|
Kể chuyện mùa thu
Vác-xa-va
Nguyễn Khắc Phục
Ba Lan có thể xem là cái mỏ của văn chương và giải thưởng Nobel. Ba Lan
nhận cả thảy 6 giải Nobel th́ đă 4 giải thuộc lĩnh vực văn chương, đó là
Wislawa Szymborsk, Wtadyslaw Reymon, Henryk Sienkiewicz, Czeslaw Milosz.
Những tên tuổi khác như Vaiđa, Kôpécních, và lừng lẫy nhất là nhạc sĩ
thiên tài Sôpanh mà mỗi khi nhắc đến người ta phải thốt lên: “Đây, Ba Lan”.
Nhà văn Nguyễn Khắc Phục bắt đầu kể về chuyến thăm cộng đồng người Việt
Nam tại Vac-xa-va bằng nhận xét như vậy. Ông nói tiếp:
Đến Ba Lan lần
đầu, không chút ngỡ ngàng, như trong tôi đă có sẵn Ba Lan vậy. Chỉ có chút
quà của mùa thu Hà Nội muốn san sẻ với bạn bè, những người Việt Nam ở
thành phố Vác-xa-va, ấy là bầu trời xanh, thoảng hương cốm xanh và gió lơ
mơ vàng. Nhưng mùa thu ở đâu chả thế, gợi cảm và buộc người ta hoài niệm.
Mà thu Vác-xa-va và thu Hà Nội giống nhau đến kỳ lạ. Cũng những con đường
chiều đổ vàng và tràn ngập mùi hương của hoa sữa Hà Nội, và ở đây, phong
vị đặc biệt thu của những chiếc là phong Vác-xa-va.
Tôi đến Ba Lan
theo lời mời của một người bạn, chủ doanh nghiệp New Sun, chuyên cho thuê
bến băi, kho chứa hàng ở chợ “Sân vận động 10 năm”. Ngoài việc kinh doanh,
công ty này c̣n tổ chức các hoạt động sinh hoạt văn hóa lôi cuốn đông đảo
đồng bào ở Ba Lan tham gia. Mới đây nhất, công ty mở ra một Nhà văn hóa
Việt Nam với căng tin, thư viện, sân khấu ca nhạc, pḥng hát karaoke. Nhân
dịp kỷ niệm 49 năm giải phóng thủ đô (10-10- 1954), tôi được mời sang để
kể chuyện Thăng Long- Hà Nội, cùng đi có hai nghệ sĩ của trường Cao đẳng
nghệ thuật.
Vác-xa-va được
chia đôi bởi con sông Vistuyn. Bên này sông là quận ngoại ô Praga sôi động
và thừa đất hoang, người ta gọi vui là “quận liều”. Bên kia sông vẫn giữ
nguyên một Vac-sa-va cổ kính, trầm mặc. Người Việt phần lớn tập trung ở
“quận liều” Praga, họp nhau tại chợ Sân vận động. Khi mới dựng lên nó có
cái tên khá lạ “Sân vận động 10 năm”, sau rồi biến thành một thứ chợ đầu
mối, có phân lô, phân sạp cho Người Việt thuê bán hàng. Người Việt c̣n có
mặt ở trung tâm Tàu, một kiểu trung tâm thương mại, nằm cách Vác-xa-va
chừng 30km. Tôi không ở khách sạn mà ở ngay tại nhà của một ông bạn già
cùng các bạn trẻ tuổi ngoài ba mươi. Vài người chung nhau một căn hộ không
rộng răi lắm nhưng cũng đủ tiện nghi.
Ước
tính hiện có khoảng hai mươi ngàn người Việt ở Ba Lan, trong đó hơn một
nửa sống tại Vác-xa-va. Người Việt đến Ba Lan bằng nhiều con đường,
một số đi học tập, một số đi xuất khẩu lao động, và cũng có rất nhiều
người đến từ các nước Đông Âu sau biến cố chính trị vào đầu những năm 90.
Tôi đă gặp rất nhiều người từ bác sĩ, giáo sư , nghệ sĩ cho đến đạo diễn
sân khấu, nhạc sĩ từng tốt nghiệp trường nhạc Tschaikốpski. Nhưng giờ đây,
những chức danh, học vị kể trên dường như chỉ c̣n là “hoài niệm”. Chả hạn,
một ông giáo sư tiến sĩ trường mỏ có thể ngồi coi thư viện của Nhà văn hóa
Việt Nam, kèm cho thuê băng.
Tôi đi ăn ở quán
phở Hiên, anh bạn cùng đi giới thiệu tôi là người về hưu sang đây làm ăn.
Một vài bạn trẻ nh́n tôi lắc đầu thông cảm: “Bố ơi, tuổi bố ngần này c̣n
sang đây làm ǵ. Tương lai mờ mịt lắm!”. Có người nào sung sướng hơn không?
Trong khoảng dăm trăm người Việt có giấy tờ định cư lâu dài ở Ba Lan, cũng
chỉ có một nhúm sống được sung túc. Họ có tiền đi du lịch khắp Châu Âu, có
tiền thuê bảo mẫu trông nom con cái, có tiền cho chúng vào học ở các
trường danh giá, tốn kém. Song điều đó không hoàn toàn có nghĩa là họ thật
sự hạnh phúc và thanh thản!
Tôi đă ở trong
một ṭa biệt thự của một gia đ́nh người Việt có thẻ định cư lâu dài. Một
ngôi biệt thự mà nhiều người dân gốc Vác-xa-va cũng phải ao ước. Nhưng vợ
chồng chủ nhân ngôi biệt thự ấy làm việc vất vả chẳng khác nào những người
lao động phổ thông ở chợ “Sân vận động” mà tôi gặp. Vẫn phải dậy từ lúc
tinh mơ, cho con cái ăn sáng, nhoáng nhoàng đưa chúng đến trường học cách
vài chục cây số. Trở về nhà, hai vợ chồng họ chỉ kịp nuốt vội bát ḿ, bổ
ra chợ bán hàng vào lúc 6h30, tối mịt trở về khi con cái đă lăn ra ngủ.
Trong tất cả
những người tôi gặp chẳng ai sống v́ ḿnh. Tất cả h́nh như đều sống cho
cho tương lai. Tương lai của họ đơn giản là sự nuôi dậy, lo lắng cho con
đường học vấn, thành đạt của con cái họ. Thật ra, những đứa trẻ ấy có thể
được sống khá đầy đủ cả về ăn uống, sinh hoạt, tiện nghi và điều kiện tiếp
cận văn minh phương tây. Tuy nhiên, chúng lại thiếu cái…”không khí quê
hương- đất nước” trong ngôn ngữ, giao tiếp và thưởng thức nghệ thuật
truyền thống.
Buổi nói chuyện
của tôi tại Nhà Văn hóa Việt Nam có khoảng 30-40 người tham dự . Đây
nguyên là pḥng hát karaoke, chẳng có ǵ đặc biệt, sơ sài một vài hàng ghế,
diễn giả không micrô, nghệ sĩ không dàn nhạc. Tôi t́nh cờ gặp lại TL, một
người bạn đă xa cách 30 năm. Trong niềm vui hội ngộ, chúng tôi ôn lại
những kỷ niệm ở chiến trường khu 5. Khi ấy TL là cô văn công trẻ trung và
xinh đẹp. Đất nước thống nhất, TL theo nghề sư phạm. V́ hoàn cảnh riêng tư
mà sang Ba Lan lập nghiệp. Qua câu chuyện hôm nay, tôi tin trong ḷng TL
c̣n nguyên ngọn lửa của những năm tháng đẹp đẽ đó. Một người bạn khác từng
học ở Nga với tôi, H, tối nay cũng có mặt. Hồi đó, tôi học đạo diễn điện
ảnh, H học phê b́nh- lư luận âm nhạc. Con gái của H đă đạt khá nhiều giải
cao tại các cuộc thi piano dành cho lứa tuổi dưới 16 toàn Ba La. Tôi đếm
ra không ít con cái người Việt Nam đạt được những thành tích khá xuất sắc
tại các trường Ba Lan. Ngoài hai mươi tuổi, đă có người giành được bằng
thạc sĩ, tiến sĩ…Họ say học tập, sáng tạo và mong được hiến dâng cho gia
đ́nh, quê hương, đất nước những điều tốt đẹp nhất.
Tôi kể từ chuyện
Thăng Long 1000 năm trước cho đến chuyện khai quật di chỉ văn hóa tại
trung tâm Hà Nội. Những điều tôi nói có thể chẳng sâu sắc, mới mẻ ǵ,
nhưng họ cảm nhận được rằng tôi đang chia sẻ với họ niềm đồng cảm, t́nh
bạn bè, anh em và một chút ǵ như phong vị quê hương qua mỗi chi tiết tôi
tŕnh bày. Nào ai chủ, ai khách? Chỉ có những tâm hồn Việt nương tựa vào
nhau trong giá lạnh mùa thu Vác-xa-va . Hai cô gái của trường Cao đẳng
nghệ thuật say sưa với những bài hát về Hà Nội, cảm động nhất là bài “Về
quê” của Phó Đức Phương và “Hà Nội đêm trở gió” của Trọng Đài- Chu Lai.
Chiếc ghita mộc và người hát cũng mộc, ca từ cất lên từ con tim đồng điệu
hai tiếng quê hương.
Chương tŕnh dự
kiến hai giờ đồng hồ. Nhưng đă hơn một giờ sáng, chuyện chưa văn. Thêm
những chai bia được bật nắp. “Cạn nào, cạn nào”, “Anh Phục này, nước Hồ
Tây bây giờ thế nào ấy nhỉ?”. “C̣n chuyện Si-ghêm nữa, nhà ḿnh chuẩn bị
đến đâu rồi?”…Tôi biết các bạn tôi đây cuộc sống dù c̣n lam lũ, đơn điệu,
song t́nh cảm quê hương vẫn luôn nung nấu. Chẳng phải thiếu thông tin từ
quê nhà, hàng ngày họ vẫn xem VTV4, vẫn đọc báo chí bên nhà gửi sang (chỉ
chậm vài ngày), vẫn lên mạng “chat” cùng người thân…Nhưng chỉ một chữ “Hà
Nội” thôi vẫn muốn được nghe đi, nghe lại không nhàm tai.
Hôm tiễn tôi ra
sân bay, TL nắm chặt lấy tay tôi nói nghẹn ngào: “Anh ơi, biết đến khi nào
em mới được trở về quê hương?”. TL hỏi tôi nhưng chính TL trả lời rồi đó.
Có một ngàn lẻ lư do, người không đủ tiền mua vé để về, người từng vay nợ
trước khi đi chưa kiếm tiền trả được, người v́ hoàn cảnh riêng tư, lại có
người cứ bị ám ảnh cái vụ đi Tây mà…về tay trắng...Mùa thu Vác-xa-va đẹp
thật, nhưng hơi buồn…!
Minh Hoàn
(ghi)
Bài thơ đọc
đêm chia tay mùa thu Vác-sô-vi(*)
Tôi đi Hà Nội
đang thu
Trời xanh hương
cốm gió lơ mơ vàng
Cỏ non cũng ủ
men nồng
Níu chân lữ
khách ngại ngùng như say
Chưa lên đến
chín tầng mây
Đă hồn cố quận
mong ngày hồi hương
Mơ màng mấy khúc
tang thương
Giật ḿnh đă
thấy phi trường Đờ-gôn
Nửa háo hức, nửa
bồn chồn
Nửa vui phiêu
lăng, nửa buồn quan san
Ôi Vác-sô-vi,
giữa thu vàng
Rừng phong ngập
nắng, mây nhàn nhạt trôi
Gặp em là mộng
đấy thôi
Mộng từ ánh mắt
nụ cười mộng đi
Những ai đánh
mất xuân th́
Bừng lên khoảnh
khắc, Vác-sô-vi đang chiều
Ngẩn ngơ nhớ
bóng yêu kiều
Chập chùng bên
suối một chiều chiến khu
Mây Trường Sơn
phủ bốn mùa
Chỉ xuân ở lại
để chờ lộc non
Em đi gót đỏ như
son
Tóc xanh như lá,
tay mềm như tơ
Mấy mùa binh lửa
đă qua
Sao bây giờ lại
mùa thu bẽ bàng?
Mai tôi trở lại
cố hương…
Tháng 10- 2003
Nguyễn Khắc Phục
(*) Vác-sô-vi:
Vác-xa-va
|