WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 11/2003

Những ǵ tôi không t́m thấy ở Phi châu (*)

 

Joseph C. Wilson 4th

Có phải Chính phủ Bush lạm dụng thông tin t́nh báo về các chương tŕnh vũ khí của Saddam Hussein để biện minh cho việc xâm lăng vào Iraq?

Dựa vào kinh nghiệm của tôi với chính phủ Mĩ trong những ngày tháng trước khi cuộc chiến xảy ra, tôi chẳng c̣n bao nhiêu lí giải để phải kết luận rằng một số thông tin t́nh báo liên quan đến các chương tŕnh vũ khí hạt nhân của Iraq đă bị vặn vẹo để thổi pḥng mối đe dọa từ Iraq. 

Trong suốt 23 năm liền, tính từ 1976 đến 1998, tôi là một nhà ngoại giao chuyên nghiệp và đại sứ.  Năm 1990, lúc c̣n là một tùy viên ngoại giao ở Baghdad, tôi là nhân viên ngoại giao cuối cùng gặp Saddam Hussein.  (Tôi cũng là người thẳng thắn kêu gọi đánh đuổi Saddam khỏi Kuwait.)  Sau Iraq, tôi phục vụ trong chính phủ của Tổng thống George H. W. Bush (tức Bush cha), với chức vụ  đại sứ ở Gabon và Săo Tomé và Príncipe; dưới chính phủ của Tổng thống Bill Clinton, tôi tham gia vào việc vạch định chính sách về Phi châu cho Hội đồng An ninh Quốc gia (National Security Council).

Với kinh nghiệm của tôi về Phi châu, tôi đóng một vai tṛ nhỏ trong nỗ lực kiểm tra các thông tin về mối liên hệ giữa Phi châu và các chương tŕnh vũ khí hạt nhân của Iraq mà chính phủ từng nghi ngờ.  Có người chắc vẫn c̣n thắc mắc về những bài báo viết về phát hiện của một đặc phái viên vô danh đă đến Phi châu để điều tra về mối nghi ngờ này?  Đặc phái viên vô danh đó là tôi. 

Tháng 2 năm 2002, tôi được cơ quan CIA, qua yêu cầu của Phó tổng thống Dick Cheney, giao nhiệm vụ để điều tra về một báo cáo t́nh báo.  Lúc ấy, tôi chưa đọc bản báo cáo đó, nhưng tôi được biết rằng trong đó có một đoạn viết về một hiệp ước mà theo đó Niger sẽ bán uranium cho Iraq vào thập niên 1990s.  Nhân viên t́nh báo CIA đề nghị tôi nên đi Niger để kiểm tra xem hư thực ra sao, và báo cáo cho Phó tổng thống biết.  

Sau khi thảo luận với Vụ Phi châu thuộc Bộ Ngoại giao (và với Barbro Owens-Kirkpatrick, đại sứ Mĩ tại Niger), tôi đồng ư lên đường sang Niger công tác.  Nhiệm vụ của tôi không có ǵ bí mật.  Chuyến đi do CIA tài trợ.  Tôi cũng nói rơ cho mọi người mà tôi gặp biết rằng tôi đại diện chính phủ nước Mĩ.   

Cuối tháng 2 năm 2002, tôi đến Niamey, thủ đô Niger, nơi mà tôi từng là một nhà ngoại giao từ thập niên 1970s, và từng làm việc với tư cách là chuyên viên của Hội đồng An ninh Quốc gia trong thập niên 1990s.  Thành phố Niamey chẳng thay đổi mấy so với những ǵ tôi c̣n nhớ.  Gió mùa bít kín bầu trời với bụi và cát.  Xuyên qua gió bụi mịt mù, tôi có thể thấy nhiều đoàn lữ hành do lạc đà kéo băng ngang qua cầu John F. Kennedy (cầu này bắt ngang sông Niger), và mặt trời dần lặng đằng sau đoàn lữ hành.  Phần lớn đoàn người lữ hành quấn khăn quàng (scarf) phủ kín mặt để chống lại cát bụi, họ chỉ để lộ cặp mắt.   

Sáng hôm sau, tôi gặp Đại sứ Owens-Kirkpatrick tại Ṭa đại sứ.  V́ những lí do có thể hiểu được, nhân viên Ṭa đại sứ theo dơi việc buôn bán uranium của Niger rất sát.  Tôi không ngạc nhiên mấy khi bà đại sứ cho tôi biết rằng bà biết về lời tố cáo Niger bán uranium cho Iraq, và bà cảm thấy bà đă vạch trần sự lừa dối này trong báo cáo mà bà gửi về Washington rồi.  Tuy thế, tôi và bà đồng ư rằng thời gian của tôi sẽ dành để phỏng vấn các quan chức trong chính phủ để biết xem cuộc buôn bán đó, nếu có, xảy ra vào lúc nào.  

Tôi dành ra 8 ngày sau đó uống trà ngọt và gặp gỡ nhiều người: từ các quan chức trong chính phủ hiện nay, đến các cựu quan chức trong chính phủ trước, và những  nhân vật có dính dáng đến kĩ nghệ uranium.  Tôi chẳng cần thêm th́ giờ để đi đến kết luận rằng cái gọi là việc buôn bán uranirum cho Iraq là hết sức đáng nghi ngờ. 

Với hệ thống công ti khai thác hầm mỏ và quản lí của chính phủ ở Niger, bất cứ việc buôn bán uranium cho Iraq không dễ ǵ tiến hành.  Kĩ nghệ khai thác uranium ở Niger gồm có hai mỏ: Somair và Cominak.  Hai mỏ này do các công ti Pháp, Tây Ban Nha, Nhật, Đức và Niger quản lí.  Nếu ai đó muốn chuyển uranium từ một mỏ, họ cần phải thông báo cho các công ti này, và phải thông qua cơ quan năng lược quốc tế, International Atomic Energy Agency.  Hơn thế nữa, v́ hai mỏ này chịu dưới sự quản lí gắt gao của các cơ quan chính phủ và phi chính phủ, việc buôn bán uranium cần phải có sự chấp thuận của bộ trưởng hầm mỏ, và phê chuẩn của thủ tướng hay tổng thống.  Nói một cách ngắn gọn, hệ thống quản lí và kiểm soát uranium ở Niger quá chặt chẽ và cồng kềnh để tiến hành bất cứ một sự buôn bán uranium cho bất cứ nước nào.  

 (C̣n cái Giác thư (memorandum) th́ tôi chưa bao giờ thấy nó.  Nhưng nhiều nguồn tin cho biết nó có nhiều lỗi lầm sơ đẳng.  Chẳng hạn như người kí tên trong đó là những quan chức không c̣n phục vụ trong chính phủ.  Có thể văn thư này do ai đó giả tạo.  Và chính phủ Niger đă chính thức phủ nhận văn thư này.) 

Trước khi tôi rời Niger, tôi có hội kiến với bà đại sứ về những phát hiện của tôi, những phát hiện nhất quán với bà đại sứ.  Tôi cũng chia sẻ những kết luận của tôi với nhân viên của ṭa đại sứ.  Đầu tháng Ba, tôi về lại Washington và lập tức viết một báo cáo chi tiết về công tác và phát hiện của tôi ở Niger cho CIA.  Sau đó, tôi chia sẻ kết luận của tôi với Vụ Phi châu của Bộ Ngoại giao.  Không có ǵ bí mật hay mới lạ trong báo cáo của tôi, cũng như chẳng có ǵ bí mật về chuyến công tác của tôi. 

Ngoài ra, có ít nhất là 4 tài liệu trong Văn khố chính phủ Mĩ nhất quán với kết luận của tôi.  Những tài liệu này là bản báo cáo của đại sứ Mĩ tại Niamey, báo cáo của nhân viên ṭa đại sứ, báo cáo của CIA về chuyến đi của tôi, và một trả lời cụ thể của CIA cho văn pḥng của Phó tổng thống (trả lời này có thể là bằng lời nói mà không qua văn bản).  Tuy chưa thấy các báo cáo này, tôi đă ở trong chính phủ lâu và hiểu những thủ tục chuẩn này.  

Tôi nghĩ câu chuyện [Niger bán uranium cho Iraq] coi như đă rồi.  Khóa sổ.  Tôi sẵn sàng trở lại cuộc sống b́nh thường của tôi.  (Tôi từng tham gia vào cuộc tranh luận chung quanh vấn đề Iraq và đề nghị một chính sách khống chế chế độ Saddam và đe dọa bằng vũ lực, thay v́ xâm lăng Iraq.)  Tuy nhiên, Tháng Chín năm 2002, câu chuyện Niger tái xuất hiện trên mặt báo.  Chính phủ Anh công bố một “Tài liệu trắng” (white paper) cho rằng Saddam Hussein và các vũ khí phi chính thống của ông ta là một mối đe dọa.  Trong tài liệu này có một đoạn văn cho rằng Iraq cố gắng mua uranium từ một nước Phi châu (không nói tên) để sản xuất vũ khí hạt nhân.   

Thế rồi, vào tháng Giêng năm 2003, Tổng thống Bush, trích dẫn tài liệu của Chính phủ Anh, lặp lại lời tố cáo rằng Iraq mua uranium từ Phi châu. 

Ngày sau đó, tôi liên lạc một người bạn ở Bộ Ngoại giao nhắc lại chuyến công tác của tôi ở Niger và đề nghị anh ta xét lại xem cái “nước Phi châu” mà Tổng thống Bush đề cập đến có phải là Niger hay không, và nếu đó là Niger th́ phát biểu của Tổng thống Bush không đúng với sự thật trong báo cáo của tôi.  Anh bạn tôi trả lời rằng có lẽ Tổng thống đề cập đến một trong 3 nước Phi châu khác cũng sản xuất uranium: Gabon, South Africa hay Namibia.  Lúc đó, tôi chấp nhận lời giải thích của anh bạn.  Tôi không biết rằng vào tháng 12, một tháng trước khi Tổng thống Bush đọc bài Diễn văn Liên bang, Bộ Ngoại giao đă công bố một tài liệu thật (sheet of facts) đề cập đến Niger. 

Đó là những sự thật về công tác của tôi.  Văn pḥng phó tổng thống đặt một câu hỏi nghiêm trọng.  Tôi được yêu cầu t́m câu trả lời.  Tôi đă t́m câu trả lời, và tôi tin vào câu trả lời của tôi.  Tôi tin từng chữ và từng câu văn trong câu trả lời mà tôi đă cung cấp và lưu truyền trong các quan chức chính phủ.  

Bây giờ, vấn đề đặt ra là: tại sao giới lănh đạo chính trị dùng (hay không dùng) câu trả lời của tôi.  Nếu thông tin của tôi bị đánh giá là không chính xác, tôi hiểu (dù tôi rất muốn biết tại sao không chính xác).  Nhưng, nếu thông tin của tôi chính xác và bị lờ đi v́ nó không ăn khớp với những định kiến về Iraq, th́ một lí giải khác được đặt ra là chúng ta gây chiến bằng những lí do không thành thật. (Cần nhớ rằng trong cuộc trả lời phỏng vấn vào tháng Ba trong chương tŕnh "Meet the Press", Ông Cheney nói rằng Saddam Hussein ‘một lần nữa t́m cách sản xuất vũ khí hạt nhân’.")  Ít ra, Quốc hội, cơ quan phê chuẩn việc dùng biện pháp quân sự qua sự yêu cầu của Tổng thống, nên t́m hiểu xem những phát biểu về Iraq đúng hay sai.  

Tôi đoan chắc rằng trước khi gây chiến, mối đe dọa về vũ khí tàn phá hàng loạt của Saddam Hussein cần một phản ứng quyết liệt và lâu dài của cộng đồng thế giới để giải giới ông ta.  Iraq từng có và từng dùng vũ khí hóa học; Iraq cũng từng có một chương tŕnh sản xuất vũ khí sinh học và có thể có cả chương tŕnh sản xuất vũ khí hạt nhân – tất cả những việc làm này vi phạm các hiệp ước của Liên hiệp quốc.  Tôi từng chạm trán ông Hussein và những tên ác ôn trong chính phủ ông trước cuộc chiến vùng Vịnh vào năm 1991, tôi hoàn toàn biết được những nguy hiểm từ ông ấy.  

Nhưng những nguy hiểm đó có ghê gớm như chính phủ nói cho chúng ta không?  Chúng ta phải t́m cho ra câu trả lời.  Chính sách ngoại giao của Mĩ dựa vào của thông tin một cách thiêng liêng.  V́ lí do này, chất vấn việc sử dụng thông tin t́nh báo một cách phiến diện để lấy cớ gây chiến tranh ở Iraq không phải là một sự cắt xén, càng không phải là một lịch sử xét lại – “revisionist history,” như ông Bush tuyên bố.  Đối với một chế độ dân chủ, chiến tranh là sự lựa chọn cuối cùng.  Chính phủ dân chủ chỉ tiến hành chiến tranh khi nào an ninh của nền dân chủ bị đe dọa nghiêm trọng.  Hơn 200 binh lính Mĩ đă bỏ mạng ở Iraq.  Chúng ta có nhiệm vụ bảo đảm sự hi sinh của họ thật sự v́ những lí do đúng đắn.

 (*) Nguyễn Văn lược dịch từ bài viết “What I Didn't Find in Africa” của Joseph C. Wilson 4th, đăng trên mục “Opinion” (Ư kiến) tờ New York Times, số ra ngày 6 tháng 7 năm 2003.  Ông Wilson từng là đại sứ Mĩ ở Gabon từ năm 1992 đến 1995, và nay là một cố vấn thương mại quốc tế.

Bài trong tháng

Bon đạn và chiến tranh tậm lí
Bring 'em On
Buồn bă với những môi hôn_Cao Huy Thuần
Bùi Tín và vấn đề thông tin
Bảo tồn môi sinh: Chiến tranh giữa hai thế giới
Bộ gen trong cây lúa và triển vọng
Chiến tranh
Chiến tranh trên sự thật
Chuyến tàu nửa đêm
Chú Sam nổi giận
Cá mập ở Washington
Cầu ṿng nguy hiểm
Cổ máy
Cứu trợ nhân đạo?
DDT và vấn đề cân đối giữa lợi ích và nguy hiểm
Deception and Propaganda within the Vietnamese Community in Australia
Di chỉ khảo cổ học về giai đoạn "Hậu đồ đá mới"
Elite U.S. Unit Killed Hundreds of Vietnamese Civilians, Report Says
Hành tŕnh ngược chiều
Hóa chất khai hoang trong cuộc chiến Viện Nam: Qui mô và tầm ảnh hưởng
Hướng dẫn việc t́m kiếm thông tin sức khoẻ trên hệ thống thông tin liên mạng (internet)
Hồ sơ Phật Giáo Việt Nam
Hội chứng phi Việt Nam
Joseph Wilson - Những ǵ tôi không t́m thấy ở Phi châu
Khoa học, xă hội, và rủi ro
Kể chuyện mùa thu Vác-xa-va
Luận kiếm bên bờ giếng
Ly trà thời đại
Một bí mật bị chôn vùi
Ngô Đ́nh Diệm - Bảy nguyên nhân thất bại
Người cao tuổi và sự hạn chế của y khoa
NGỘ ĐỘC” (NƯỚC) CỦ DỀN-NỖI OAN THỊ KÍNH
Ngụy trí thức ?
Nhân đọc "Từ điển Văn học Việt Nam"
NHẬN DIỆN THÀNH PHỐ QUẢNG CHÂU HÔM NAY, NƠI CỐ ĐÔ PHIÊN NGUNG NƯỚC NAM VIỆT NGÀY XƯA
Nhật kư Fansipan
Nhật Thực
Những tên nói láo hay nhất thế giới
Những điều vô lí của chiến tranh
Phát hiện mới về thành Thăng Long
Phát hiện mới ở Sa Huỳnh
Phỏng vấn Nguyễn Hữu Đống
Quyền phủ quyết LHQ
Ramonet - Dối trá do nhà nước bảo trợ
Sân khấu thiện và ác
Sư tử trùng (01): Thay lời tựa
Sư tử trùng (02): Chuyện năm cũ và nguyện năm mới
Sư tử trùng (03): Ḥa Thượng có phải là phật tử xuất gia?
Sư tử trùng (04): Về một chuyện xưa rất mới
Sư tử trùng (05): Úm ba la, chúng ta cùng lên tiếng
Sư tử trùng (06): Thượng thủ pháp sư bội chủ
Sư tử trùng (07): Quyền làm người nô lệ
Sư tử trùng (08): Thầy Nhất Hạnh: nạn nhân đầu tiên và cuối cùng?
Sư tử trùng (09): Mượn sư cúng thần liên tôn
Sư tử trùng (10): Nẳm vùng_Giới Tử
Sư tử trùng (11): Giáo hội và giáo hội
Sư tử trùng (11): Quanh Sự hi sinh của huynh trưởng Hồ Tấn Anh
Sư tử trùng (13): Ḥa thượng phải nhờ "Việt cộng"
Sư tử trùng (14): Cơn Băo Trong Chén Trà
Sư tử trùng (15): Những Điều Trông Thấy_Giới Tử & Tâm Quán
Sư tử trùng (16): Vơ Văn Ái_Ch́m Xuồng Níu Phao
Sự im lặng của nghĩa đại cổ trên núi A Mang
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Thiền định dưới ánh sáng khoa học
Thái độ của một số người Việt hải ngoại trước cuộc chiến Iraq và dịch SARS
Trăm năm trong cơi người ta
Tôn giáo và quan điểm tiến hóa
Tạo sinh vô tính và cái chết của Thượng đế
Tạo sinh vô tính và vấn đề sinh đạo đức
Tản mạn nhân vụ 9/11
Tản mạn về SARS
Từ những phát hiện mới về thành Thăng Long
Ung thư vú và vấn đề thông tin y khoa
Vấn đề y đức trong nghiên cứu tế bào mầm (stem cells)
Why I hate George W. Bush.
Yếu tố tôn giáo trong cuộc đụng độ giữa Mĩ và Iraq
Điểm sách "Từ thù đến bạn" của Bùi Tín_Nguyễn Văn
Đu đủ và thai nghén_Sự thật hay truyền thuyết?
Đậu nành và sức khỏe: đâu là thực và đâu là giả
Đọc "Phồn hoa kinh" của Hoàng Nguyên Nhuận_Nguyễn Văn
Đọc "Weapons of Mass Deception": Vũ khí lừa dối hàng loạt_Nguyễn Văn
Đọc sách “Secrets” của Daniel Ellsberg (*): Lừa dối và vỡ mộng_Nguyễn Văn
“Vietnamese Engaged Buddhism: The Struggle Movement of 1963-1966”

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE