WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 11/2003

Thái độ của một số người Việt hải ngoại trước cuộc chiến Iraq và dịch SARS

 

Nguyễn Văn

 

Theo dơi thái độ của một số người Việt ở Quận Cam, và nhất là dư luận báo chí ở phố Bolsa, người ta phải rùng ḿnh trước sự hung hăn đối với Iraq, phải kinh ngạc trước ḷng trung thành tuyệt đối với nước Mĩ, và kinh tởm trước thái độ thù nghịch Việt Nam, nơi mà phần lớn họ đă được sinh ra và lớn lên.

Trước cuộc tấn công của Mĩ hiện nay ở Iraq, đại đa số báo chí Mĩ thường đưa ra những thông tin và lập luận rất giống với quan điểm của chính phủ Mĩ, tuy có vài cơ quan ngôn luận khá nghiêm túc như tờ The New York Times Washington Post  cũng có lúc có vẻ độc lập với chính quyền trong việc b́nh luận và phân tích t́nh h́nh.  Nhưng trong giới truyền thông Việt ngữ ở Mĩ th́ các thông tin liên quan đến Iraq tỏ ra rất một chiều: hoàn toàn phản ánh quan điểm của chính phủ ông Bush.  Thật vậy đọc qua những bài b́nh luận trong vài tờ báo [tiếng Việt] tương đối phổ thông trong cộng đồng người Việt ở phố Bolsa, ai cũng thế thấy họ chỉ đơn giản lặp lại (hay dịch lại) những ư kiến của những cây bút b́nh luận thời sự trong báo chí Mĩ, mà không thấy họ phát biểu một ư kiến ǵ mới, và cũng không chứng tỏ được là họ đă chịu khó suy nghĩ và phân tích t́nh h́nh cho khách quan. 

Không những thế, họ c̣n đi thêm một bước xa hơn giới truyền thông Mĩ và hung hăn tuyên bố đ̣i “đánh Iraq”, đ̣i dội bom Iraq trở về thời đại đồ đá.  H́nh như những người Việt hung hăn này đă quên cái quá khứ chiến tranh, đă quên những người thân đă bị chết trong cuộc chiến ở Việt Nam, và xem người dân Iraq như cỏ rác.  Người ta phải hỏi không hiểu những người Việt này c̣n cái nhân tính trong người hay không, bởi v́ người Iraq cũng là con người.  

            Đứng trên phương diện lí trí mà nói, thái độ thuần phục chính phủ rất nguy hiểm, bởi v́ nó không khác ǵ một quá tŕnh tự nhồi sọ.  Những câu hỏi đơn giản không được đặt ra.  Chẳng hạn như hai lí do mà Chính phủ ông Bush nói đến hết ngày này sang tháng nọ rằng Iraq là mối đe dọa cho nền an ninh nước Mĩ [1], và rằng Saddam Hussein có quan hệ với nhóm Al Qaeda, và Iraq có dính dáng vào biến cố 9/11 ở New York [2], được giới truyền thông Việt ngữ lặp lại y nguyên.  Có thể nói rằng giới truyền thông Việt ngữ ở Mĩ nói chung đă tự biến họ thành những cái loa sắc tộc cho chính phủ Mĩ, và một bộ phận trong guồng máy chiến tranh của Mĩ, thay v́ là những người theo đuổi truy t́m sự thật.

Thái độ “yes man” của giới truyền thông Mĩ th́ có thể giải thích được v́ họ cùng chia sẻ các lợi ích kinh tế và chính trị với giới quân sự Mĩ.  Nhưng thái độ ngoan ngoăn và quị lụy trước chính phủ ông Bush được thể hiện trong giới truyền thông tiếng Việt quả là ngoạn mục, và khó mà giải thích.  Nó cũng giống như một sự tự kiểm duyệt, nhưng sự tự kiểm duyệt này không phải bắt nguồn từ phía Chính phủ ông Bush mà là tự nguyện của giới báo chí Việt ngữ: tự nguyện loại bỏ những thông tin đi ngược lại quan điểm của chính phủ để, có lẽ, làm chọ chính phủ Mĩ hài ḷng, và cũng là một dịp để người Mĩ gốc Việt chứng minh ḷng trung thành của ḿnh đến quốc gia Mĩ. 

Thật vậy, có thể nói đại đa số người Việt ở Mĩ ủng hộ Tổng thống Bush trong cuộc chiến xâm lăng Iraq hiện nay.  Họ có nhiều lí do, nhưng cái lí do mà tôi thường nghe và đọc nhiều nhất là: “Ḿnh là công dân Mỹ và nước Mỹ là đất tạm dung của người Việt, nên chúng ta có nhiệm vụ phải ủng hộ Tổng thống Mỹ.”  Nói tóm lại là họ chỉ ủng hộ một cách mù quáng, không cần chất vấn đường lối chính sách của ông Bush có sáng suốt hay không, không cần xem xét ông Bush hành động đúng hay sai, không cần biết cuộc chiến mà ông Bush đang theo đuổi có phù hợp với luật pháp quốc tế hay không.  Cũng may Tổng thống Bush là một chính trị gia tương đối thành công, nên sự ủng hộ của người Việt c̣n có chút ư nghĩa dân chủ; chứ nếu ông là một tay bạo chúa ngược ngạo, th́ sự ủng hộ của người Việt ở Mĩ nó ngớ ngẩn đến cỡ lố bịch và nguy hiểm biết là dường nào.

Cách đây vài tuần ở California, một nhóm người Việt xuống đường biểu t́nh ủng hộ chiến tranh chống Iraq của chính phủ Bush.  Có lẽ đây là một cuộc biểu t́nh duy nhất trong các cộng đồng sắc tộc trên đất Mĩ.  Khi được phỏng vấn tại sao họ đi biểu t́nh, câu trả lời là họ muốn “trả ơn” nước Mĩ đă cưu mang và tạo cơ hội lập nghiệp cho người tỵ nạn, do đó, họ phải có nghĩa vụ chứng minh ḷng trung thành của họ với nước Mĩ.  Và đó cũng là quan điểm của một cựu tướng lănh ở miền Nam Việt Nam (trước 1975) được thể hiện trong lời kêu gọi các cựu binh sĩ gốc Việt ở Mĩ nên xung phong cầm súng đi đánh Iraq.   

Nói tóm lại, đây là một cách “trả ơn” gián tiếp, xuất phát từ t́nh cảm.  Nó thể hiện một sự phá sản tri thức, v́ những người này sẵn sàng để cho trái tim ngự trị và điều khiển bộ năo.  Nói tóm lại, thái độ và hành động mù quáng của họ cũng thể hiện một sự thiếu lí trí. 

            Đối với những người Việt ủng hộ cuộc chiến chống Iraq của ông Bush, bất cứ ai nói ǵ khác, chứ chưa nói đến chất vấn, lập luận của chính phủ Mĩ đều bị cho là “Chống Mĩ”, một cụm từ mà họ bắt chước từ báo chí tiếng Anh, “Anti-American”.  Đối với những người này, bất cứ nhà trí thức hay chính khách nào phê b́nh chính sách của Mĩ đều bị gắn cho cái nhăn hiệu “Chống Mĩ”, thậm chí “Ủng hộ Saddam Hussein”! 

            Cái tṛ chơi nhăn hiệu này thể hiện một t́nh trạng nhược tiểu lí trí, v́ họ không đủ khả năng tri thức để nhận thức ra sự khác biệt giữa thái độ chống chiến tranh và thái độ chống Mĩ hay ủng hộ Saddam.  Cố nhiên thái độ này của họ thể hiện một sự lười biếng trong suy nghĩ, v́ đầu óc của họ chỉ luẩn quẩn trong cái lưỡng cực trắng/đen, tốt/xấu, bạn/thù của ông Bush (“Hoặc là theo ta, hoặc là chống ta”).  V́ thiếu lí trí, những người này hành động theo quán tính, tức là họ chỉ viết những ǵ mà cộng đồng vô thức đang chờ đợi, đang tin vào.  Không có sự bất ngờ.  Viết theo đường ṃn của chữ nghĩa.  Họ thích một nhăn hiệu đơn giản  và cảm tính (hơn là một lí giải) cho một vấn đề phức tạp.  Hậu quả của sự đơn giản hóa vấn đề là nó làm cho họ trở thành nô lệ với sự tầm thường, với những khuôn sáo đă có sẵn. 

            Trong khi người Việt ở Mĩ hết ḷng trung thành với nước Mĩ, họ tỏ ra rất sẵn sàng t́m đủ mọi cách, mọi lúc, mọi cơ hội để gây khó khăn cho Việt Nam, để bày tỏ sự thù hằn với Việt Nam.  Điển h́nh nhất cho cái ác tính này là câu chuyện chung quanh bệnh hô hấp cấp tính (c̣n viết tắt bằng tiếng Anh là SARS).  Một số vị bác sĩ lên đài radio, viết báo cảnh báo đồng hương về căn bệnh này, và khuyên đồng hương không nên đi du lịch ở Việt Nam, thậm chí không nên ăn uống thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam.  Có vị c̣n đi xa hơn và khuyên người nhà nên tránh gần gũi những thân nhân vừa về từ Việt Nam ít nhất là hai tuần! 

            Tuy nhiên, ở các nước như Canada và Úc (chưa kể Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan, Singapore, v.v…), những nơi cũng có trường hợp SARS, nhưng chúng ta không nghe các bác sĩ này khuyến cáo đồng hương không nên đi du lịch ở Canada và Úc.  Những vị gọi là “bác sĩ” này nh́n Việt Nam như là một đất nước dơ bẩn, và đồng hương trong nước như là những người đem bệnh đến cho họ, những người “văn minh”.  Thái độ của các vị này, do đó, không phải xuất phát từ ḷng nhân từ của y giới, mà c̣n hàm chứa cái tính nhỏ mọn, ganh tị trước sự phát triển du lịch ở Việt Nam.  Họ t́m mọi cách, mọi cơ hội, bất cứ nơi nào, để vặn vẹo, thổi phồng thông tin, nhằm vào mục tiêu cuối cùng là làm cho kinh tế Việt Nam tê liệt để thoả măn cái tâm tính chống cộng của họ.

Có thật chứng SARS đang lan tràn ở Việt Nam đến độ chúng ta không nên ghé thăm?  Hay đó chỉ là một thể hiện về sự kém tŕnh độ chuyên môn trong việc xử lí thông tin và hiểu biết bệnh tật.  Tôi có lí do nghiêng về cách giải thích sau hơn.   

            Sự thật là số người mắc bệnh SARS vẫn c̣n rất nhỏ.  Con số bệnh nhân ở Hồng Kông chỉ trên dưới 100 người trong một dân số 7 triệu; ở Việt Nam, cũng chỉ trên dưới 80 bệnh nhân trong một dân số 80 triệu.  Có thể hiện nay chúng ta chưa có phương pháp chữa khỏi bệnh này, nhưng nó không phải là một căn bệnh nguy hiểm đến nổi làm chết mọi bệnh nhân.  Ở Hồng Kông, có 3 người chết; ở Việt Nam, có 2 người qua đời.  Điều quan trọng cần biết là bệnh này không lây đến độ người ta phải cuống cuồng như hiện nay.  Bệnh thường xảy ra một cách chậm chạp trong gia đ́nh, hay trong những người tiếp xúc với chim, gà và lợn.  Các chuyên gia y tế công cộng đều cho rằng bệnh này không lan tràn ồ ạt như báo chí Tây phương đang làm rầm rộ mấy tuần qua. 

Đây không phải là lần đầu tiên SARS xảy ra.  Tháng 11 năm ngoái (2002), nó đă từng xảy ra ở vài vùng trong các nước Đông Á và thậm chí ở Ḥa Lan bên Âu châu.  Nhưng SARS có lẽ là một căn bệnh “mới” trong loạt những bệnh ḱ quái xuất hiện trên trang da962u của báo chí, để rồi chúng biến mất một cách nhanh chóng sau đó.  Người ta c̣n nhớ đến vụ bộc phát vi khuẩn Ebola, MRSA, và fasciitis, những bệnh cũng đáng ngại, cũng “nhớp nhúa”, nhưng chỉ ảnh hưởng đến một số rất nhỏ bệnh nhân. 

            Nhưng những câu chuyện kinh hoàng được giới báo chí tô vẽ, với sự phụ họa của những bác sĩ ham nói và ham bi bô kiến thức loại khoa học thường thức, SARS trở thành một căn bệnh khủng khiếp, làm cho người ta quên rằng nguy cơ bị chết v́ lái xe hàng ngày c̣n cao hơn nguy cơ bị chết v́ SARS. 

Câu chuyện SARS, tự nó, là một triệu chứng của một căn bệnh tâm lí trong cái văn hóa sợ hăi đang bộc phát đến độ khó có thuốc chữa ngày nay.  Đó là căn bệnh xảy ra vào thời ḱ mà công chúng cảm thấy bị cô lập, bất lực, không có khả năng đặt sự hiểm nguy vào bối cảnh thực tại một cách thích hợp.  Cái tâm trạng này c̣n trầm trọng hơn v́ những ư nghĩ về chiến tranh và khủng bố.  Bệnh truyền nhiễm không phải là một căn bệnh của quá khứ như giới y tế Tây phương thường tự hào tuyên bố.  Nhưng giới y tế vẫn có khả năng nhận diện, quản lí, hay chữa trị những căn bệnh này để chúng không trở thành một mối đe dọa cho xă hội.  Do đó, những bệnh này không đe dọa đến tính mạng con người bằng bệnh ung thư hay bệnh tim.  Cái đe dọa đến công chúng hiện nay là sự mất niềm tin và khả năng đối phó với vấn đề bằng lí trí.

Nhưng tại sao giới truyền thông Việt ngữ ở Mĩ lại có khuynh hướng phục tùng chính phủ đến độ nô lệ như thế?  Có hai giả thuyết có thể được dùng để giải thích hiện tượng này.  Một là giới họ ngu muội và khờ dại hơn chúng ta tưởng.  Hai là họ biết nhưng họ cố t́nh che đậy sự thật.  Có thể cả hai lí do.  Có thể nói rằng phần lớn giới truyền thông nói chung, và truyền thông Việt ngữ nói riêng, thiếu tinh tế và tri thức phân tích trong các vấn đề thời sự phức tạp.  Thành ra, thay v́ đóng vai tṛ của người canh giữ sự thật, họ trở thành những kẻ ṭng phạm dấu diếm sự thật.         

 

Chú thích:

[1]  Nhưng đây là một phát biểu không đúng sự thật, bởi một lí do đơn giản là Iraq không có đủ thực lực quân sự để đe dọa nước Mĩ, hay thậm chí các nước láng giềng.  Tổng tư lệnh Quân đội Do Thái, tướng Moshe Ya’alon nói “The Iraqi threat does not keep me awake at night” (Mối đe dọa từ Iraq không làm tôi mất ngủ).  Phát biểu của tướng Ya’alon cho thấy Iraq không phải là mối đe dọa an ninh trong vùng.  Có thể nói trên thế giới, Do Thái là “chuyên viên” hàng đầu về Iraq, Do Thái biết Iraq có lẽ nhiều hơn Mĩ biết Iraq.  Thế mà Do Thái không lo sợ Iraq th́ hà cớ ǵ Mĩ lại lo sợ Iraq?  Thực vậy, kể từ cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất (1991) cho đến nay, Iraq đă bị giải giới rất nhiều, và cho đến nay, sau hơn 3 tháng thanh tra vũ khí, các chuyên viên Liên hiệp quốc chưa t́m ra một vũ khí tàn sát hàng loạt của Iraq.  Từ hơn 12 năm qua, trước khi ông Bush tuyên bố tấn công, Iraq đă và đang bị dội bom hàng tuần.  Trong một t́nh h́nh bị khống chế như thế th́ làm sao Iraq có thể đe doạ đến nước Mĩ?  Một đầu óc b́nh thường cũng có thể thấy cái luận điệu này của chính phủ ông Bush là không thể tin được. 

[2] Khi các “bằng chứng” của ông Colin Powell [tŕnh bày trước Liên hiệp quốc để thuyết phục thế giới ủng hộ cuộc chiến chống Iraq] bị chứng minh là giả tạo, chính phủ ông Bush quay sang tố cáo rằng Saddam Hussein có quan hệ với nhóm Al Qaeda, và Iraq có dính dáng vào biến cố 9/11 ở New York.  Luận điệu này được báo chí Việt ngữ lặp lại hầu như không thiếu chữ nào.  Vấn đề là trong thực tế, chưa ai chứng minh được mối quan hệ này.  Những ai thông thạo t́nh h́nh Trung Đông đều không ngạc nhiên về thất bại trong việc t́m cách chứng minh mối liên hệ giữa Hussein và al Qaeda, bởi v́ Hussein và Osama bin Laden là hai kẻ thù không đội trời chung với nhau.  Bin Laden là một người Hồi giáo quá khích (cũng giống như Khomeini của Iran), và ông ta ghét cay ghét đắng những lănh tụ thế tục thuộc Đảng Xă hội như Saddam Hussein.  Tương tự, Hussein từng thẳng tay đàn áp các nhóm Hồi giáo quá khích ở Iraq.  Ngay cả Tổng giám đốc CIA, khi được hỏi về mối quan hệ, trả lời: “It is simply not there”.

Bài trong tháng

Bon đạn và chiến tranh tậm lí
Bring 'em On
Buồn bă với những môi hôn_Cao Huy Thuần
Bùi Tín và vấn đề thông tin
Bảo tồn môi sinh: Chiến tranh giữa hai thế giới
Bộ gen trong cây lúa và triển vọng
Chiến tranh
Chiến tranh trên sự thật
Chuyến tàu nửa đêm
Chú Sam nổi giận
Cá mập ở Washington
Cầu ṿng nguy hiểm
Cổ máy
Cứu trợ nhân đạo?
DDT và vấn đề cân đối giữa lợi ích và nguy hiểm
Deception and Propaganda within the Vietnamese Community in Australia
Di chỉ khảo cổ học về giai đoạn "Hậu đồ đá mới"
Elite U.S. Unit Killed Hundreds of Vietnamese Civilians, Report Says
Hành tŕnh ngược chiều
Hóa chất khai hoang trong cuộc chiến Viện Nam: Qui mô và tầm ảnh hưởng
Hướng dẫn việc t́m kiếm thông tin sức khoẻ trên hệ thống thông tin liên mạng (internet)
Hồ sơ Phật Giáo Việt Nam
Hội chứng phi Việt Nam
Joseph Wilson - Những ǵ tôi không t́m thấy ở Phi châu
Khoa học, xă hội, và rủi ro
Kể chuyện mùa thu Vác-xa-va
Luận kiếm bên bờ giếng
Ly trà thời đại
Một bí mật bị chôn vùi
Ngô Đ́nh Diệm - Bảy nguyên nhân thất bại
Người cao tuổi và sự hạn chế của y khoa
NGỘ ĐỘC” (NƯỚC) CỦ DỀN-NỖI OAN THỊ KÍNH
Ngụy trí thức ?
Nhân đọc "Từ điển Văn học Việt Nam"
NHẬN DIỆN THÀNH PHỐ QUẢNG CHÂU HÔM NAY, NƠI CỐ ĐÔ PHIÊN NGUNG NƯỚC NAM VIỆT NGÀY XƯA
Nhật kư Fansipan
Nhật Thực
Những tên nói láo hay nhất thế giới
Những điều vô lí của chiến tranh
Phát hiện mới về thành Thăng Long
Phát hiện mới ở Sa Huỳnh
Phỏng vấn Nguyễn Hữu Đống
Quyền phủ quyết LHQ
Ramonet - Dối trá do nhà nước bảo trợ
Sân khấu thiện và ác
Sư tử trùng (01): Thay lời tựa
Sư tử trùng (02): Chuyện năm cũ và nguyện năm mới
Sư tử trùng (03): Ḥa Thượng có phải là phật tử xuất gia?
Sư tử trùng (04): Về một chuyện xưa rất mới
Sư tử trùng (05): Úm ba la, chúng ta cùng lên tiếng
Sư tử trùng (06): Thượng thủ pháp sư bội chủ
Sư tử trùng (07): Quyền làm người nô lệ
Sư tử trùng (08): Thầy Nhất Hạnh: nạn nhân đầu tiên và cuối cùng?
Sư tử trùng (09): Mượn sư cúng thần liên tôn
Sư tử trùng (10): Nẳm vùng_Giới Tử
Sư tử trùng (11): Giáo hội và giáo hội
Sư tử trùng (11): Quanh Sự hi sinh của huynh trưởng Hồ Tấn Anh
Sư tử trùng (13): Ḥa thượng phải nhờ "Việt cộng"
Sư tử trùng (14): Cơn Băo Trong Chén Trà
Sư tử trùng (15): Những Điều Trông Thấy_Giới Tử & Tâm Quán
Sư tử trùng (16): Vơ Văn Ái_Ch́m Xuồng Níu Phao
Sự im lặng của nghĩa đại cổ trên núi A Mang
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Thiền định dưới ánh sáng khoa học
Thái độ của một số người Việt hải ngoại trước cuộc chiến Iraq và dịch SARS
Trăm năm trong cơi người ta
Tôn giáo và quan điểm tiến hóa
Tạo sinh vô tính và cái chết của Thượng đế
Tạo sinh vô tính và vấn đề sinh đạo đức
Tản mạn nhân vụ 9/11
Tản mạn về SARS
Từ những phát hiện mới về thành Thăng Long
Ung thư vú và vấn đề thông tin y khoa
Vấn đề y đức trong nghiên cứu tế bào mầm (stem cells)
Why I hate George W. Bush.
Yếu tố tôn giáo trong cuộc đụng độ giữa Mĩ và Iraq
Điểm sách "Từ thù đến bạn" của Bùi Tín_Nguyễn Văn
Đu đủ và thai nghén_Sự thật hay truyền thuyết?
Đậu nành và sức khỏe: đâu là thực và đâu là giả
Đọc "Phồn hoa kinh" của Hoàng Nguyên Nhuận_Nguyễn Văn
Đọc "Weapons of Mass Deception": Vũ khí lừa dối hàng loạt_Nguyễn Văn
Đọc sách “Secrets” của Daniel Ellsberg (*): Lừa dối và vỡ mộng_Nguyễn Văn
“Vietnamese Engaged Buddhism: The Struggle Movement of 1963-1966”

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE