Xô). Cố nhiên, bom đạn,
tên lửa của Mĩ là một yếu tố quyết định trong cuộc chiến chống Liên Xô.
Nhưng một điều cũng không thể chối căi được là cuộc chiến c̣n là một nỗ
lực tập thể của các tín đồ Hồi giáo.
Biến cố 9/11 càng thể
hiện sự khác biệt sâu sắc giữa hai thế giới Hồi giáo và Ki-tô giáo. Quan
điểm của giới trí thức trong khối Ả Rập cho thấy họ nh́n sự kiện 9/11 khác
với giới chính trị Tây phương, và nhất là Mĩ. Hành động khủng bố và cuồng
tín của những người theo bin Laden, dù bị phần đông thế giới, kể cả các
nước Ả Rập, lên án, nhưng lại được nhiều người Hồi giáo hoặc ngấm ngầm,
hoặc công khai ủng hộ. Trong khi các nước thuộc khối Tây phương tỏ ra
đoàn kết và cảm thông với Mĩ, ở Châu Mĩ Latin người ta bày tỏ một sự
thương tiếc một cách lịch sự, Châu Á bày tỏ mối thương cảm một cách lễ độ,
nhưng các nước trong khối Hồi giáo th́ có thái độ dửng dưng, thậm chí tán
thành khủng bố! Trong một cuộc thăm ḍ ư kiến trong giới sinh viên thuộc
Trường Đại học Bir Zeit (vùng West Bank thuộc đặc khu của người Palestine)
sau ngày Mĩ tấn công A Phú Hăn cho thấy 89% tin rằng Mĩ đă sai khi tấn
công Afghanistan, 64% cho rằng việc tấn công vào Trung tâm Thương mại Thế
giới là vi phạm luật Hồi giáo, nhưng điều làm cho người ta cảm thấy quan
tâm là 26% trong số sinh viên này tin rằng tự sát bằng cách cướp máy bay
là nhất quán với giáo huấn của Hồi giáo! Thái độ và suy nghĩ của những
người có học trong thế giới Ả rập như thế làm cho người ta phải suy nghĩ
về ư nghĩa sâu xa của cuộc xung đột văn minh và Huntington đă tiên đoán.
Hiện nay, trong cuộc xâm
lăng Iraq, Mĩ có hai đồng minh trung thành và hung hăn nhất: đó là Anh và
Úc. Hai nước này có cùng một văn hóa, đó là di sản văn hóa Anh giáo.
Cùng với Mĩ, một nước mà những người theo đạo Phản thệ giáo
(Protestantism) đang cầm quyền, hai nước Anh và Mĩ có cùng di sản tôn
giáo: Ki-tô giáo. Thực ra, phần lớn các nước “đồng minh” trong cuộc xâm
lăng hiện nay của Mĩ như Ư, Tây Ban Nha, Ba Lan, Tiệp, Lỗ Ma Ni (Romania),
Băo Gia Lợi (Bulgaria), Ukraine, v.v… đều chia sẻ với ba nước nói tiếng
Anh kia một di sản văn hóa Ki-tô giáo.
Ở Úc, cuộc
tấn công của Mĩ vào Iraq đă làm cho cộng đồng người Iraq lưu vong ở đây
chia rẽ trầm trọng. Những người Iraq theo đạo Ki-tô ủng hộ cuộc tấn công
của Mĩ, nhưng những người theo đạo Hồi phản đối cuộc xâm lăng này, dù cả
hai phía đều chống Saddam Hussein. Tuần qua, một linh mục người Iraq
tuyên bố trên đài truyền h́nh Sydney rằng ông và giáo dân của ông ở Sydney
nhận thấy hành động xâm lấn của Mĩ là hợp pháp, là có đạo đức, và ông c̣n
mỉa mai những người phản chiến là những người làm lợi cho Saddam Hussein.
Trong khi đó, một giáo sĩ Hồi giáo người Iraq cũng ở tại Sydney cho rằng
hành động của Mĩ chỉ đem lại thêm đau khổ cho người dân Iraq.
