WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 11/2003

Chiến tranh trên sự thật

 

John Pilger

 

Ở Baghdad, công tŕnh kiến trúc tốn kém thể hiện thời ḱ hưng thịnh và sự điên rồ của chế độ đế quốc tham tàn là một nghĩa trang đă bị bỏ quên trong nhiều năm. Đó là nghĩa trang North Gate (Cổng Bắc).  Khách viếng thăm nghĩa trang thường là chó.  Những cánh cổng thường ở trong t́nh trạng khóa móc.  Bụi khói xe cộ chung quanh bao phủ mấy tấm bia cũ kĩ như sắp sụp đổ nói cho chúng ta một sự thật lịch sử bất biến.  

Trung tướng Stanley Maude được chôn cất ở đây sau khi qua đời v́ bệnh dịch tả.  Dấu tích của ông tướng này để lại là một cái lăng giống như cái đồn quân ông từng trú đóng.  Năm 1917, Maude tuyên bố: “Chúng ta đến đây không phải để chinh phục mà để giải phóng.”  Trong ṿng 3 năm sau đó, 10,000 người bỏ mạng trong cuộc nổi dậy chống quân đội Anh, cái quân đội từng xịt hơi ngạt và dội bom xuống những người mà họ gọi là “đê tiện” – “miscreants”.  Đó là một cuộc viễn chinh mà đế quốc Anh không bao giờ hồi phục nổi.  

Ngày nay, ở Mĩ hệ thống truyền thông có mặt trong mọi hang cùng ngơ hẻm nói cho người Mĩ biết rằng quân lính Mĩ đang đổ máu hàng ngày ở Iraq, mặc dù t́nh h́nh thực tế và qui mô tấn công của lính Mĩ ở Iraq được che đậy hoàn toàn.  Rồi nay mai đây, người Mĩ sẽ biết số lính bị giết chết sau ngày “giải phóng” c̣n cao hơn số lính bị giết trong lúc xâm lăng Iraq.  Cũng như t́nh trạng ở Việt Nam trước đây, chính phủ Mĩ cảm thấy duy tŕ cái huyền thoại về “sứ mệnh” càng ngày càng khó khăn hơn.  Nói như thế không có nghĩa là đánh giá thấp những thành công ngoạn mục của hệ thống tuyên truyền do Mĩ và Anh tung ra.  Hệ thống tuyên truyền này cực ḱ hữu hiệu trong việc giấu diếm dự thật: đó là phần đông người Iraq phản đối chế độ của Saddam Hussein và sự xâm lăng của liên quân Anh-Mĩ.  Một trong những lí do mà kí giả Andrew Gilligan (thuộc đài BBC) làm cho chính phủ Anh ở đường Downing ghét ông là v́ ông dám tường thuật rằng đối với nhiều người Iraq, cuộc xâm chiếm đẩm máu của liên quân Anh – Mĩ cũng tồi tệ như cái chế độ độc tài của Saddam vừa gục ngă. 

Nhưng điều này chẳng bao giờ được đề cập đến trong nước Mĩ.  Cái chết của hàng chục ngàn người Iraq hầu như không hiện hữu.  Khi tôi (John Pilger) phỏng vấn Douglas Feith, nhân vật số 3 sau Donald Rumsfeld ở Ngũ giác đài, ông ta lắc đầu và lên lớp tôi về mức độ “chính xác” của vũ khí Mĩ.  Cái thông điệp mà ông ta muốn nói với tôi là cuộc chiến đă trở thành một tṛ trơi khoa học kĩ thuật không đổ máu nhân danh thần quyền của nước Mĩ.  Phỏng vấn ông Feith cũng giống như nói chuyện với một linh mục.  Chỉ có những “chàng trai” và “thục nữ” Mĩ phải chịu đau khổ, phải hi sinh dưới bàn tay của đám “tàn quân Ba'athist”, một danh-từ-tự-lừa-dối trong tinh thần danh từ “đê tiện” của Tướng Maude.  Giới truyền thông mù quáng lặp lại những câu thần chú của Feith, và ít khi nào dám đề cập đến cái sự thật về phong trào kháng chiến chống lại quân đội Mĩ ở Iraq, cái phong trào kháng chiến đang làm nhiều lính Mĩ phải cụt tay, cụt chân.  Báo chí Mĩ lúc th́ dùng những từ ủy mị, lúc th́ hung hăng theo tinh thần của chủ nghĩa sô-vanh ca tụng những nạn nhân lính Mĩ và tố cáo đám “tàn quân Ba'athist”.  Khi phỏng vấn John Bolton, thứ trưởng ngoại giao phụ trách an ninh quốc tế, ông ấy cho tôi biết chất vấn chính sách ngoại giao của Mĩ cũng đồng nghĩa với dị giáo, hay như cách nói của ông, tôi thuộc vào loại “đảng viên đảng cộng sản”. 

Đối với Mĩ, những khủng hoảng ở Iraq về hệ thống y tế, trẻ em chết v́ đói khát và viêm dạ dày với một tỉ lệ cao hơn trước thời chiến tranh (theo UNICEF khoảng 8% trẻ em bị thiếu dinh dưỡng), hay khủng hoảng về nông nghiệp và thực phẩm ... coi như không có.  Cũng giống như việc Mĩ cầm đầu việc cấm vận Iraq trong suốt 12 năm trời làm cho hàng trăm ngàn người Iraq chết, người dân Mĩ không khi nào biết đến.  Người Iraq, cùng lắm là không phải con người, hay tệ hơn nữa là những đối tượng để lính Mĩ săn đuổi.  Tháng vừa qua, một lá thư xuất hiện một cách nổi bật trên t New York Daily News viết: “Cứ mỗi GI bị giết, chúng ta cần phải x tử 20 tên Iraq”.  Trong tuần qua, Lực lượng đặc nhiệm 20, một đội quân thiện nghệ của Mĩ, được giao nhiệm vụ đi săn đuổi “những tên ác ôn”, đă giết chết ít nhất là 5 người Iraq ngay trên đường phố Baghdad.  Hành động săn bắt và giết người của họ chỉ là một hành động tiêu biểu của đội quân này. 

Oai phong của tờ New York Times Washington Post không thể nào sánh nổi với cái thô bỉ của hệ thống tin tức do Rupert Murdoch cầm đầu.  Tuy nhiên, ngày 23 tháng 7 vừa qua, cả hai tờ báo trên chạy cái tít lớn trên trang đầu về vở tuồng “Hồi hương” của cô Jessica Lynch, một binh nh́ 20 tuổi bị thương trong một tai nạn xe cộ (trong lúc cô c̣n đóng quân ở Iraq) và bị bắt.  Cô ta được các bác sĩ Iraq cứu sống và chăm sóc cẩn thận.  Cũng chính những bác sĩ này đă mạo hiểm liên lạc với quân đội Mĩ để giao trả cô ta về đơn vị.  Nhưng câu chuyện chính thức do chính phủ Mĩ đưa ra th́ khác hẳn.  Theo chính phủ Mĩ, cô ta đă anh dũng chống trả lại lính Iraq, và sau khi bị bắt giam, cô được biệt kích Mĩ giải thoát.  Nhưng toàn bộ câu chuyện này là một sự lừa dối có tổ chức.  Cuộc “giải thoát” được một đạo diễn phim trường Hollywood quay phim bằng máy thu h́nh tinh vi có thể dùng trong đêm tối. 

Mặc cho những sự thật như thế, đại đa số giới báo chí Mĩ vẫn hết lời ca ngợi ḷng “anh dũng” của cô, và tâng bốc cô ta lên tận mây xanh khi cô về quê Elizabeth thuộc bang West Virginia.  Theo tờ Washington Post, toàn bộ câu chuyện bị lẫn lộn v́ những mâu thuẫn trong các bài tường thuật của giới truyền thông.  Nhà văn George Orwell từng mô tả t́nh cảnh này là “Ngôn từ rơi rụng trên sự thật như là đống tuyết, làm hoen ố nội dung câu chuyện và giấu diếm tất cả chi tiết”.  Nhờ vào tự do báo chí tuyệt vời của Mĩ, phần đông người Mĩ, theo như một cuộc thăm ḍ ư kiến, tin rằng Iraq là thủ phạm đằng sau biến cố 11/9/01.  Jane Harman, một tiếng nói hiếm hoi trong Quốc hội Mĩ, nói: “Chúng ta là nạn nhân của một sự giấu diếm lớn nhất từ trước đến nay”.  Nhưng lời nói của bà Harman của chỉ là một ảo tưởng. 

