|
Vài hàng ghi thêm: Chúng tôi
nhận được bài sau đây từ một người bạn qua đường internet. Rất tiếc là
chúng tôi không biết bài này đă đăng ở đâu hay lúc nào, và cũng không liên
lạc được với tác giả. Thấy bài viết thú vị và bổ ích, chúng tôi mạn
phép tác giả đăng lại trên trang nhà này. Mong tác giả Trương Quang
thông cảm.
NHẬN DIỆN
THÀNH PHỐ QUẢNG CHÂU HÔM NAY,
NƠI CỐ ĐÔ PHIÊN NGUNG NƯỚC NAM VIỆT NGÀY XƯA
Trương Quang
Chuyến bay nội địa
Trung Hoa rời phi trường Hoàng Châu, vượt 2230 Km trong 1 giờ 40 phút, đưa
đoàn du lịch 26 người bước xuống phi cảng. Bạch Vân củ thành phố Quảng
Châu giữa trưa ngày 24/01/2003.
Phi cảng quốc tế Bạch
Vân (Baiyum) vốn đă lớn rộng, trước mắt chúng tôi con đường xây cất và
giải tỏa ngoại vi trongb kế hoạch phát triển thành sân bay hiện đại nhất
của Trung Quốc vào tháng 10/2003. Đến hôm nay, nếu so sánh với các phi
cảng quốc tế trong vùng Đông Nam Á về số lượng hành khách và số lần tiếp
nhận phi cơ quốc tế th́ phi cảng Bạch Vân khấm khá hơn các phi cảng Pudoug
(ở Thượng Hải), Kuala Lumpur (Malaisia) và Tân Sơn Nhất (Việt Nam); tương
đương với các phi cảng Inchon (ỏ Hán Thành), Narita (Nhật Bản), Hồng Kông
International Airport và Don Muang ( Bangkok), nhưng khó có thể bắt kip
phi cảng Changi ở Singapore cả về phẩm và lượng (CT: Changi là sân bay
sạch, đẹp và an ninh nhất thế giới, mỗi năm tiếp nhận 40 triệu hành khách,
nơi hạ cánh của 60 hảng hàng không, có đường bay tới 146 địa điểm trên
hoàn vũ). Phi cảng Bạch Vân đă từng tiếp đón đại hội thể dục thể thao toàn
quốc lần thứ 9 vào năm 2000.
Đi tham quan, dù rất ít
ỏi, những di tích và thắng cảnh trên một đất nước rộng đến 10 triệu cây số
vuông, buộc chúng tôi phải tính toán thời gian và phương tiện di chuyển
thật khít khao. Tuần trước, trên đường dài 1850 km từ Bắc Kinh đi Thượng
Hải, chúng tôi lợi dụng chuyến tàu lửa ban đêm để được ngon giấc trên toa
giường trên lộ tŕnh 14 giờ. Tuần này, chỉ vợ tôi và tôi lợi dụng những
giờ tự do mua sắm riêng và giờ ăn cơm chung ở nhà hàng để đến viếng những
nơi không ghi trong lịch tŕnh du lịch, như nhà kỷ niệm Tôn Văn, mộ phần
Phạm Hồng Thái và viện Bảo tàng lăng mộ Nam Việt Vương, sau khi đă điều
nghiên trên bản đồ và tư liệu. Chủ đích của người viết là quảng bá 2 di
tích lịch sử Việt Nam tại nước ngoài.
Thành phố Quảng Châu là
thủ phủ tỉnh Quảng Đông, là cửa ngơ lớn của miền Hoa nam, có đường biên
giới chung với miền Bắc Việt Nam. Diện tích T.p. Quảng Châu là 7.435km²,
chia thành 8 khu 8 huyện với dân số 6.580.000 người. Đây là thành phố có
nhiều Hoa kiều đang lập nghiệp khắp nơi trên thế giới.
Quảng Châu thuộc vùng
khí hậu nhiệt đới gió mùa như khí hậu Việt Nam. Nhiệt độ b́nh quân cả năm
21°7C (tức 69°F), mùa hè có gió mát, mùa đông không quá lạnh. Địa thế thấp
dần về tây-nam, bắc nhiều núi non, đông là thung lũng và những dải đồi
thấp, nam là đồng bằng phù sa của châu Tam giác sông Châu giang.
Thành phố Quảng Châu đă
có 3000 năm lịch sử với tên gọi đầu tiên là Phiên Ngung. Khi nhà Tần khống
chế được dân Bách Việt trên địa bàn miền Nam Việt bèn lập Phiên Ngung làm
lỵ sở vùng Lĩnh Nam. Sang đầu nhà Hán, Triệu Đà cắt cứ vùng Lĩnh Nam đặt
tên nước là Nam Việt, đóng đô tại Phiên Ngung mang tên là thành Việt. Đến
thời Tam quốc, nước Ngô bá chiếm vùng Lĩnh Nam, lập quận Giao Châu. Nước
Ngô tu sửa thành Việt ở Phiên Ngung, dời thủ phủ của châu từ huyện Quảng
Tín về Phiên Ngung. Từ đó Phiên Ngung có tên là Quảng Châu.
Thời cổ, Quảng Châu c̣n
có những tên khác như Sử Sở đ́nh (tức trung tâm quyền lực của nước Sở),
Dương thành ( tức thành phố con dê). Nguyên do từ chuyện thần thoại có 5
thần nhân bận y phục ngũ sắc mỗi vị một màu, cưỡi trên 5 con dê màu lông
khác nhau, mang theo ống sáo có chứa 6 loại ngũ cốc và hoa quả, đem lại
cho dân chúng trong vùng những mùa luá bội thu và hoa quả phong phú. Ngày
nay, để cầu mong sự sung túc như thần nhân đă ban ơn phước, nên trong công
viên Việt tú xinh đẹp có tượng 5 con dê rất vĩ đại, là biểu tượng cho
thành phố Quảng Châu. Ở một cảnh trí khác gần tượng 5 con dê là một bức
bích họa về sinh hoạt nông trang với vũ hội ngày được mùa, được chạm trổ
trên bức tường đá dài hàng trăm mét bên vách núi. Hôm ấy, cô hướng dẫn
viên đă chỉ lên giỏ trái vải trong hoạt cảnh trên đá và diễn ngâm 2 câu
thơ (có mấy ai nghe được tiếng quang thoại?), tôi phải yêu cầu cô viết ra
Hán tự, xin ghi phiên âm và tạm dịch:
Nhất kỵ hồng trần phi tử tiếu
Vô nhân tri thị lệ chi lai.
(Bụi cuốn dặm ngh́n, cười nụ vương phi,
Nào ai hay kỵ mă hiến lệ chi)
Hai câu thơ không chỉ
nhắc đến trái vải ngon ngọt của Hoa nam mà c̣n nhắc laị x́ căng đăng” nơi
cung điện dẫn đến biến loạn thảm khốc. Tướng An Lộc Sơn phi ngựa ngày đêm
bụi lốc, mang trái lệ chi vào cung hiến dâng cho Dương Quí Phi là bà mẹ
nuôi mà ông từng yêu trộm. Đến năm 755, quan Tiết độ sứ An lộc Sơn làm
phản, chiếm Lạc Dương rồi tiến chiếm kinh đô Trường An để chiếm lấy Dương
Quí Phi. Vua Đường Huyền Tôn đă quá mê say nàng, bỏ kinh thành đem nàng
theo, chạy vào đất Thục. Chạy đến Mă Ngôi, tướng sĩ ép vua phải xử thắt cổ
giết Dương Quí Phi xong, mới tiếp tục chạy loạn.
Bốn loại hoa quả ngon
nổi tiếng vùng Lĩnh nam gồm: vải, cam, dứa, chuối tiêu. Ngoài ra, nơi đây
c̣n là quê hương đu đủ, nhăn, khế quưt. Hoa tươi, rau xanh, thủy sản phẩm
của Quảng Châu được bán rộng răi trên toàn quốc và xuất khẩu.
Quảng Châu c̣n có tên là “thành phố HOA”, ở đây có hơn 60 giống hoa, từ
hoa hồng, kim cát, dạ hương, mễ lan... nở rộ cả bốn mùa nhờ khí hậu thích
hợp. Mộc miên được goị là “thị hoa” của thành phố Quảng Châu. Hàng năm, cứ
đến mùa Xuân, du khách trên thế giới lại nghĩ về “thành phố HOA” như một
điểm hẹn đầu tiên.
Ngày nay, Quảng Châu là
thành phố du lịch nổi tiếng, có nhiều khách sạn 5 sao đúng tiêu chuẩn quốc
tế. Chúng tôi lưu ngụ tại khách sạn Lido hotel (âm Việt đọc là Lạc đô)
hạng 3 sao với 30 tầng, tại số 182 đường Bắc kinh, cũng đă thấy tiện nghi
và lịch sự lắm rồi! Tất cả các đểm tham quan đều có bán vé vào cửa cho du
khách. Những khu vực cảnh trí ngoạn mục đáng kể như Bạch vân sơn la cương,
Liên hoa sơn (núi hoa sen), suối nước nóng Tùng hoa... Nhất là Dương thành
bát cảnh được xây dựng từ thời Tống. Năm 1986 Dương thành bát cảnh được
b́nh chọn là thắng cảnh quốc gia với lời giới thiệu: “Mây núi như giải lụa
gấm, nước xanh trong như pha lê, sóng lấp lánh dưới ánh mặt trời, động như
rồng, rừng như ngọc, lầu đài nguy nga. Mỗi cảnh mộ tên như Hồng lĩnh nhật
xuất, Hoàng hoa hào khí, Lưu hoa vương vũ, Hoàng phố vân tường”
Về ẩm thực, Quảng Châu
đă sớm nổi tiếng về cách ăn ngon, rất được ưa chuộng ở trong và ngoài
nước. Món ăn Quảng Châu là đại biểu cho món ăn Việt, là 1 trong 8 vùng có
nghệ thuật ẩm thực đặc sắc. Nguyên liệu trong món ăn chính là ngũ cốc, hoa
quả với các loại rau và cá thịt tươi mới, phải quen chọn lựa về phẩm chất
hơi cầu kỳ. Phối liệu và gia vị tinh tế cho hương vị thơm ngon, mềm dẻo,
gịn, có chút cay với cách tŕnh bày vào bát đĩa và đặc biệt trên bàn khéo
léo, làm cho món ăn Quảng Châu mang đầy đủ ư thơ nét họa, thể hiện rơ bản
sắc và phong vị của văn hóa Lĩnh nam.
Địa lư thiên nhiên của
Quảng Châu khá thuận lợi. Đây là thành phố hải cảng kiêm giang cảng v́ vừa
nằm gần bờ biển Nam hải, vừa là nơi hội tựu của 3 con song Bắc giang, Đông
giang và Tây giang cùng chảy ra cửa biển Hổ môn (sông Tây giang có 2 phụ
lưu là sông Bằng giang và sông Kỳ cùng chảy qua 2 tỉnh Cao bằng và Lạng
sơn nước ta).
Sông Châu giang là con
sông lớn thứ tư ở Trung quốc, chảy xuyên qua thành phố Quảng Châu, có nơi
tạo ra vùng nước mênh mông như biển hồ. Đây là nơi liệt sĩ Phạm Hồng Thái
của Việt Nam đă từ trần sau khi thực hiện sứ mạng cứu quốc. Có đến 11 cây
cầu và 2 đường hầm nối liền đôi bờ Châu giang trong nội thành Quảng Châu.
Ban đêm, đi du thuyề trên sông Châu giang như lạc vào thế giới kỳ ảo: gió
mơn man theo tiếng sóng vỗ ŕ rào, trăng sao trên trời rơi đáy nước, đèn
sáng lung linh muôn màu trong trong tán cây lá ven bờ, trên cao ốc và
chuyển động trên đường.
Đường phố Quảng Châu
rộng răi, hiếm khi bị kẹt xe tắc nghẻn lưu thông, có nhiều công viên và
nhiều cây xanh tạo nên sự thoáng mát. Số lượng xe ô tồ bằng ngang với số
lượng xe đạp lưu hành đồng thời trên đường, trong đó số lượng xe taxi khá
lớn, được xem là phương tiện di chuyển của thị dân và du khách. Quảng Châu
là ḷ sản xuát xe gắn máy 2 bánh đời mới, xuất cảng hàng triệu chiếc mỗi
năm ra các nước lân cận., nhưng chính nơi đây lại ít xe gắn máy, là điều
đáng ngạc nhiên.
Quảng Châu mở cửa giao
lưu với ngoại quốc từ thời Trung cổ dưới triều đại Tần, Hán đă rất phồn
thịnh. Đặc sản qui hiếm vùng nhiệt đới như ngà voi, tê giác, đồi mồi, châu
ngọc, nhiều loại trái cây, nhất là lúa gạo từng nổi tiếng trên thị trường
đa quốc gia. Thời Tần đă có tuyến đường biển Quảng Châu chạy thẳng đến
vùng Đông nam Á và cả Nam Á. Đời Đường, giao thông và mậu dịch đối ngoại
của Quảng Châu đă phát triển mạnh mẽ, trở thành thương cảng lớn nhất, là
điểm xuất phát tuyến đường tơ lụa trên biển của Trung quốc.
Dưới chế độ cọng ḥa
nhân dân Trung hoa, từ thời Mao trạch Đông theo chính sách kinh tế tập
trung, đà phát triển bị đ́nh đốn v́ cung và cầu đều do Đảng cộng sản chỉ
huy ở mục tiêu tự cấp tự túc, do đó ngành thủ công nghiệp và giao thông
nội địa của Quảng Châu thay thế hẳn ngành ngoại thương. Từ năm 1979, dưới
thời Đặng tiểu B́nh theo chính sách kinh tế mở cửa, chính phủ Trung Hoa
cho xây dựng ở tỉnh Quảng Châu 2 đặc khu kinh tế Thẩm quyến và Chu hải
cùng với trung tâm mậu dịch đối ngoại của toàn quốc. Nh́n những thuận tiện
địa lư, ai cũng nhận thấy toàn vùng đặc khu kinh tế hợp thành quần thể
kinh tế mạnh nhất Trung hoa, bao gồm:
Thành phố Chu hải nằm ở
bờ tây Châu giang, phía đông cách Hồng kông 36 hải lư (đảo Quế sơn ở phía
đông Chu hải chỉ cách Hồng kông 3 hải lư), phía nam giáp Ma cao, phía bắc
giáp tam giác Châu giang ph́ nhiêu quay mặt ra Nam Hải.
Thành phố Thẩm quyến
nằm phía nam tỉnh Qủang đông, phía đông giáp vịnh Đại á, phía tây liền với
cửa sông Châu giang, phía bắc giáp thành phố Đông hoàn huyện Huệ dương,
phía nam cách Cửu long, Tân giới của Hồng kông một con sông.
Hồng kông (chữ Hán Việt
là Hương cảng) đă thâu hồi chủ quyền từ người Anh ngày 1-7-1997 và thiết
lập khu hành chánh đặc biệt, được giữ nguyên chế độ chính trị cũ. Hồng
kông là thành phố công thương nghiệp hiện đại, nằm ở bờ biển đông nam tỉnh
Quảng đông, ngay phía đông cửa sông Châu giang.
Ma cao được thu hồi chủ
quyền từ Bồ đào Nha ngày 20-12-1999 và được thiết lập khu hành chánh đặc
biệt thuộc quyền quản lư của chính phủ trung ương. Ma cao nằm phía tây nam
cửa sông Châu Giang. Thời cổ Ma Cao có tên là Hào Kính Áo, từ Hán Việt gọi
là Áo môn.
Năm 1982, Quảng Châu
được Quốc hội Trung hoa phê chuẩn là 1 trong 24 thành phố lịch sử văn hóa,
và tháng 3 năm 1984 có tên trong 14 thành phố mở cửa ven biển. Do vị trí
địa lư được thiên nhiên ưu đăi, nên hiện nay thành phố Quảng Châu có vốn
đầu tư nước ngoài đứng đầu Trung quốc. Hầu hết các ngành công nghiệp đều
có liên doanh với nước ngoài, đă đưa nền công nghiệp nhẹ làm chủ thể, phát
triển lên thành công nghiệp cơ khí toàn diện. Quảng Châu nghiễm nhiên trở
thành trung tâm công nghiệp miền Hoa nam với 10 ngành công ngiệp kỹ nghệ
tiên tiến: ngành chế tạo thiết bị giao thông vận tải, ngành chế tạo vật
dụng điện khí laser, ngành chế tạo thiết bị điện tử thông tin, các cơ
xưởng sản xuất ô tô, máy móc, nguyên liệu và sản phẩm hóa học, các khu chế
xuất y dược, thực phẩm, may mặc, chế phẩm cao su, plastic...
Quảng Châu vốn là thành
phố thương mại tổng hợp với nền kinh tế thị trường rấtt sôi động, những
năm gần đây đă h́nh thành nhiều khu phố thương nghiệp đa dạng rất đặc sắc
như ở đường Giáo dục, đường Tây hồ, Hoàng cương, phố lớn Sa há... chuyên
doanh những mặt hàng thời trang, bách hóa. Trên đường Trường thọ và phố
Tân thắng có rất nhiều cửa hàng vàng bạc, đá quí, đồ trang sức. Nếu muốn
mua đồ sành sứ, hoa tươi... th́ đến đường khởi nghĩa, đường Đại nam. Trong
những ngày và đêm gần đến tết Nguyên đán năm Quí mùi (năm 20030, suốt đại
lộ Bắc kinh biến thành chợ Tết sầm uất với muôn vẽ muôn màu ngay trên mặt
đường, đủ mọi hoa quả cây cảnh, pháo tràng liên đối, bánh mứt cầu kỳ...
Ngay đến các siêu thị nhiều tầng ở hai bên đường cũng đầy ắp y phục thời
trang, hàng trang trí nội thất, hàng tiêu dùng cao cấp... Cùng lúc ấy,
không ít người nhớn nhác bày mấy món hàng trên tấm bao tải ở lề đường mời
mọc người mua. Khi cảnh vệ đến, họ tóm gọn cả vào bao, lẩn vào đám đông
rồi lại bày bán hàng ở lề đường nơi khác. Đó là một kiểu chợ Tết Quảng
Châu, cùng ḷ với kiểu Chợ lớn, Việt Nam.
Cũng vào dịp này, tôi
được chứng kiến cảnh dân chúng hàng hàng lớp lớp trêm mấy dậm đường, kéo
nhau về quảng trường nhà ga xe lửa Quảng Châu để chực mua vé, đáp tàu về
quê ăn Tết. Tôi cảm thấy choáng ngợp trước rừng người, dù là một góc rất
nhỏ trong số 1 tỷ 300 triệu của Trung hoa. Đặc biệt, trên nóc ṭa nhà ga
xe lửa, hai bên có 2 câu khẩu hiệu nổi rơ lên nền trời: “Thống nhất tổ
quốc và chấn hưng Trung hoa”. Đây là 2 câu quyết tâm được dựng lên trước
năm 1997, khi Trung quốc cổ vũ đ̣i lại chủ quyền ở nhượng địa Hồng kông.
Ngoài nơi nầy ra, tôi không trông thấy một câu khẩu hiệu nào, một h́nh ảnh
hay pho tượng lănh tụ cộng sản nào tại Thành phố Quảng Châu hôm nay. Trước
đây vài thập niên Trung Hoa là đất nước tràn ngập hồng kỳ, chân dung Mac
Lê Mao và khẩu hiệu đại ngôn giăng khắp mọi nẻo đường. Hôm nay, cũng vẫn
tên gọi Cộng ḥa nhân dân Trung Hoa nhưng da thịt đă đổi mới, vẫn là chủ
nghĩa Cộng sản nhưng theo nhận biết của tôi th́ không t́m thấy cộng sản
c̣n ẩn tàng nơi đâu, ngoài lá cờ 5 sao c̣n ngự trị trên cộtt cờ ở công sở.
Quảng Châu đă mở toang
cánh cửa từng khép kín, không phân biệt: mèo đen mèo trắng”. Nơi đây là
đầu mối giao thông trong cả 3 lănh vực: đường thủy, đường bộ và đường hàng
không của miền Hoa nam. Rất nhiều tuyến quốc lộ, liên tỉnh chia ra thành
mạng mưới đường bộ về muôn ngả. Các tuyến đường sắt Bắc nam và chạy trực
tiếp đến các thành phố lớn trên toàn quốc. Giao thông đường thủy trên sông
đi thông suốt đến các bến cảng của các sông Đông giang, Bắc giang, lấy
Châu giang làm thủy lộ chính yếu. Giao thông đường biển nối liền với 600
cảng lớn trên thế giới. Sân bay Bạch vân (đă đề cập ở đầu bài) sẽ trở tành
sân bay quốc tế lớn nhất trong số những sân bay quốc tế của Trung Hoa.
Quảng Châu c̣n có khu triển lăm hội chợ hàng hóa xuất khẩu lớn nhất thế
giới.
Từ xa xưa, nền văn hoa
Lĩnh nam để lại cho Quảng Châu nét độc đáo với nhũng di tích lịch sử, văn
vật cổ mang đậm bản sắc dân tộc như: chùa Quang hiếu là ngôi chùa phật
giáo được xây dựng vào thời Đông Tấn, chùa Hoàn thánh và Tháp quang được
xây dựng vào đời Đường là công tŕnh theo thể kiến trúc của đạo Hồi. Quảng
Châu là thành phố có lịch sử đấu tranh chống đế quốc và phong kiến c̣n
được ghi như sau: nhà bia kỷ niệm nhân dân chống đế quốc Anh ở Tam nguyên
lư, Hoàng hoa cương nơi vinh danh 72 liệt sĩ, nhà kỷ niệm Tôn Văn, di tích
trường Vơ bị Hoàng phố v..v.. Riêng về phần mộ liệt sĩ Phạm Hồng Thái và
Bảo tàng viện Nam Việt vương, có liên hệ trực tiếp với Việt Nam sẽ được
ghi nhận rơ ràng hơn. Quảng Châu là nơi dung trú các nhà cách mạng Việt
Nam trong các phong trào Cần vương, Văn thân, Đông du c̣n lưu lại những cơ
sở dùng làm lớp học hay trụ sở. Cụ Phan Bội Châu có thời hoạt động ở Quảng
Châu dài nhất trong số những người yêu nước Việt Nam dừng chân lại thành
phố này.
Nhà kỷ niệm Tôn Văn
Bác sĩ Tôn Văn, hiệu
Trung Sơn, người huyện Trung sơn, tỉnh Quảng đông, là thủ lănh cách mạng
dân chủ Trung hoa mà quốc dân tôn vinh là đấng từ phụ. Tôn chỉ vận động
cách mạng cũa Tôn trung sơn là: khôi phục Trung Hoa, diệt trừ Măn thanh,
lập dân quốc, b́nh quân địa quyền. Thị xă Quảng Châu là mục phiêu thứ nhất
trong chương tŕnh hành động cách mạng nầy.
Sau cách mạng Tân hợi
(1911), Tôn trung sơn nhận chức Đại Tổng Thống ở Nam kinh (tức Kim lăng,
thuộc tỉnh Giang Tô) Từ 1911 đến 1949, Nam kinh là thủ đô chính của Quốc
dân đảng. Ông mất tại Bắc kinh năm 1925, đến năm 1929 hài cốt được đưa về
an táng tại núi Tử kim Đài kỷ niệm Tôn Văn h́nh chóp nhọn cao vút trên
đỉnh núi *giống như Washington Momument ở thủ đô Mỹ quốc), có thể nh́n
thấy từ nhiều ngơ đường trong Thành phố Quảng Châu. Ở chân núi phía nam
Việt tú sơn có nhà kỷ niệm Tôn Văn nằm giữa khu vườn rất rộng, có nhiều
hoa và cây xanh đẹp đẽ. Nhà kỷ niệm có 3 tầng theo dạng cổ lồng, nhiều mái
cong mang nét cổ kính, vẻ hoành tráng giống nhau ở ba phía ra vào. Riêng
phía chính diện có bức đại hoành phi “Thiên hạ vi công” và trước sân có
pho tượng Tôn trung sơn đứng trên đài, bên dưới ghi tạc tiểu sử và công
trạng.
Hoàng hoa cương và
bia mộ Phạm Hồng Thái
Hoàng hoa cương là
nghĩa trang danh dự ở chân núi Bạch vân, TP Quảng Châu, nơi an giấc ngàn
thu của 72 liệt sĩ Trung hoa đă anh dũng hy sinh trong cuộc Cách mạng lật
đổ triều đ́nh mục nát Măn thanh, giành chủ quyền trong tay các đế quốc xâu
xé Trung Hoa, đă xảy ra lúc 5 giờ chiều ngày 23-3 năm Tân hợi (
27-4-1911).
Đứng trước cổng Hoàng
hoa cương hùng vĩ mà tú lệ bằng đá xanh màu thạch ngọc, ai cũng nghiêng
ḿnh khâm phục. Bên trong là đài tưởng niệm uy nghi với bia đá vĩ đại mang
ḍng chữ “Thất thập nhị liệt sĩ chi mộ” theo chiều đứng và 4 chữ “Hạo khí
trường tồn” chạy suốt những gian thờ phụng ở tầng thấp.
Trên chót cao của bức
tường nơi hậu điện có tượng Nữ thần tự do đưa cao ngọn đuốc thiêng, giống
như tượng Nữ thần tự do ở cửa biển New York (Hoa Kỳ). Khu vực Hoàng hoa
cương rộng lớn, lối đi lát đá viền bồn hoa tươi thắm, lẩn khuất dưới rừng
cây xanh là nbững ngôi mộ có ghi tiểu sử đứng cạnh pho tượng trầm mặc của
một anh hùng đă hiến thân cho tổ quốc.
Trong cảnh ngoạn mục và
thanh tịnh của Hoang hoa cương, tôi đă gặp nhiều vị cao niên tản bộ tập
khí công và một nhóm nữ lưu đương tập thái cực quyền trên sân của nhà nghỉ
mát. Cái vinh hạnh đối với tôi là đă đến thăm phần mộ Phạm Hồng Thái,
người thanh niên ưu tú của Việt Nam đă an nghĩ trong Hoang hoa cương,
người duy nhất được tôn vinh nơi đất khách đă truyềnn lại cái hào khí lẫm
liệt đến kẻ hậu sinh tha hương.
Phạm Hồng Thái tên thật
là Phạm Thành Tích, bí danh Nho Tư, chào đời năm 1896 tại làng Ngọc điền
(Nghệ Tỉnh) đă hy sinh v́ tổ quốc tại Châu giang, TP Quảng Châu, lúc 30
tuổi.
Ông theo chí hứơng của
cha (là quan Huấn đạo Phạm Thành Mỹ, có chân trong phong trào Cần vương
kháng Pháp). Phạm Hồng Thái đă sớm hoạt động cách mạng, theo bước Đông du
trong Việt Nam quang phục hội của chí sĩ Phan Bội Châu. Thực hành đường
lối của Tâm tâm xă,, cảnh tỉnh đồng bào dưới ách nô lệ của thực dân Pháp,
Phạm Hồng Thái theo dơi để ám sát Toàn quyền Martial Merlin từ Đông dương
sang Nhât để điều đ́nh trục xuất những nhà cách mạng Việt Nam, đồng thời
kư một thương ước.
Phạm Hồng Thái đă bám
sát phái đoàn Merlin từ Hồng kông đến Thượng hải rồi qua Hoành tân đất
Nhật, nhưng chưa có cơ hội thuận tiện ra tay, Khi Merlin và đoàn tùy tùng
trên đường về Hà Nội, ghé lại Quảng Châu đêm 18-6-1924 để dự tiệc tại nhà
hàng Victoria ở Sa điện, Phạm Hồng Thái giả làm kư giả chụp h́nh lọt qua
được hàng rào cảnh binh, vào trong khách sạn ném một quả bom tay vào giữa
bàn tiệc làm một số người Pháp và quan khách chết ngay tại chỗ, riêng Toàn
quyền Merlin chỉ bị thương nhẹ, thoát chết. Phạm Hồng Thái phóng ra ngoài,
chạy về phía Tây hào khẩu, lính pḥng vệ duổi theo rất ngặt lại gặp Châu
giang chắn lối, ông liền nhảy xuống sông tự vận, quyết không chịu sa vào
tay giặc. Pháp trả thù, vớt được xác Phạm Hồng Thái đem phơi bờ sông mấy
ngày th́ được một người Trung hoa nghĩa khí xen đem mai táng.
Tháng 3 năm 1925, tỉnh
trưởng Quảng đông là Hồ hán Dân cho cải táng hài cốt Phạm Hồng Thái vào
nghĩa trang danh dự Ḥang hoa cương, trong lễ khánh thành để tưởng niệm
người liệt sĩ xả thân v́ tổ quốc có rất đông đảng viên Cách mạng Việt Nam
qui tụ về và nhiều yếu nhân Trung hoa quốc dân đảng tham dự.
Nơi an nghỉ của vị anh
hung Phạm Hồng Thái chiếm một diện tích khá rộng trong Hoang hoa cương,
như 72 liệt sĩ khác. C̣n đó, qua thời gian 80 năm qua vơi bao đổi thay
lịch sử, vẫn là ngôi mộ vun cao viền cỏ xanh, ngay cạnh là đài kỷ niệm
mang mấy hàng chữ mạ vàng ngời sáng, bên trên là chữ Quốc ngữ Việt Nam “
Mộ Liệt sĩ Phạm Hồng Thái”, chữ Hán theo chiều đứng của đài: “ Việt Nam
Phạm Hồng Thái liệt sĩ chi mộ”. Sau lễ đài lát đá hoa cương, bên tả có bia
đá cẩm thạch lớn bằng cánh cửa, ghi khắc chữ Hán như sau:
Việt Nam liệt sĩ mộ kư. Phiên ngung, Hồ Yểm soạn thư.
Quân lúy Hồng Thái,
Việt Nam Bắc kỳ nhân dă. Tiên thế nghiệp nho, Pháp nhân vong Việt Nam.
Nhủng tập khoa cử chi, chế dĩ ngu dị nhân. Quân tu chỉ khử nhi tập công
học, kư quan nhập mổ xưởng vi công nhân, trường để pháp luật chi hà bạo dữ
pháp lại chi tứ tuy. Chiếp sinh phẩn khái, hội hưu chí giả tương dữ tổ
chức chính đảng vi cách mạng vận động, yêu quân nhập đảng, quân tùng chi.
Thời đảng nhân dân lưỡng phái. Nhất chủ vận động tam kỳ quân đội phản chí
nhi trục Pháp nhân. Nhất chủ ám sát hẵn tướng khốc lai dĩ trừ dân hại.
Quân ư dĩ vận động quân đội cố thuộc yếu đồ trạng cẩn vô tráng liệt chi cử
tắc bất túc hàn địch nhân chi đảm nhi kích lệ quốc dân, ccá tả đản ám sát
phái nhi mưu hữu dĩ thật hành yên. Pháp sứ Mă lan giả tương đạo xuất Nhật
bản nhi vi Hồ Vi chi du . Quân văn chi tiêu kỳ hiệp thủ thương tạc đan đắc
chi ư Đông kinh, Thượng hải gian dĩ trinh sứ nghiêm mật vô kích khả thừa,
toại Phiên trạng lai Việt vi tối hậu chi cử, huynh tri Pháp nhân Mă lan vu
Vực Đa lị lữ quán dă. Nại vị đồng chí mỗ quân viết: Sự tành dữ bất đồ bất
khả kỳ trạng ngô thệ bất nhập vu Pháp nhân chi thủ, duy quân tu tương ngô
đảng tông chỉ tuyên thị vu ngoại dị miễn Pháp nhân hữu sở ngộ hội tri cầu
tắc đọat thị. Quân toại vu lục nguyệt thập cửu nhật, ngọ hậu bát thời vẵng
phó vực đa lị lữ quán bài chúng nhập vu vũ đạo thất, đạn thương đồng phát,
nhất thời nam nữ yểu tịch huyết đột mô hồ. Quân tiếu viết: Đại sự tất hỉ,
ngô kỳ tử hồ. Năi phó thủy tử. Việt nhân nghĩa chi, thân kỳ thi táng, chư
nhị vọng cương chi nguyên mộ tây nam hướng cái dục sử quân chi linh do đắc
quyến cố kỳ cố quốc, vân thị vi kư.
Trung hoa dân quốc thập tứ niên nhất nguyệt cốc đánh lập.
Dịch nghĩa:
Văn bia mộ liệt sĩ Việt Nam họ Phạm. Hồ Yểm soạn, viết tại thành Phiên
ngung.
Anh hiệu Hồng Thái,
người Bắc Việt Nam. Đời trước (cha ông) theo Nho học. Người Pháp chiếm
Việt Nam, vẫn duy tŕ khoa cử để chế ngự làm ngu dân. Anh hổ thẹn, bỏ học,
theo công nghệ làm công nhân trong cơ xưởng. Anh luôn nh́n thấy sư hà khắc
thô bạo của pháp luật và hà hiếp của quan lại người Pháp, sinh ḷng phẩn
nộ. Nhân găp các người có chí khí đang tổ chức chính đảng để vận động cách
mạng, mời anh tham gia, anh liền theo. Lúc đó người trong đảng chia làm 2
phái: Một nhóm chủ trương ám sát tướng hung bạo, quan tham tàn để trừ hại
cho dân. Anh có ư vận động quân đội trong nước để cử sự. Nhưng nếu không
khởi động bằng sự việc mănh liệt th́ không đủ làm cho kẻ thù khiếp đảm và
làm phấn chấn tinh thần quốc dân. Cho nên anh tán thàn h phái ám sát và
thi hành mưu địch.
Thống sứ Toàn quyền
Pháp là Mă lan giả (Merlin) sắp rời Nhật bản du hành sang Thượng hải. Anh
nghe tin, trước hết v́ nghĩa hiệp, anh tự mang súng và tạc đạn sang Đông
kinh rồi Thượng hải. V́ sự canh pḥng nghiêm mật không có cách ǵ hành
động. Măi khi Toàn quyền đến Quảng Châu (Phiên ngung) để trở lại Việt Nam,
là cơ hội cuối cùng để cử sự. Được tin người Pháp sắp đăi tiệc Mă lan
(merlin) ở khách sạn Vực đa lị (Victoria). Anh nói với người đồng chí: “Sự
việc tới lúc phải đạt thành công, không thể tŕ hoăn. Tôi nguyện không để
lọt vào tay người Pháp, xin anh tuyên thị tôn chỉ của đảng ta ra ngoài để
người Pháp khỏi hiểu sai lầm mà xuống tay tàn sát bừa băi.” Sau đó, vào
ngày 19 tháng 6, lúc 8 giờ chiều tối, anh đến khách sạn Vực đa lị
(Victoria) giả dạng vào được trong vũ trường, tung lựu đạn và bắn súng.
Lúc đó nhiều người nam nữ chết ngay, máu chảy cùng khắp. Anh cười nói: “
Việc lớn đă thành tựu, ta chỉ c̣n cái chết mà thôi.” Sau đó anh đă trầm
ḿnh tự vận. Người Quảng đông cảm nghĩa khí, đem thay đi chôn, sau cải
táng ở Hoàng hoa cương, hướng về Tây Nam, ư muốn cho linh hồn anh được
nh́n về cố quốc. Nay tôi ghi lại nơi đây.
Trung hoa dân quốc năm thứ 14, tháng giêng, ngày tốt dựng lập bia. Lời
người viết:
(1) Trương Quang thành
kính cảm tạ Giáo sư Ḥa thượng Thích trí Hoằng đă đọc lại bản chụp văn bia
đính kèm, để bổ chính cho bản phiên âm và bản dịch trên đây tránh lỗi lầm,
(2) Một điểm sai khác
giữa văn bia và tài liệu tôi tham khảo để viết về ngày tháng Phạm Hồng
Thái ra tay ám sát Merlin, xin chờ quí vị lưu tâm chỉ giáo cho. Người đời
thường ví anh hùng Phạm Hồng Thái ám sát quan đô hộ Merlin như tráng sĩ
Kinh kha hành thích bạo chúa Tần thủy Hoàng, tuy công chưa thành nhưng
danh lưu muôn thuở. Trong một tích tắc, Phạm Hồng Thái đưa hai tay bái
vọng vĩnh biệt tổ quốc Việt Nam rồi nhảy xuống sông Châu giang, có khác
Kinh kha vĩnh biệt nước Yên có Thái tử Đan và triều thần bận tang phục
tiễn đưa, rồi vượt sông Dịch thủy không hề ngoái lại.
Một buổi sáng áp Tết
Quí mùi (2003) tôi và người bạn Hoa kiều-Chợ lớn, nh́n ḍng Châu giang
lặng trôi trong sương khói, cùng mối đồng cảm nói trên, bất giác tôi đọc
cho ông bạn nghe bài ngũ ngôn tuyệt cú của Lạc Tân vương (tôi xin đổi chữ
Yên (Đan ra chữ Hương bang cho thích hợp đôi bên)
Thử địa bất tương
bang, = Đất nầy từ biệt hương bang,
Tráng sĩ ptáh xung quan. = Tóc đầu dựng ngược, máu hờn nóng sôi.
Thích th́ nhân dĩ một, = Người xưa khuất bóng đi rồi,
Kim nhật thủy do hàn. = Ngày nay c̣n thấy nước trôi lạnh lùng.
Trần Trọng Kim dịch
Bảo
tàng viện Nam Việt vương tại Quảng Châu
Người Việt nào đến thăm
TP Quảng Châu cũng nhận biết sự gần gũi vể địa lư và nhân văn ở nơi đây
với quê hương ḿnh, nếu muốn t́m hiểu sâu xa về mối tương quan lịch sử th́
bảo tàng viện Nam Việt vương là một minh chứng không thể chối căi được.
Nước Nam Việt đóng đô
tại Phiên ngung, là một nước độc lập với nhà Tây Hán ở phương bắc vào thời
trung cổ, được viết trong Trung quốc sử lược của Phan Khoang và mấy ḍng
ngắn gọn trong Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim :” Năm quí mùi (207
trước Tây lịch) Triệu Đà đánh được An Dương vương rồi sáp nhập nước Âu lạc
vào quận Nam hải, tự xưng là Triệu vũ vương (sau đổi là Nam Việt vương)
lập thành nước Nam Việt, đóng đô ở Phiên ngung, gần thành Quảng Châu bây
giờ.
Trong khi nhà Triệu gây
dựng cơ nghiệp ở Nam Việt, th́ ở bên Tàu, ông Lưu Bang trừ được nhà Tần,
diệt được nhà Sở... Năm Canh ngọ (111 trước Tây lịch) vua Vũ Đế nhà Hán
sai Lộ bác Đức và Dương Bộc sang đánh nhà Triệu, lấy nước Nam Việt, rồi
cải là Giao chỉ bộ rồi chia làm 9 quận là: Thương ngô, Uất lâm (nay là
Quảng tây), Nam hải, Hợp phố (nay là Quảng đông), Châu nhai, Đạm nhỉ (là
đảo Hải nam), Giao chỉ, Cữu chân, Nhật nam (là Bắc Việt và mấy tỉnh Bắc
Trung Việt của Việt Nam bây giờ)
Rơ ràng nước Nam Việt
của người Bách Việt, có cương vực riêng, truyền được 5 đời vua Triệu mới
bị nước Tàu thôn tính. Bởi lẽ đó, tiền nhân của nước Việt Nam đă đ̣i lại
chủ quyền lănh thổ quốc gia, ít nhất 2 lần trong lịch sử:
Năm Ất măo (1075) Lư
Thường Kiệt sang vây đánh Hâm Châu và Liêm Châu (thuộc tỉnh Quảng đông) .
Đạo quân của Tôn Đản sang đánh Ung Châu (tức thành Nam nin h thược tỉnh
Quảng tây). Năm 1076 quân ta phải rút về để đánh tan quân nhà Tống (có
Chiêm thành và Chân lạp phối hợp) sang đánh nước ta.
Năm Nhâm tư (1792) vua
Quang Trung sai sứ sang Tàu, xin cầu hôn và xin trả lại cho Việt Nam đất
Lưỡng quảng. Vua Càn long trong thế yếu phải buộc ḷng xin gă công chúa út
cho vua Quang Trung và tặng tỉnh Quảng tây làm lễ cưới. Yêu sách trên là
để thử, không ngờ trong năm ấy (1792) vua Quang Trung băng hà, việc đ̣i
đất bỏ qua. Lịch sử đă đi qua 22 thế kỷ, nay Trung Quốc ở thế mạnh, họ
không ngần ngại ǵ mà chẳng phơi bày sự thật nơi ngôi mộ Nam Việt vương
ngay tại cố Phiên ngung, thành một bảo tàng viện để họ chứng minh là đất
nước có nền văn minh lâu đời. Bảo tàng viện Nam Việt vương hiện tọa lạc
trên diện tích rất rộng ở số 867 Jie Fanbei Road, TP Quảng Châu, chỉ cách
bảo tàng viện Quảng Châu và công viên Việt tú một vài dậm đường. Trong
quyển kỷ yếu có lời giới thiệu: “ Lăng tẩm của Nam Việt vương được phát
hiện năm 1983, là ngôi vương mộ lớn nhất thời Tây Hán chưa từng được biết
đến ở miền Hoa nam. Có cả thẩy hơn một ngàn di vật được khai quật từ lăng
mộ này, phản ảnh nhiều khía cạnh đủ các mặt chính trị, kinh tế và văn hóa
của phương Nam Việt. Chính nơi đây là điểm nổi bật nhất trong hàng trăm đề
mục khám phá khảo cổ học quan trọng ở Trung quốc trong thế kỷ 20, bởi v́ ở
mộ Nam Việt vương giúp cho hiểu biết được bí quyết, như chiếc ch́a khóa,
về cách bảo quản di hài được áp dụng trên toàn quốc lúc đương thời.
Bảo tàng viện lăng mộ
Nam Việt vương (đồng thời với nhà Tây Hán) được khai trương năm 1988 chủ
yếu nhằm phô bày vị trí chính của nhà mồ vua Nam Việt và những di vật rất
khéo léo do bàn tay con người thời xưa tạo ra nên được đào lên tại đây”
Khu mộ Nam Việt vương
đă được khai mở, nay được lập bằng nhà kính. Các ṭa nhà và băi đậu xe vây
quanh 3 mặt lăng mộ, có 6 đại sảnh để trưng bày vô số di vật lấy lên từ
ngôi mộ, được đặt trong ḷng kính. Một đại sảnh tŕnh chiếu video về quá
khứ khai quật, về h́nh dung sinh hoạt cổ thơ một đại hội trường. Tôi may
mắn được hướng dẫn viên của viện nói rành Anh ngữ đưa xuống hầm mộ nằm sâu
trong ḷng đất, qua các hành lang ch́m, bước qua những cánh cổng nặng hàng
chục tấn có chốt khóa bí hiểm, tất cả bằng đá tảng mặt phẳng, không lậu
một giọt nước. Pḥng nhà vua an giấc ngàn thu vẫn c̣n lại hàng quan tài
thật lớn bằng đá quí, có lẽ dành cho cả hoàng hậu, vương phi. Lăng mộ như
cung điện chứa bảo vật dưới ḷng đất. C̣n vô số di vật trưng bày trong tủ
kính, từ triện vua bằng vàng đến các đồ trang sức thời cổ, các loại đồng
tiền, các đồ dùng bằng đồng hay đất nung, các gối đầu hay ghế ngồi bằng
sành sứ v..v.. Nh́n các loại binh khí thời xưa, tôi nhận biết rất nhiều
mũi tên đồng, đầu mũi có ngạnh và một vài dụng cụ không rơ h́nh dạng nữa.
Đây chắc chắn là những mũi tên đồng dùng nỏ ở Liên Châu làm theo đồ h́nh
của Cao Lỗ bắn bằng máy đẩy mỗi lần 10 mũi, mà Triệu Đàø học được nơi
thành Cổ Loa. Huyền thoại thường nói đến Thần Rùa vàng giúp cho vua An
Dương vương dựng được thành Cổ loa, và cho nhà vua móng chân để làm lẫy
nỏ, phá tan được quân xâm lược. Sự thật thành Cổ Loa có 9 lớp xoáy trôn
ốc, có 18 g̣ cao nhô ra chân lũy trí nỏ liên châu băùn xuống, khiến quân
Tàu của Triều Đà vây thành khiếp đảm, tháo chạy. Thấy dùng binh thất bại,
Triệu Đà dùng kế cho con là Trọng Thỉ sang cưới Mị Châu là con gái Thục An
Dương vương. Sống trong thành Cổ loa, Trọng Thỉ biết hết được sơ đồ pḥng
vệ thành, học được bí quyết làm nỏ liên châu, làm sai bậy một cơ phận
trong lẫy nỏ ở Cổ loa thành.
Trọng Thỉ về, giúp cho
Triệu Đà nỏ liên châu và tin tức t́nh báo. Triệu Đà bèn khởi binh sang
đánh Âu lạc. Thục An Dương vương cậy có “nỏ thần”, khi giặc đến chân thành
th́ nỏ thần đă vô dụng. Triệu Đà lấy được nước Âu lạc, đem sáp nhập vào
quận Nam hải đổi tên nước là Nam Việt, đóng đô ở Phiên ngung, là TP Quảng
Châu ngày nay. Bảo tàng viện lăng mộ Nam Việt vương nhà Triệu ngay giữa
ḷng thành phố Quảng Châu là bằng chứng hiển nhiên về văn hóa Việt từng
phát triển rực rỡ tại nơi nầy và lănh thổ của tổ tiên người Việt bao gồm
cả tỉnhh Quảng đông, Quảng tây của Trung Quốc.
Từ ngàn xưa, cố đô
Phiên ngung là cái nôi văn hóa của nước Nam Việt, lại ở vào địa lư thiên
nhiên thuận lợi, đó là 2 điều cần thiết để thành phố Quảng Châu tiến lên
nền công kỹ nghệ và giao thương tiên tiến như ngày nay.
Connecticut,
tháng 4 năm 2003
TRƯƠNG QUANG
|
|