Ngay sau khi
quả bom đầu tiên rơi xuống Baghdad theo tuyên bố chiến tranh của Tổng
thống Bush, Hội đồng Hồi giáo Úc (Australian Federation of Islamic
Councils) ra tuyên bố, trong đó có đoạn viết: "Tín đồ Hồi giáo ở Úc và
trên thế giới tin rằng đây là một cuộc chiến chống lại người theo đạo Hồi
và Hồi giáo" ("Muslims in Australia and around the world believe that
this is a war against Muslims and Islam.") Đây không phải là một quan
điểm của một nhóm nhỏ hay một thiểu số, mà nó c̣n thể hiện suy nghĩ (có
thể là thầm kín) của rất nhiều người theo đạo Hồi trên thế giới, kể cả Nam
Dương, Ấn Độ, và Trung Đông.
Ở Mĩ, ông
Bush (một tín đồ tận tụy của Ki-tô giáo) và đồng nghiệp của ông trong Ṭa
bạch ốc và Ngũ giác đài phát biểu như là những nhà truyền giáo. Tất
nhiên, câu nói truyền thống “Thượng đế ban phước lành cho Mĩ” không thể
thiếu trong bất cứ bài diễn văn nào của ông. Ngoài ra, ông Bush c̣n có
thói quen dùng những câu chữ trong kinh thánh để nói về chiến tranh.
Tháng 10, năm 2001, trong khi Mĩ dội bom xuống A Phú Hăn, Chính phủ ông
Bush sáng tác ra một tên gọi mới, “Operation Infinite Justice”
(Chiến dịch công lí vô hạn). Mới đây, khi đề đến thời điểm tuyên bố cuộc
chiến ở Iraq, ông Bush lại dựa vào Kinh Thánh với câu “The moment of
truth” (Thời điểm của sự thật).
Ngày 16 tháng
9 năm 2001, chỉ năm ngày sau khi bọn khủng bố lái máy bay đâm vào hai ṭa
nhà ở New York, Tổng thống George W. Bush giận dữ tuyên bố rằng ông sẽ mở
một cuộc “Crusade” (Thập tự chinh) chống bọn khủng bố. Có người
cho rằng ông Bush và chính khách Mĩ trước đây (như Dwight D. Eisenhower,
John McCain …) dùng từ ngữ tương đối thiếu cẩn thận, chứ không có ư ǵ sâu
xa về tôn giáo. Nhưng ông Bush (cũng như ông Rumsfeld) nổi tiếng là người
nói từ trái tim, và dựa vào những ǵ ông thường nói, rất khó mà cho rằng
câu tuyên bố của ông Bush là một “slip of the tongue” (lỡ lời) được. Về
khía cạnh này, tờ Ashahi (Nhật) tóm lược khá đầy đủ: "Ư niệm Thiện Ác
của George Bush nói lên căn bản Ki-tô giáo mà Thánh Kinh nhắc đi nhắc
lại. Ông ta [Bush] so sánh chiến tranh A Phú Hăn với Thập tự chinh và,
ngày nay, ông ta nói dân chủ hoá cho các nước Trung Đông mà phớt lờ văn
hoá, truyền thống của thế giới Ả Rập (...) Thế kỷ 21 không nên bắt đầu
bằng một chiến tranh tôn giáo."
Tuy nhiên, trong cách nói
chính trị ở Mĩ, chữ “crusade” thường được hiểu ngầm như là một cuộc vận
động nhằm chỉnh lí đạo đức xă hội. Nhưng trong thế giới Ả Rập, chữ
“crusade” có một nghĩa hoàn toàn khác. Đối với họ, chữ crusade của ông
Bush mở miệng một vết thương lịch sử về mối xung đột giữa Ki-tô giáo và
Hồi giáo xảy ra khoảng một ngàn năm trước đây. Thực vậy, người Ả Rập có
thể dùng chữ “crusade” của chính ông Bush để khơi dậy một phong trào đấu
tranh chống lại một cuộc Thập tự chinh mới của Ki-tô giáo Tây phương.
Cách dùng chữ
của ông Bush, dù vô t́nh hay cố ư, ngay từ đầu của cuộc xung đột đă gieo
vào tâm trí của người Ả Rập và Hồi giáo một cuộc chiến mới đă được định
nghĩa: Ki-tô giáo chống Hồi giáo; chủ nghĩa vật chất Tây phương chống chủ
nghĩa tinh thần Đông phương. Cộng vào đó là những tuyên bố về chủ nghĩa
“ra tay trước” (pre-emptive strike), và tiến chiếm Iraq của ông Bush đă và
đang không những khơi dậy, mà c̣n nuôi dưỡng, một tị hiềm lịch sử, và biến
ông Bush thành một người lính Thập tự chinh dưới mắt người Ả Rập.
Ở Tây phương,
người dân khó mà quán triệt được tại sao những sự kiện đă xảy ra cả ngàn
năm về trước mà vẫn c̣n ngự trị trong tâm trí và cảm nhận của người Ả Rập
về người Tây phương, kể cả người Mĩ. Vào thời Trung cổ, có đến 5 cuộc
Thập tự chinh, kéo dài suốt 200 năm liền, và tất cả các cuộc Thập tự chinh
này đều có một mục tiêu “giải phóng” những lănh địa thiêng liêng của Ki-tô
giáo từ sự kiểm soát của Hồi giáo. Tất cả các cuộc Thập tự chinh này đều
có một mẫu số chung: Tất cả đều thất bại.
Đó là lời
giải thích tại sao người Ả Rập tin vào những tri thức lịch sử cổ điển. Họ
có một trí nhớ dai và mang trong ḷng một mối thù thâm căn cố đế. Nhiều
người Ả Rập tin vào một huyền bí mà họ gọi là “forces of history”, hay
“lịch sử lực”. Gót giầy của quân đội Tây phương có thể dẫm đạp trên cát
các nước Ả Rập; họ có thể giết nhiều người Ả Rập; họ có thể chiếm đóng
Trung Đông trong nhiều năm. Nhưng cuối cùng, người Ả Rập tin vào lịch sử
rằng, quân đội Tây phương sẽ phải cuốn cờ cút khỏi Trung Đông hay bị Trung
Đông hấp thụ.
Sự xâm lăng
và chiếm đóng của Tây phương, cùng với sự đe dọa của Hồi giáo, đang bật
cái công-tắc điện cho quan niệm Jihad (hay có người c̣n dịch một cách
không mấy chính xác là “thánh chiến”.) Trong ư nghĩa đơn giản nhất, Jihad
có nghĩa là tự vệ. Kinh Koran viết. “Và chiến đấu v́ Thượng đế chống
lại những kẻ gây chiến chống lại con, nhưng đừng đi xâm lược người khác,
bởi Thượng đế không thương kẻ xâm lược.” Trong tín lí Hồi giáo, xâm
lược là một ư niệm khá phổ thông. Tự vệ chống lại xâm lược là một nghĩa
vụ thánh thiện của tín đồ Hồi giáo.
Nhưng trong
tâm trí người Mĩ, Jihad và Thập tự chinh là hai cái ǵ mơ hồ, nhập nhằng.
Osama bin Laden và đồng nghiệp của y không ngớt đề cập đến Jihad trong
cuộc vận động cho những mục tiêu bệnh hoạn của y. Trong phần lớn báo chí
Mĩ, bất cứ người Ả Rập nào với một quả bom là đang có hành động Jihad, bất
kể người đó có được quần chúng ủng hộ hay không.
Nhưng c̣n đại
đa số người theo đạo Hồi th́ sao? Hai tuần trước đây, trong lúc Mĩ tuyên
bố tấn công Iraq, có một tiếng nói quyền lực nhất trong thế giới Hồi giáo
Sunni (giáo phái này chiếm 80% tín đồ Hồi giáo trên thế giới) xuất phát từ
Đại học al Azhar (Cairo, Ai Cập). Các học giả Hồi giáo ở đây ra một tuyên
ngôn, mà trong đó họ nói về một cuộc “Thập tự chinh mới” (New Crusade).
Bản tuyên ngôn của họ có đoạn viết: “Theo luật Hồi giáo, nếu kẻ thù bước
vào lănh thổ của người Hồi giáo, Jihad trở thành một bổn phận của tất cả
các tín đồ Hồi giáo – nam hay nữ.” Bản tuyên ngôn kêu gọi tín đồ Hồi giáo
trên khắp thế giới đứng lên tự vệ trước mối đe dọa của Tây phương – Ki-tô
giáo đến các quốc gia và giáo lí của Hồi giáo. Do đó, cái luận điệu do
một nhóm người Hồi giáo quá khích sử dụng đang trở thành một luận điểm cho
một phong trào chống Ki-tô giáo của mọi người Hồi giáo.
Trong các
cuộc Thập tự chinh, chiến tranh không khi nào tách rời từ những hậu quả
sau đó. Trong quan điểm lịch sử, người Ả Rập biết rằng người Mĩ muốn hồi
hương càng sớm càng tốt. Chính phủ Mĩ không muốn ngân hàng quốc gia Mĩ
phải phá sản, và cũng không muốn lưu lại Ả Rập quá lâu.
Người Ả Rập
hiểu được người Mĩ, và muốn làm cho người Mĩ Thập tự chinh phải mệt mỏi,
và sa lầy vào cái nơi mà họ muốn chinh phục.
Trong tất cả
các cuộc chiến Thánh giá, cuộc Thập tự chinh thứ ba do Richard the
Lionheart (Richard tim sư tử), từ 1187 đến 1192, thu hút người Ả Rập một
ấn tượng nồng nàn và sáng chói nhất. Đó không phải là một câu chuyện về
đàn áp dă man của kẻ xâm lăng, mà là niềm hân hoan chiến thắng do Saladin
đem lại cho người Ả Rập. Chính Saladin là người đă đánh bại và nghiền nát
đội quân Thập tự chinh vào năm 1187 trong trận đánh Hattin. Qua chiến
thắng này, Saladin trở thành một anh hùng vĩ đại c̣n tồn tại măi măi trong
lịch sử người Ả Rập, v́ ông được xem là người bảo vệ tín ngưỡng Hồi giáo
và giương cao ngọn cờ Jihad.
Vài năm trước
đây, trước khi qua đời, Tổng thống Syria là Hafez Assad tự hào treo trong
pḥng làm việc của ông một bức tranh mô tả thiên anh hùng ca trong trận
đánh Hattin của Saladin. Assad c̣n thích chỉ vào bức tranh và nói với các
quốc khách ngoại giao rằng một Saladin sẽ tái xuất hiện trong cộng đồng
người Ả Rập vào một ngày nào đó.
Bất cứ một sự
xâm lăng hay chiếm đóng nào của người Mĩ, những hồi tưởng về người hùng
Saladin vẫn không thể phai nḥa trong kí ức của người Ả Rập. Đối với
người Hồi giáo và Ả Rập, được giải tỏa với danh nghĩa ǵ, những thái độ và
hành động xâm lấn, gây hấn mà Mĩ và thế giới Tây phương ngày nay đang theo
đuổi đều được nh́n dưới lăng kính của một cuộc Thập tự chinh mới dưới sự
điều khiển của một nhóm theo đạo Ki-tô giáo bảo thủ ở Ṭa bạch ốc.
Đâu đó, có lẽ ở vùng Tây Bắc Pakistan, Osama bin Laden và đồng bọn của y
đang vui cười. Y đă thành công mĩ măn trong việc châm ng̣i cho một cuộc
xung đột văn minh, mà Samuel Hungtington từng tiên đoán, ở một qui mô mà
có lẽ chính y cũng chưa từng mơ tưởng đến.
|