Sự thật là cuộc chiến ở Iraq vừa qua là cuộc can thiệp lần thứ 73 của Mĩ trên thế giới trong quá tŕnh làm cảnh sát quốc tế.  Ngoài những cuộc can thiệp như thế, c̣n có hàng trăm chiến dịch bí mật nhưng đẩm máu chống lại các dân tộc khác trên thế giới.  Những hành động phi pháp này được giới truyền thông toa rập và giấu nhẹm.  Truyền thống dối trá của chính phủ Mĩ có một lịch sử lâu đời, từ thời Mĩ tiến hành những chiến dịch tiêu diệt người thổ dân Mĩ, và cuộc chiến Tây Ban Nha – Mĩ, mà trước đó Mĩ tố cáo Tây Ban Nha đánh ch́m tàu chiến (Maine) của Mĩ.  Cho đến thời chiến tranh lạnh, và vụ Vịnh Bắc bộ ở Việt Nam cũng toàn là những dối trá do chính phủ Mĩ bảo trợ.   

Vào thập niên 70s, nhờ vào sự im lặng của giới truyền thông, Tổng thống Carter cung cấp vũ khí cho Nam Dương để cho chế độ của Suharto thẳng tay tàn sát người dân Đông Timor; và bí mật viện trợ cho nhóm du kích mujahedin, tiền thân của nhóm Taliban và al-Qaeda.  Vào thập niên 80s, chính phủ Mĩ sản xuất ra một sự vô lí: mối “đe dọa” đến nền an ninh nước Mĩ từ phong trào du kích Sandinistas ở một nước tí hon Nicaragua ở Trung Mĩ.  Qua mối “đe dọa” này, Tổng thống Reagan cung cấp vũ khí cho các nhóm khủng bố nổi tiếng như Contras, và hậu quả là gần 70,000 người bị giết.  Đến thời George W Bush, Mĩ thu nhận hàng trăm tội phạm chiến tranh từ châu Mĩ Latin và những tay cướp máy bay (khủng bố đúng nghĩa) chống lại Cuba của chế độ Castro vào định cư ở Mĩ.  Nhưng những sự thật này có bao giờ được báo chí Mĩ nhắc đến.  Người Mĩ cũng chẳng biết đến “Trung tâm huấn luyện” tại Fort Benning, bang Georgia, mà những người tốt nghiệp là niềm tự hào của Osama Bin Laden.   

Người Mĩ, nói như Tạp chí Time, sống trong một “eternal present” – một hiện tại bất biến.  Nói cho đúng hơn, người Mĩ không có lựa chọn.  Cái gọi là hệ thống “truyền thông chính thống” ngày nay bị Rupert Murdoch thống trị qua hệ thống truyền h́nh Fox.  Đối với Fox, bất cứ chiến tranh nào cũng là một cuộc chiến tốt.  Ủy ban Thông tin Liên bang (Federal Communications Commission) do Michaal Powell, con trai của Colin Powell, cầm đầu đă quyết định cho phép Fox và 4 tập đoàn khác kiểm soát 90% hệ thống thông tin trên toàn nước Mĩ.  Hơn thế nữa, Fox, Disney, và AOL Time Warner kiểm soát 20 mạng internet hàng đầu trên thế giới.  Hai mươi mạng này thu hút khoảng 60% dân số dùng internet trên thế giới.  

Giám đốc Tạp chí Le Monde Diplomatique, Ignacio Ramonet, tóm gọn t́nh h́nh một cách chính xác: “Để biện minh cho một cuộc chiến pḥng nga mà Liên hiệp quốc và thế giới không muốn có, một bộ máy tuyên truyền và la phỉnh dưới s điều khiển của nhóm tân bảo thủ đang vây quanh ông Bush, sản xuất ra những dối trá do nhà nước bảo trợ, một đặc điểm của các chế độ tồi tệ nhất thế gii trong thế kỉ 20.”  

Phần lớn những dối trá được Văn pḥng Thông tin Toàn cầu (Office of Global Communications) thuộc Ṭa bạch ốc chuyển ngay cho Đường Downing (trụ sở của Chính phủ Anh).  Nhiều thông tin thực ra là sản phẩm của một cơ quan bí mật thuộc Ngũ giác đài, gọi là Văn pḥng Kế họach Đặc biệt (Office of Special Plans).  Chính văn pḥng này là tác giả của các bản tin t́nh báo được “sexed up” cho Tony Blair.  Cũng chính tại đây, những dối trá nổi tiếng về vũ khí tàn phá hàng loạt được chế tạo một cách thủ công.  Ngày 9 tháng 7, Donald Rumsfeld va cười va nói rằng Mĩ chẳng bao giờ có bằng chng ǵ mới [về vụ Saddam có vũ khí tàn phá hàng loạt], và Paul Wolfowitz cũng nói trước đó: “Vấn đề vũ khí tàn phá hàng loạt” chỉ được nêu lên như là một “lí do hành chính” mà thôi, “bởi v́ đó là lí do duy nhất [để xâm chiếm Iraq] mà ai cũng đồng ư.”  

Do đó, việc Blair tấn công đài BBC là một phần trong kế hoạch nói láo toàn cầu của chính phủ Anh.  Chúng (những dối trá) không chỉ cố t́nh lảng tránh sự liên kết tội phạm của Blair với nhóm ông Bush.  Quả đúng như Nhà b́nh luận truyền thông người Mĩ, Danny Schechter, chỉ ra một cách sắc bén rằng thu nhập của đài BBC tăng lên $5.6 tỉ Mĩ kim; có nhiều người Mĩ xem đài BBC ở Mĩ hơn là xem đài BBC1 ở Anh; và điều mà Murdoch và những tập đoàn TV khác mong muốn là kiềm chế, hay ít ra là phải tư hu hóa, đài BBC.    

Cái trớ trêu ở đây, nói như Schechter, là đài BBC là đài chủ chiến, thường tuyên truyền cho chiến tranh.  Schechter trích dẫn nghiên cứu của nhóm Media Tenor, một viện nghiên cứu truyền thông độc lập mà ông ta là một sáng lập viên, cho thấy trong lúc cuộc chiến vừa qua, BBC ít khi nào tường tŕnh những cuộc biểu t́nh phản đối chiến tranh trên khắp thế giới.  Một nghiên cứu khác của trường đại học Cardiff cũng phát hiện một khuynh hướng tương tự.  Thay vào đó, đài BBC thường phóng đại những dối trá do bộ máy chiến tranh ở Washington sản xuất ra, chẳng hạn như là tin Iraq tấn công Kuwait bằng tên lửa scuds (mà trong thực tế không xảy ra).  BBC c̣n là cái loa cho Andrew Marr đọc diễn văn ăn mừng chiến thắng ngay phía ngoài đường Downing: “[Tony Blair] nói chúng ta sẽ chiếm Baghdad không cần một giọt máu, và người dân Iraq sẽ vui mừng chào đón chúng ta.  Cả hai tiên đoán này đă được chứng minh một cách hùng hồn”.   

Trong bài diễn văn đáng để đời đó, gần như mỗi chữ của Marr hoặc vô duyên, hoặc xuyên tạc.  Nhiều nghiên cứu cho thấy con số tử vong trong cuộc chiến vừa qua lên đến 10,000 thường dân và 20,000 binh lính Iraq.  Nếu đây không là đổ máu th́ cuộc tàn sát 2,000 người trong hai ṭa nhà ở New York có nghĩa là ǵ? 

Song, tôi cảm động và cảm thấy an ḷng trước lời mô tả về sự anh dũng của Tiến sĩ David Kelly do chính gia đ́nh của ông viết: “Sự nghiệp của David được thể hiện qua tính chính trực, danh dự, và tấm ḷng kiên quyết đi t́m sự thật trong những t́nh huống hết sức khó khăn.  Thật khó mà hiểu hết cái tội ác dă man của bi kịch này.”  Không ai c̣n nghi ngờ ǵ nữa: Phần đông dân chúng Anh hiểu rằng David Kelly là một antithesis, một cái đinh đối với những kẻ đă tự chứng minh ḿnh là những đặc công của sự nham hiểm, những thế lực hung hăn ngoại quốc.  Ngăn chặn mối đe dọa này là một hành động khẩn cấp, cho người dân Iraq và cho cả chúng ta.  

(*)  Nguyễn Văn lược dịch từ bài viết “The war on truth” của John Pilger, New Statesman số ra ngày 4 tháng 8 năm 2003.

Bài trong tháng

Bon đạn và chiến tranh tậm lí
Bring 'em On
Buồn bă với những môi hôn_Cao Huy Thuần
Bùi Tín và vấn đề thông tin
Bảo tồn môi sinh: Chiến tranh giữa hai thế giới
Bộ gen trong cây lúa và triển vọng
Chiến tranh
Chiến tranh trên sự thật
Chuyến tàu nửa đêm
Chú Sam nổi giận
Cá mập ở Washington
Cầu ṿng nguy hiểm
Cổ máy
Cứu trợ nhân đạo?
DDT và vấn đề cân đối giữa lợi ích và nguy hiểm
Deception and Propaganda within the Vietnamese Community in Australia
Di chỉ khảo cổ học về giai đoạn "Hậu đồ đá mới"
Elite U.S. Unit Killed Hundreds of Vietnamese Civilians, Report Says
Hành tŕnh ngược chiều
Hóa chất khai hoang trong cuộc chiến Viện Nam: Qui mô và tầm ảnh hưởng
Hướng dẫn việc t́m kiếm thông tin sức khoẻ trên hệ thống thông tin liên mạng (internet)
Hồ sơ Phật Giáo Việt Nam
Hội chứng phi Việt Nam
Joseph Wilson - Những ǵ tôi không t́m thấy ở Phi châu
Khoa học, xă hội, và rủi ro
Kể chuyện mùa thu Vác-xa-va
Luận kiếm bên bờ giếng
Ly trà thời đại
Một bí mật bị chôn vùi
Ngô Đ́nh Diệm - Bảy nguyên nhân thất bại
Người cao tuổi và sự hạn chế của y khoa
NGỘ ĐỘC” (NƯỚC) CỦ DỀN-NỖI OAN THỊ KÍNH
Ngụy trí thức ?
Nhân đọc "Từ điển Văn học Việt Nam"
NHẬN DIỆN THÀNH PHỐ QUẢNG CHÂU HÔM NAY, NƠI CỐ ĐÔ PHIÊN NGUNG NƯỚC NAM VIỆT NGÀY XƯA
Nhật kư Fansipan
Nhật Thực
Những tên nói láo hay nhất thế giới
Những điều vô lí của chiến tranh
Phát hiện mới về thành Thăng Long
Phát hiện mới ở Sa Huỳnh
Phỏng vấn Nguyễn Hữu Đống
Quyền phủ quyết LHQ
Ramonet - Dối trá do nhà nước bảo trợ
Sân khấu thiện và ác
Sư tử trùng (01): Thay lời tựa
Sư tử trùng (02): Chuyện năm cũ và nguyện năm mới
Sư tử trùng (03): Ḥa Thượng có phải là phật tử xuất gia?
Sư tử trùng (04): Về một chuyện xưa rất mới
Sư tử trùng (05): Úm ba la, chúng ta cùng lên tiếng
Sư tử trùng (06): Thượng thủ pháp sư bội chủ
Sư tử trùng (07): Quyền làm người nô lệ
Sư tử trùng (08): Thầy Nhất Hạnh: nạn nhân đầu tiên và cuối cùng?
Sư tử trùng (09): Mượn sư cúng thần liên tôn
Sư tử trùng (10): Nẳm vùng_Giới Tử
Sư tử trùng (11): Giáo hội và giáo hội
Sư tử trùng (11): Quanh Sự hi sinh của huynh trưởng Hồ Tấn Anh
Sư tử trùng (13): Ḥa thượng phải nhờ "Việt cộng"
Sư tử trùng (14): Cơn Băo Trong Chén Trà
Sư tử trùng (15): Những Điều Trông Thấy_Giới Tử & Tâm Quán
Sư tử trùng (16): Vơ Văn Ái_Ch́m Xuồng Níu Phao
Sự im lặng của nghĩa đại cổ trên núi A Mang
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Thiền định dưới ánh sáng khoa học
Thái độ của một số người Việt hải ngoại trước cuộc chiến Iraq và dịch SARS
Trăm năm trong cơi người ta
Tôn giáo và quan điểm tiến hóa
Tạo sinh vô tính và cái chết của Thượng đế
Tạo sinh vô tính và vấn đề sinh đạo đức
Tản mạn nhân vụ 9/11
Tản mạn về SARS
Từ những phát hiện mới về thành Thăng Long
Ung thư vú và vấn đề thông tin y khoa
Vấn đề y đức trong nghiên cứu tế bào mầm (stem cells)
Why I hate George W. Bush.
Yếu tố tôn giáo trong cuộc đụng độ giữa Mĩ và Iraq
Điểm sách "Từ thù đến bạn" của Bùi Tín_Nguyễn Văn
Đu đủ và thai nghén_Sự thật hay truyền thuyết?
Đậu nành và sức khỏe: đâu là thực và đâu là giả
Đọc "Phồn hoa kinh" của Hoàng Nguyên Nhuận_Nguyễn Văn
Đọc "Weapons of Mass Deception": Vũ khí lừa dối hàng loạt_Nguyễn Văn
Đọc sách “Secrets” của Daniel Ellsberg (*): Lừa dối và vỡ mộng_Nguyễn Văn
“Vietnamese Engaged Buddhism: The Struggle Movement of 1963-1966”

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE