|
Chiến tranh trên sự
thật
John Pilger
Ở Baghdad, công tŕnh
kiến trúc tốn kém thể hiện thời ḱ hưng thịnh và sự điên rồ của chế độ đế
quốc tham tàn là một nghĩa trang đă bị bỏ quên trong nhiều năm. Đó là
nghĩa trang North Gate (Cổng Bắc). Khách viếng thăm nghĩa trang thường là
chó. Những cánh cổng thường ở trong t́nh trạng khóa móc. Bụi khói xe cộ
chung quanh bao phủ mấy tấm bia cũ kĩ như sắp sụp đổ nói cho chúng ta một
sự thật lịch sử bất biến.
Trung tướng Stanley Maude
được chôn cất ở đây sau khi qua đời v́ bệnh dịch tả. Dấu tích của ông
tướng này để lại là một cái lăng giống như cái đồn quân ông từng trú
đóng. Năm 1917, Maude tuyên bố: “Chúng ta đến đây không phải để chinh
phục mà để giải phóng.” Trong ṿng 3 năm sau đó, 10,000 người bỏ mạng
trong cuộc nổi dậy chống quân đội Anh, cái quân đội từng xịt hơi ngạt và
dội bom xuống những người mà họ gọi là “đê tiện” – “miscreants”. Đó là
một cuộc viễn chinh mà đế quốc Anh không bao giờ hồi phục nổi.
Ngày nay, ở Mĩ hệ thống
truyền thông có mặt trong mọi hang cùng ngơ hẻm nói cho người Mĩ biết rằng
quân lính Mĩ đang đổ máu hàng ngày ở Iraq, mặc dù t́nh h́nh thực tế và qui
mô tấn công của lính Mĩ ở Iraq được che đậy hoàn toàn. Rồi nay mai đây,
người Mĩ sẽ biết số lính bị giết chết sau ngày “giải phóng” c̣n cao hơn số
lính bị giết trong lúc xâm lăng Iraq. Cũng như t́nh trạng ở Việt Nam
trước đây, chính phủ Mĩ cảm thấy duy tŕ cái huyền thoại về “sứ mệnh” càng
ngày càng khó khăn hơn. Nói như thế không có nghĩa là đánh giá thấp những
thành công ngoạn mục của hệ thống tuyên truyền do Mĩ và Anh tung ra. Hệ
thống tuyên truyền này cực ḱ hữu hiệu trong việc giấu diếm dự thật: đó là
phần đông người Iraq phản đối chế độ của Saddam Hussein và sự xâm lăng của
liên quân Anh-Mĩ. Một trong những lí do mà kí giả Andrew Gilligan (thuộc
đài BBC) làm cho chính phủ Anh ở đường Downing ghét ông là v́ ông dám
tường thuật rằng đối với nhiều người Iraq, cuộc xâm chiếm đẩm máu của liên
quân Anh – Mĩ cũng tồi tệ như cái chế độ độc tài của Saddam vừa gục ngă.
Nhưng điều này chẳng bao
giờ được đề cập đến trong nước Mĩ. Cái chết của hàng chục ngàn người Iraq
hầu như không hiện hữu. Khi tôi (John Pilger) phỏng vấn Douglas Feith,
nhân vật số 3 sau Donald Rumsfeld ở Ngũ giác đài, ông ta lắc đầu và lên
lớp tôi về mức độ “chính xác” của vũ khí Mĩ. Cái thông điệp mà ông ta
muốn nói với tôi là cuộc chiến đă trở thành một tṛ trơi khoa học kĩ thuật
không đổ máu nhân danh thần quyền của nước Mĩ. Phỏng vấn ông Feith cũng
giống như nói chuyện với một linh mục. Chỉ có những “chàng trai” và “thục
nữ” Mĩ phải chịu đau khổ, phải hi sinh dưới bàn tay của đám “tàn quân
Ba'athist”, một danh-từ-tự-lừa-dối trong tinh thần danh từ “đê tiện” của
Tướng Maude. Giới truyền thông mù quáng lặp lại những câu thần chú của
Feith, và ít khi nào dám đề cập đến cái sự thật về phong trào kháng chiến
chống lại quân đội Mĩ ở Iraq, cái phong trào kháng chiến đang làm nhiều
lính Mĩ phải cụt tay, cụt chân. Báo chí Mĩ lúc th́ dùng những từ ủy mị,
lúc th́ hung hăng theo tinh thần của chủ nghĩa sô-vanh ca tụng những nạn
nhân lính Mĩ và tố cáo đám “tàn quân Ba'athist”. Khi phỏng vấn John
Bolton, thứ trưởng ngoại giao phụ trách an ninh quốc tế, ông ấy cho tôi
biết chất vấn chính sách ngoại giao của Mĩ cũng đồng nghĩa với dị giáo,
hay như cách nói của ông, tôi thuộc vào loại “đảng viên đảng cộng sản”.
Đối với Mĩ, những khủng
hoảng ở Iraq về hệ thống y tế, trẻ em chết v́ đói khát và viêm dạ dày với
một tỉ lệ cao hơn trước thời chiến tranh (theo UNICEF khoảng 8% trẻ em bị
thiếu dinh dưỡng), hay khủng hoảng về nông nghiệp và thực phẩm ... coi như
không có. Cũng giống như việc Mĩ cầm đầu việc cấm vận Iraq trong suốt 12
năm trời làm cho hàng trăm ngàn người Iraq chết, người dân Mĩ không khi
nào biết đến. Người Iraq, cùng lắm là không phải con người, hay tệ hơn
nữa là những đối tượng để lính Mĩ săn đuổi. Tháng vừa qua, một lá thư
xuất hiện một cách nổi bật trên tờ
New York Daily
News viết: “Cứ
mỗi GI bị giết, chúng ta cần phải xử
tử 20 tên Iraq”. Trong tuần qua, Lực lượng đặc nhiệm 20, một đội quân
thiện nghệ của Mĩ, được giao nhiệm vụ đi săn đuổi “những tên ác ôn”, đă
giết chết ít nhất là 5 người Iraq ngay trên đường phố Baghdad. Hành động
săn bắt và giết người của họ chỉ là một hành động tiêu biểu của đội quân
này.
Oai phong của tờ New
York Times và Washington Post không thể nào sánh nổi với cái
thô bỉ của hệ thống tin tức do Rupert Murdoch cầm đầu. Tuy nhiên, ngày 23
tháng 7 vừa qua, cả hai tờ báo trên chạy cái tít lớn trên trang đầu về vở
tuồng “Hồi hương” của cô Jessica Lynch, một binh nh́ 20 tuổi bị thương
trong một tai nạn xe cộ (trong lúc cô c̣n đóng quân ở Iraq) và bị bắt. Cô
ta được các bác sĩ Iraq cứu sống và chăm sóc cẩn thận. Cũng chính những
bác sĩ này đă mạo hiểm liên lạc với quân đội Mĩ để giao trả cô ta về đơn
vị. Nhưng câu chuyện chính thức do chính phủ Mĩ đưa ra th́ khác hẳn.
Theo chính phủ Mĩ, cô ta đă anh dũng chống trả lại lính Iraq, và sau khi
bị bắt giam, cô được biệt kích Mĩ giải thoát. Nhưng toàn bộ câu chuyện
này là một sự lừa dối có tổ chức. Cuộc “giải thoát” được một đạo diễn
phim trường Hollywood quay phim bằng máy thu h́nh tinh vi có thể dùng
trong đêm tối.
Mặc cho những sự thật như
thế, đại đa số giới báo chí Mĩ vẫn hết lời ca ngợi ḷng “anh dũng” của cô,
và tâng bốc cô ta lên tận mây xanh khi cô về quê Elizabeth thuộc bang West
Virginia. Theo tờ Washington Post, toàn bộ câu chuyện bị lẫn lộn v́ những
mâu thuẫn trong các bài tường thuật của giới truyền thông. Nhà văn George
Orwell từng mô tả t́nh cảnh này là “Ngôn từ rơi rụng trên sự thật như là
đống tuyết, làm hoen ố nội dung câu chuyện và giấu diếm tất cả chi tiết”.
Nhờ vào tự do báo chí tuyệt vời của Mĩ, phần đông người Mĩ, theo như một
cuộc thăm ḍ ư kiến, tin rằng Iraq là thủ phạm đằng sau biến cố 11/9/01.
Jane Harman, một tiếng nói hiếm hoi trong Quốc hội Mĩ, nói: “Chúng ta là
nạn nhân của một sự giấu diếm lớn nhất từ trước đến nay”. Nhưng lời nói
của bà Harman của chỉ là một ảo tưởng.
Sự thật là cuộc chiến ở
Iraq vừa qua là cuộc can thiệp lần thứ 73 của Mĩ trên thế giới trong quá
tŕnh làm cảnh sát quốc tế. Ngoài những cuộc can thiệp như thế, c̣n có
hàng trăm chiến dịch bí mật nhưng đẩm máu chống lại các dân tộc khác trên
thế giới. Những hành động phi pháp này được giới truyền thông toa rập và
giấu nhẹm. Truyền thống dối trá của chính phủ Mĩ có một lịch sử lâu đời,
từ thời Mĩ tiến hành những chiến dịch tiêu diệt người thổ dân Mĩ, và cuộc
chiến Tây Ban Nha – Mĩ, mà trước đó Mĩ tố cáo Tây Ban Nha đánh ch́m tàu
chiến (Maine) của Mĩ. Cho đến thời chiến tranh lạnh, và vụ Vịnh Bắc bộ ở
Việt Nam cũng toàn là những dối trá do chính phủ Mĩ bảo trợ.
Vào thập niên 70s, nhờ
vào sự im lặng của giới truyền thông, Tổng thống Carter cung cấp vũ khí
cho Nam Dương để cho chế độ của Suharto thẳng tay tàn sát người dân Đông
Timor; và bí mật viện trợ cho nhóm du kích mujahedin, tiền thân của
nhóm Taliban và al-Qaeda. Vào thập niên 80s, chính phủ Mĩ sản xuất ra một
sự vô lí: mối “đe dọa” đến nền an ninh nước Mĩ từ phong trào du kích
Sandinistas ở một nước tí hon Nicaragua ở Trung Mĩ. Qua mối “đe dọa” này,
Tổng thống Reagan cung cấp vũ khí cho các nhóm khủng bố nổi tiếng như
Contras, và hậu quả là gần 70,000 người bị giết. Đến thời George W Bush,
Mĩ thu nhận hàng trăm tội phạm chiến tranh từ châu Mĩ Latin và những tay
cướp máy bay (khủng bố đúng nghĩa) chống lại Cuba của chế độ Castro vào
định cư ở Mĩ. Nhưng những sự thật này có bao giờ được báo chí Mĩ nhắc
đến. Người Mĩ cũng chẳng biết đến “Trung tâm huấn luyện” tại Fort
Benning, bang Georgia, mà những người tốt nghiệp là niềm tự hào của Osama
Bin Laden.
Người Mĩ, nói như Tạp chí
Time, sống trong một “eternal present” – một hiện tại bất biến.
Nói cho đúng hơn, người Mĩ không có lựa chọn. Cái gọi là hệ thống “truyền
thông chính thống” ngày nay bị Rupert Murdoch thống trị qua hệ thống
truyền h́nh Fox. Đối với Fox, bất cứ chiến tranh nào cũng là một cuộc
chiến tốt. Ủy ban Thông tin Liên bang (Federal Communications Commission)
do Michaal Powell, con trai của Colin Powell, cầm đầu đă quyết định cho
phép Fox và 4 tập đoàn khác kiểm soát 90% hệ thống thông tin trên toàn
nước Mĩ. Hơn thế nữa, Fox, Disney, và AOL Time Warner kiểm soát 20 mạng
internet hàng đầu trên thế giới. Hai mươi mạng này thu hút khoảng 60% dân
số dùng internet trên thế giới.
Giám đốc Tạp chí Le
Monde Diplomatique, Ignacio Ramonet, tóm gọn t́nh h́nh một cách chính
xác: “Để biện minh cho một cuộc chiến pḥng ngừa
mà Liên hiệp quốc và thế giới không muốn có, một bộ máy tuyên truyền và lừa
phỉnh dưới
sự
điều khiển của nhóm tân bảo thủ đang vây quanh ông Bush, sản xuất ra những
dối trá do nhà nước bảo trợ, một đặc điểm của các chế độ tồi tệ nhất thế
giới
trong thế kỉ 20.”
Phần lớn những dối trá
được Văn pḥng Thông tin Toàn cầu (Office of Global Communications) thuộc
Ṭa bạch ốc chuyển ngay cho Đường Downing (trụ sở của Chính phủ Anh).
Nhiều thông tin thực ra là sản phẩm của một cơ quan bí mật thuộc Ngũ giác
đài, gọi là Văn pḥng Kế họach Đặc biệt (Office of Special Plans). Chính
văn pḥng này là tác giả của các bản tin t́nh báo được “sexed up” cho Tony
Blair. Cũng chính tại đây, những dối trá nổi tiếng về vũ khí tàn phá hàng
loạt được chế tạo một cách thủ công. Ngày 9 tháng 7, Donald Rumsfeld vừa
cười
vừa
nói rằng Mĩ chẳng bao giờ có bằng chứng
ǵ mới [về vụ Saddam có vũ khí tàn phá hàng loạt], và Paul Wolfowitz cũng
nói trước đó: “Vấn đề vũ khí tàn phá hàng loạt” chỉ được nêu lên như
là một “lí do hành
chính” mà thôi, “bởi v́ đó là lí do duy nhất [để xâm chiếm Iraq] mà ai
cũng đồng ư.”
Do đó, việc Blair tấn
công đài BBC là một phần trong kế hoạch nói láo toàn cầu của chính phủ
Anh. Chúng (những dối trá) không chỉ cố t́nh lảng tránh sự liên kết tội
phạm của Blair với nhóm ông Bush. Quả đúng như Nhà b́nh luận truyền thông
người Mĩ, Danny Schechter, chỉ ra một cách sắc bén rằng thu nhập của đài
BBC tăng lên $5.6 tỉ Mĩ kim; có nhiều người Mĩ xem đài BBC ở Mĩ hơn là xem
đài BBC1 ở Anh; và điều mà Murdoch và những tập đoàn TV khác mong muốn là
kiềm chế, hay ít ra là phải tư
hữu
hóa, đài BBC.
Cái trớ trêu ở đây, nói
như Schechter, là đài BBC là đài chủ chiến, thường tuyên truyền cho chiến
tranh. Schechter trích dẫn nghiên cứu của nhóm Media Tenor, một viện
nghiên cứu truyền thông độc lập mà ông ta là một sáng lập viên, cho thấy
trong lúc cuộc chiến vừa qua, BBC ít khi nào tường tŕnh những cuộc biểu
t́nh phản đối chiến tranh trên khắp thế giới. Một nghiên cứu khác của
trường đại học Cardiff cũng phát hiện một khuynh hướng tương tự. Thay vào
đó, đài BBC thường phóng đại những dối trá do bộ máy chiến tranh ở
Washington sản xuất ra, chẳng hạn như là tin Iraq tấn công Kuwait bằng tên
lửa scuds (mà trong thực tế không xảy ra). BBC c̣n là cái loa cho Andrew
Marr đọc diễn văn ăn mừng chiến thắng ngay phía ngoài đường Downing:
“[Tony Blair] nói chúng ta sẽ chiếm Baghdad không cần một giọt máu, và
người dân Iraq sẽ vui mừng chào đón chúng ta. Cả hai tiên đoán này đă được
chứng minh một cách hùng hồn”.
Trong bài diễn văn đáng
để đời đó, gần như mỗi chữ của Marr hoặc vô duyên, hoặc xuyên tạc. Nhiều
nghiên cứu cho thấy con số tử vong trong cuộc chiến vừa qua lên đến 10,000
thường dân và 20,000 binh lính Iraq. Nếu đây không là đổ máu th́ cuộc tàn
sát 2,000 người trong hai ṭa nhà ở New York có nghĩa là ǵ?
Song, tôi cảm động và cảm
thấy an ḷng trước lời mô tả về sự anh dũng của Tiến sĩ David Kelly do
chính gia đ́nh của ông viết: “Sự nghiệp của David được thể hiện qua tính
chính trực, danh dự, và tấm ḷng kiên quyết đi t́m sự thật trong những
t́nh huống hết sức khó khăn. Thật khó mà hiểu hết cái tội ác dă man của
bi kịch này.” Không ai c̣n nghi ngờ ǵ nữa: Phần đông dân chúng Anh hiểu
rằng David Kelly là một antithesis, một cái đinh đối với những kẻ đă tự
chứng minh ḿnh là những đặc công của sự nham hiểm, những thế lực hung hăn
ngoại quốc. Ngăn chặn mối đe dọa này là một hành động khẩn cấp, cho người
dân Iraq và cho cả chúng ta.
(*)
Nguyễn Văn lược dịch từ bài viết “The war on truth” của John Pilger, New
Statesman số ra ngày 4 tháng 8 năm 2003.
|