|
Thái độ của một số
người Việt hải ngoại trước cuộc chiến Iraq và dịch SARS
Nguyễn Văn
Theo dơi thái độ của một
số người Việt ở Quận Cam, và nhất là dư luận báo chí ở phố Bolsa, người ta
phải rùng ḿnh trước sự hung hăn đối với Iraq, phải kinh ngạc trước ḷng
trung thành tuyệt đối với nước Mĩ, và kinh tởm trước thái độ thù nghịch
Việt Nam, nơi mà phần lớn họ đă được sinh ra và lớn lên.
Trước cuộc tấn công của
Mĩ hiện nay ở Iraq, đại đa số báo chí Mĩ thường đưa ra những thông tin và
lập luận rất giống với quan điểm của chính phủ Mĩ, tuy có vài cơ quan ngôn
luận khá nghiêm túc như tờ The New York Times và Washington
Post cũng có lúc có vẻ độc lập với chính quyền trong việc b́nh luận
và phân tích t́nh h́nh. Nhưng trong giới truyền thông Việt ngữ ở Mĩ th́
các thông tin liên quan đến Iraq tỏ ra rất một chiều: hoàn toàn phản ánh
quan điểm của chính phủ ông Bush. Thật vậy đọc qua những bài b́nh luận
trong vài tờ báo [tiếng Việt] tương đối phổ thông trong cộng đồng người
Việt ở phố Bolsa, ai cũng thế thấy họ chỉ đơn giản lặp lại (hay dịch lại)
những ư kiến của những cây bút b́nh luận thời sự trong báo chí Mĩ, mà
không thấy họ phát biểu một ư kiến ǵ mới, và cũng không chứng tỏ được là
họ đă chịu khó suy nghĩ và phân tích t́nh h́nh cho khách quan.
Không những thế, họ c̣n
đi thêm một bước xa hơn giới truyền thông Mĩ và hung hăn tuyên bố đ̣i
“đánh Iraq”, đ̣i dội bom Iraq trở về thời đại đồ đá. H́nh như những người
Việt hung hăn này đă quên cái quá khứ chiến tranh, đă quên những người
thân đă bị chết trong cuộc chiến ở Việt Nam, và xem người dân Iraq như cỏ
rác. Người ta phải hỏi không hiểu những người Việt này c̣n cái nhân tính
trong người hay không, bởi v́ người Iraq cũng là con người.
Đứng trên
phương diện lí trí mà nói, thái độ thuần phục chính phủ rất nguy hiểm, bởi
v́ nó không khác ǵ một quá tŕnh tự nhồi sọ. Những câu hỏi đơn giản
không được đặt ra. Chẳng hạn như hai lí do mà Chính phủ ông Bush nói đến
hết ngày này sang tháng nọ rằng Iraq là mối đe dọa cho nền an ninh nước Mĩ
[1], và rằng Saddam Hussein có quan hệ với nhóm Al Qaeda, và Iraq có dính
dáng vào biến cố 9/11 ở New York [2], được giới truyền thông Việt ngữ lặp
lại y nguyên. Có thể nói rằng giới truyền thông Việt ngữ ở Mĩ nói chung
đă tự biến họ thành những cái loa sắc tộc cho chính phủ Mĩ, và một bộ phận
trong guồng máy chiến tranh của Mĩ, thay v́ là những người theo đuổi truy
t́m sự thật.
Thái độ “yes man” của
giới truyền thông Mĩ th́ có thể giải thích được v́ họ cùng chia sẻ các lợi
ích kinh tế và chính trị với giới quân sự Mĩ. Nhưng thái độ ngoan ngoăn
và quị lụy trước chính phủ ông Bush được thể hiện trong giới truyền thông
tiếng Việt quả là ngoạn mục, và khó mà giải thích. Nó cũng giống như một
sự tự kiểm duyệt, nhưng sự tự kiểm duyệt này không phải bắt nguồn từ phía
Chính phủ ông Bush mà là tự nguyện của giới báo chí Việt ngữ: tự nguyện
loại bỏ những thông tin đi ngược lại quan điểm của chính phủ để, có lẽ,
làm chọ chính phủ Mĩ hài ḷng, và cũng là một dịp để người Mĩ gốc Việt
chứng minh ḷng trung thành của ḿnh đến quốc gia Mĩ.
Thật vậy, có thể nói đại
đa số người Việt ở Mĩ ủng hộ Tổng thống Bush trong cuộc chiến xâm lăng
Iraq hiện nay. Họ có nhiều lí do, nhưng cái lí do mà tôi thường nghe và
đọc nhiều nhất là: “Ḿnh là công dân Mỹ và nước Mỹ là đất tạm dung của
người Việt, nên chúng ta có nhiệm vụ phải ủng hộ Tổng thống Mỹ.” Nói
tóm lại là họ chỉ ủng hộ một cách mù quáng, không cần chất vấn đường lối
chính sách của ông Bush có sáng suốt hay không, không cần xem xét ông Bush
hành động đúng hay sai, không cần biết cuộc chiến mà ông Bush đang theo
đuổi có phù hợp với luật pháp quốc tế hay không. Cũng may Tổng thống Bush
là một chính trị gia tương đối thành công, nên sự ủng hộ của người Việt
c̣n có chút ư nghĩa dân chủ; chứ nếu ông là một tay bạo chúa ngược ngạo,
th́ sự ủng hộ của người Việt ở Mĩ nó ngớ ngẩn đến cỡ lố bịch và nguy hiểm
biết là dường nào.
Cách đây vài tuần ở
California, một nhóm người Việt xuống đường biểu t́nh ủng hộ chiến tranh
chống Iraq của chính phủ Bush. Có lẽ đây là một cuộc biểu t́nh duy nhất
trong các cộng đồng sắc tộc trên đất Mĩ. Khi được phỏng vấn tại sao họ đi
biểu t́nh, câu trả lời là họ muốn “trả ơn” nước Mĩ đă cưu mang và tạo cơ
hội lập nghiệp cho người tỵ nạn, do đó, họ phải có nghĩa vụ chứng minh
ḷng trung thành của họ với nước Mĩ. Và đó cũng là quan điểm của một cựu
tướng lănh ở miền Nam Việt Nam (trước 1975) được thể hiện trong lời kêu
gọi các cựu binh sĩ gốc Việt ở Mĩ nên xung phong cầm súng đi đánh Iraq.
Nói tóm lại, đây là một
cách “trả ơn” gián tiếp, xuất phát từ t́nh cảm. Nó thể hiện một sự phá
sản tri thức, v́ những người này sẵn sàng để cho trái tim ngự trị và điều
khiển bộ năo. Nói tóm lại, thái độ và hành động mù quáng của họ cũng thể
hiện một sự thiếu lí trí.
Đối với những
người Việt ủng hộ cuộc chiến chống Iraq của ông Bush, bất cứ ai nói ǵ
khác, chứ chưa nói đến chất vấn, lập luận của chính phủ Mĩ đều bị cho là
“Chống Mĩ”, một cụm từ mà họ bắt chước từ báo chí tiếng Anh,
“Anti-American”. Đối với những người này, bất cứ nhà trí thức hay chính
khách nào phê b́nh chính sách của Mĩ đều bị gắn cho cái nhăn hiệu “Chống
Mĩ”, thậm chí “Ủng hộ Saddam Hussein”!
Cái tṛ chơi
nhăn hiệu này thể hiện một t́nh trạng nhược tiểu lí trí, v́ họ không đủ
khả năng tri thức để nhận thức ra sự khác biệt giữa thái độ chống chiến
tranh và thái độ chống Mĩ hay ủng hộ Saddam. Cố nhiên thái độ này của họ
thể hiện một sự lười biếng trong suy nghĩ, v́ đầu óc của họ chỉ luẩn quẩn
trong cái lưỡng cực trắng/đen, tốt/xấu, bạn/thù của ông Bush (“Hoặc là
theo ta, hoặc là chống ta”). V́ thiếu lí trí, những người này hành động
theo quán tính, tức là họ chỉ viết những ǵ mà cộng đồng vô thức đang chờ
đợi, đang tin vào. Không có sự bất ngờ. Viết theo đường ṃn của chữ
nghĩa. Họ thích một nhăn hiệu đơn giản và cảm tính (hơn là một lí giải)
cho một vấn đề phức tạp. Hậu quả của sự đơn giản hóa vấn đề là nó làm cho
họ trở thành nô lệ với sự tầm thường, với những khuôn sáo đă có sẵn.
Trong khi
người Việt ở Mĩ hết ḷng trung thành với nước Mĩ, họ tỏ ra rất sẵn sàng
t́m đủ mọi cách, mọi lúc, mọi cơ hội để gây khó khăn cho Việt Nam, để bày
tỏ sự thù hằn với Việt Nam. Điển h́nh nhất cho cái ác tính này là câu
chuyện chung quanh bệnh hô hấp cấp tính (c̣n viết tắt bằng tiếng Anh là
SARS). Một số vị bác sĩ lên đài radio, viết báo cảnh báo đồng hương về
căn bệnh này, và khuyên đồng hương không nên đi du lịch ở Việt Nam, thậm
chí không nên ăn uống thực phẩm nhập cảng từ Việt Nam. Có vị c̣n đi xa
hơn và khuyên người nhà nên tránh gần gũi những thân nhân vừa về từ Việt
Nam ít nhất là hai tuần!
Tuy nhiên, ở
các nước như Canada và Úc (chưa kể Trung Quốc, Hồng Kông, Thái Lan,
Singapore, v.v…), những nơi cũng có trường hợp SARS, nhưng chúng ta không
nghe các bác sĩ này khuyến cáo đồng hương không nên đi du lịch ở Canada và
Úc. Những vị gọi là “bác sĩ” này nh́n Việt Nam như là một đất nước dơ
bẩn, và đồng hương trong nước như là những người đem bệnh đến cho họ,
những người “văn minh”. Thái độ của các vị này, do đó, không phải xuất
phát từ ḷng nhân từ của y giới, mà c̣n hàm chứa cái tính nhỏ mọn, ganh tị
trước sự phát triển du lịch ở Việt Nam. Họ t́m mọi cách, mọi cơ hội, bất
cứ nơi nào, để vặn vẹo, thổi phồng thông tin, nhằm vào mục tiêu cuối cùng
là làm cho kinh tế Việt Nam tê liệt để thoả măn cái tâm tính chống cộng
của họ.
Có thật chứng SARS đang
lan tràn ở Việt Nam đến độ chúng ta không nên ghé thăm? Hay đó chỉ là một
thể hiện về sự kém tŕnh độ chuyên môn trong việc xử lí thông tin và hiểu
biết bệnh tật. Tôi có lí do nghiêng về cách giải thích sau hơn.
Sự thật là số
người mắc bệnh SARS vẫn c̣n rất nhỏ. Con số bệnh nhân ở Hồng Kông chỉ
trên dưới 100 người trong một dân số 7 triệu; ở Việt Nam, cũng chỉ trên
dưới 80 bệnh nhân trong một dân số 80 triệu. Có thể hiện nay chúng ta
chưa có phương
pháp chữa khỏi
bệnh này, nhưng nó không phải là một căn bệnh nguy hiểm đến nổi làm chết
mọi bệnh nhân.
Ở Hồng Kông, có
3 người chết; ở Việt Nam, có 2 người
qua đời.
Điều quan trọng
cần biết là bệnh này không lây đến độ người ta phải cuống cuồng như hiện
nay. Bệnh thường xảy ra một cách chậm chạp trong gia đ́nh, hay trong
những người tiếp xúc với chim, gà và lợn. Các chuyên gia y tế công cộng
đều cho rằng bệnh này không lan tràn ồ ạt như báo chí Tây phương đang làm
rầm rộ mấy tuần qua.
Đây không phải là lần đầu
tiên SARS xảy ra. Tháng 11 năm ngoái (2002), nó đă từng xảy ra ở vài vùng
trong các nước Đông Á và thậm chí ở Ḥa Lan bên Âu châu. Nhưng SARS có lẽ
là một căn bệnh “mới” trong loạt những bệnh ḱ quái xuất hiện trên trang
da962u của báo chí, để rồi chúng biến mất một cách nhanh chóng sau đó.
Người ta c̣n nhớ đến vụ bộc phát vi khuẩn Ebola, MRSA, và
fasciitis, những bệnh cũng đáng ngại, cũng “nhớp nhúa”, nhưng chỉ ảnh
hưởng đến một số rất nhỏ bệnh nhân.
Nhưng những
câu chuyện kinh hoàng được giới báo chí tô vẽ, với sự phụ họa của những
bác sĩ ham nói và ham bi bô kiến thức loại khoa học thường thức, SARS trở
thành một căn bệnh khủng khiếp, làm cho người ta quên rằng nguy cơ bị chết
v́ lái xe hàng ngày c̣n cao hơn nguy cơ bị chết v́ SARS.
Câu chuyện SARS, tự nó,
là một triệu chứng của một căn bệnh tâm lí trong cái văn hóa sợ hăi đang
bộc phát đến độ khó có thuốc chữa ngày nay. Đó là căn bệnh xảy ra vào
thời ḱ mà công chúng cảm thấy bị cô lập, bất lực, không có khả năng đặt
sự hiểm nguy vào bối cảnh thực tại một cách thích hợp. Cái tâm trạng này
c̣n trầm trọng hơn v́ những ư nghĩ về chiến tranh và khủng bố. Bệnh
truyền nhiễm không phải là một căn bệnh của quá khứ như giới y tế Tây
phương thường tự hào tuyên bố. Nhưng giới y tế vẫn có khả năng nhận diện,
quản lí, hay chữa trị những căn bệnh này để chúng không trở thành một mối
đe dọa cho xă hội. Do đó, những bệnh này không đe dọa đến tính mạng con
người bằng bệnh ung thư hay bệnh tim. Cái đe dọa đến công chúng hiện nay
là sự mất niềm tin và khả năng đối phó với vấn đề bằng lí trí.
Nhưng tại sao giới truyền
thông Việt ngữ ở Mĩ lại có khuynh hướng phục tùng chính phủ đến độ nô lệ
như thế? Có hai giả thuyết có thể được dùng để giải thích hiện tượng
này. Một là giới họ ngu muội và khờ dại hơn chúng ta tưởng. Hai là họ
biết nhưng họ cố t́nh che đậy sự thật. Có thể cả hai lí do. Có thể nói
rằng phần lớn giới truyền thông nói chung, và truyền thông Việt ngữ nói
riêng, thiếu tinh tế và tri thức phân tích trong các vấn đề thời sự phức
tạp. Thành ra, thay v́ đóng vai tṛ của người canh giữ sự thật, họ trở
thành những kẻ ṭng phạm dấu diếm sự thật.
Chú thích:
[1] Nhưng đây là một
phát biểu không đúng sự thật, bởi một lí do đơn giản là Iraq không có đủ
thực lực quân sự để đe dọa nước Mĩ, hay thậm chí các nước láng giềng.
Tổng tư lệnh Quân đội Do Thái, tướng Moshe Ya’alon nói “The Iraqi threat
does not keep me awake at night” (Mối đe dọa từ Iraq không làm tôi mất
ngủ). Phát biểu của tướng Ya’alon cho thấy Iraq không phải là mối đe dọa
an ninh trong vùng. Có thể nói trên thế giới, Do Thái là “chuyên viên”
hàng đầu về Iraq, Do Thái biết Iraq có lẽ nhiều hơn Mĩ biết Iraq. Thế mà
Do Thái không lo sợ Iraq th́ hà cớ ǵ Mĩ lại lo sợ Iraq? Thực vậy, kể từ
cuộc chiến vùng Vịnh lần thứ nhất (1991) cho đến nay, Iraq đă bị giải giới
rất nhiều, và cho đến nay, sau hơn 3 tháng thanh tra vũ khí, các chuyên
viên Liên hiệp quốc chưa t́m ra một vũ khí tàn sát hàng loạt của Iraq. Từ
hơn 12 năm qua, trước khi ông Bush tuyên bố tấn công, Iraq đă và đang bị
dội bom hàng tuần. Trong một t́nh h́nh bị khống chế như thế th́ làm sao
Iraq có thể đe doạ đến nước Mĩ? Một đầu óc b́nh thường cũng có thể thấy
cái luận điệu này của chính phủ ông Bush là không thể tin được.
[2] Khi các
“bằng chứng” của ông Colin Powell [tŕnh bày trước Liên hiệp quốc để
thuyết phục thế giới ủng hộ cuộc chiến chống Iraq] bị chứng minh là giả
tạo, chính phủ ông Bush quay sang tố cáo rằng Saddam Hussein có quan hệ
với nhóm Al Qaeda, và Iraq có dính dáng vào biến cố 9/11 ở New York. Luận
điệu này được báo chí Việt ngữ lặp lại hầu như không thiếu chữ nào. Vấn
đề là trong thực tế, chưa ai chứng minh được mối quan hệ này. Những ai
thông thạo t́nh h́nh Trung Đông đều không ngạc nhiên về thất bại trong
việc t́m cách chứng minh mối liên hệ giữa Hussein và al Qaeda, bởi v́
Hussein và Osama bin Laden là hai kẻ thù không đội trời chung với nhau.
Bin Laden là một người Hồi giáo quá khích (cũng giống như Khomeini của
Iran), và ông ta ghét cay ghét đắng những lănh tụ thế tục thuộc Đảng Xă
hội như Saddam Hussein. Tương tự, Hussein từng thẳng tay đàn áp các nhóm
Hồi giáo quá khích ở Iraq. Ngay cả Tổng giám đốc CIA, khi được hỏi về mối
quan hệ, trả lời: “It is simply not there”.
|