|
Ngô Đ́nh Diệm
- bảy nguyên nhân
thất bại
Bùi Kha
Sinh ra
trong một gia đ́nh theo đạo Công Giáo nhiều đời và lớn lên
trong hoàn cảnh đất nước bị ngoại xâm, hai yếu tố cơ bản và then chốt đó
đă tác động sâu đậm lên con người và cuộc đời của Tổng Thống Ngô Đ́nh
Diệm.
Làm quan dưới thời Nguyễn mạt, Ngô Đ́nh Diệm thất bại trong việc tranh
dành ảnh hưởng với Phạm Quỳnh nên từ chức Thượng Thư Bộ Lại năm 1933.Từ đó
ông có một cuộc sống không cố định mà phần nhiều là ở ngọai quốc.
Từ sau nửa năm 1950, ông Diệm đi Nhật Bản gặp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để là một
chuyện phụ nhưng thực ra là để gặp một cựu sĩ quan t́nh báo Mỹ là ông
Wesley Fishel, rồi đến Vatican yết kiến Giáo Hoàng Pius XII, người nỗi
tiếng v́ đă từng thúc đẩy chính phủ Hoa Kỳ thả từ 1 đến 6 quả bom nguyên
tử xuống Bắc Việt để giải cứu quân Pháp bị quân Việt Minh bao vây tại Điện
Biên Phủ năm 1954. Sau đó ông Diệm đến Hoa Kỳ rồi đi Thụy Sỹ, Bỉ, Pháp,
đến Vatican lần thứ hai, và trạm cuối là trở lại và ngừng chân lâu dài tại
Mỹ từ năm 1951. Trong khoảng thời gian hai năm, ông sống trong hai tu viện
Maryknoll, vùng Lakewood, bang New Jersey và Ossining, bang New York. Nhờ
sự gởi gắm của người anh ruột là Giám mục Ngô Đ́nh Thục, ông Diệm được
Hồng y Spellman tiếp nhận, nâng đỡ và tạo cơ hội giao tiếp với dư luận địa
phương qua các buổi nói chuyện tại một vài đại học cũng như tại thủ đô
Hoa Thịnh Đốn, rồi cuối cùng được lọt vào mắt xanh của một vài chính khách
thời đó như Thượng Nghị sĩ Mike Mansfield, John Kennedy, Dân biểu Walter
Judd, Chánh án Williams Douglas.... Tháng 5 năm 1953, ông qua Bỉ và sống
trong tu viện Benidictine de St. André-les-Purges, năm sau qua Pháp chờ
thời trong khi quân Pháp đang bị bại trận tại Điện Biên Phủ.
Pháp thất bại tại Điện Biên Phủ năm1954, chính sách thuộc địa của Pháp tại
Đông Dương qua bao năm xương máu đă đến hồi chung cuộc. Thay chân Pháp,
Hoa Kỳ tiếp tục con đường chính trị mới ở Đông Dương mà điểm nóng và then
chốt là Việt Nam. Với áp lực của chính phủ Mỹ, nhờ sự can thiệp tích cực
của Hồng-y Spellman mà đàng sau là Vatican và sức ép của Phong trào Cọng
ḥa B́nh dân thân Vatican, chính phủ Pháp và Quốc trưởng Bảo Đại buộc ḷng
phải cử Ngô Đ́nh Diệm làm Thủ tướng trên nửa phần đất phía Nam bằng sắc
lệnh 38/ QT do Bảo Đại kư ngày 16. 6. 1954.
Điểm lại một vài dấu tích trên hoạn lộ chính trị của Ngô Đ́nh Diệm, chúng
ta sẽ thấy hoạn lộ đó nỗi bật hai điểm đă quyết định cuộc đời chính trị
thăng trầm của ông. Thứ nhất, Ngô Đ́nh Diệm là một con chiên ngoan ngoăn
của Vatican. Thứ hai, Ngô Đ́nh Diệm là con người được lựa chọn để thừa
hành chương tŕnh của Mỹ ở Đông Dương sau khi Pháp thất bại.
Bài viết nầy chỉ giới hạn trong phạm vi truy tầm một số nguyên
nhân đưa đến sự thất bại của cố Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, trước là để góp
phần vào việc soi sáng lịch sử và định vị trí của ông trong ḍng sử Việt,
sau là để giảm thiểu t́nh trạng đánh bóng cho nhau hoặc bôi bẩn người khác
v́ lư do tín ngưỡng.
Bài nghiên cứu nầy cũng không nhằm so sánh Tổng thống Diệm với
Chủ tịch Hồ Chí Minh v́ tính bất cân xứng và những dị biệt lớn giữa hai
nhân vật. Nhưng v́ muốn làm sáng tỏ luận điểm Bảy Nguyên Nhân Thất Bại Của
Ngô Đ́nh Diệm, chúng tôi không thể tránh khỏi một vài đối chiếu lúc nghiên
cứu. Do đó, trước lúc đi vào chủ điểm chính của bài viết, tôi xin tŕnh
bày vài nét về quan điểm của ḿnh trong những nghiên cứu.
Sau 1975, nhiều người Việt ở nước ngoài phải sống giữa hai “lằn đạn”: bên
nầy chụp mũ Cọng sản, bên kia vu khống CIA, mà cá nhân tôi là một. Nhưng
không phải v́ vậy mà tôi lại méo mó trong việc nghiên cứu và viết lách của
ḿnh, mặc dầu tôi thấy có rất nhiều cây bút đă bị uốn rất cong. Lại nữa,
tôi chỉ là một người nghiên cứu chứ không phải là người hơn thua nhau
trong một trận chiến tuyên truyền nào, nên tôi sẽ cố tránh những danh từ
xem ra thiếu ái ngữ hay hạ cấp.
Nếu trong bài nầy có những luận điểm mà quí vị không đồng ư hoặc cách xưng
hô mà quí vị không hài ḷng, th́ cũng xin thông cảm rằng, để cho tôi có
cái quyền và cái cách được phát biểu quan điểm của ḿnh, dẫu quan điểm đó
không hợp với quí vị. Kính mời độc giả cùng tôi t́m hiểu 7 nguyên nhân căn
bản đưa đến sự thất bại của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm.
MỘT: Tính Truyền Thống.
Đối với phong tục và tập quán Việt Nam, một người xuất thân từ một gia
đ́nh có truyền thống cách mạng hay một gia đ́nh thuộc giai cấp “thế gia
vọng tộc” th́ dễ được xă hội chấp nhận và dễ thành công hơn là những người
xuất thân từ một gia đ́nh gốc gác mù mờ. Ngô Đ́nh Diệm (1901-1963) ra làm
quan dưới thời Nguyễn mạt, vua chỉ là kẻ bù nh́n sống xa hoa lộng lẫy trên
xương máu của những người dân bị trị trong một quốc gia bị Pháp đô hộ.
“Tam Cương Ngũ Thường, Lễ Nghĩa Liêm Sĩ ” không c̣n là những khuôn mẫu dẫu
là khuôn mẫu thô sơ của nhân thế. Xă hội tiêu điều đến như vậy, mà Ngô
Đ́nh Diệm lại c̣n xuất thân từ một gia đ́nh vượt qua các lằn mức đó nữa
th́ làm thế nào mà có thể thành tựu được sự nghiệp cách mạng, dù ông có
muốn đi nữa. Bức thư (viết tay) được t́m thấy trong thư khố Pháp, do Giám
Mục Ngô Đ́nh Thục, anh ruột của Ngô Đ́nh Diệm chứ không phải do “cọng sản
ngụy tạo”, gởi cho Toàn Quyền Decoux đă cho chúng ta biết gia thế của ông
như sau:
BẢN
DỊCH THƯ VIẾT TAY BẰNG PHÁP NGỮ CỦA GIÁM MỤC NGÔ Đ̀NH THỤC GỞI ĐÔ ĐỐC JEAN
DECOUX, TOÀN QUYỀN ĐÔNG DƯƠNG(1)
Ṭa Truyền
Giáo Vĩnh Long ngày 21/8/1944
Thưa Đô Đốc,
Một linh mục
từ bổn Ṭa được phái đi Sài G̣n để lo việc cho chủng viện vừa cho tôi biết
rằng hai người em của tôi đang bị truy tố tại Huế. V́ đă lâu không nhận
được tin tức ǵ từ Huế, tôi không biết là điều tôi vừa được báo cáo có
đúng sự thực hay không.
Tuy nhiên, nghĩ đến
nỗi đau đớn và sự bất nhẫn rất đúng mà chắc là Đô Đốc đă cảm thấy – nếu sự
truy tố các em tôi là có thật, tôi vội viết thư này để bày tỏ với Đô Đốc
nỗi đau đớn lớn lao của tôi về việc này.
Nếu hoạt động của
hai em tôi được chứng tỏ là có hại cho quyền lợi nước Pháp th́ – với tư
cách của một Giám mục, của một người An-nam, và với tư cách là người con
của một gia đ́nh mà thân phụ tôi đă phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới
đến An-nam, và đă nhiều lần đưa mạng sống cho nước Pháp trong các cuộc
hành quân mà cha tôi cầm đầu, dưới quyền Nguyễn Thân, chống lại các kẻ nổi
loạn do Phan Đ́nh Phùng chỉ huy, tại Nghệ-an và Hà-tịnh – tôi, tự đáy
ḷng, không chấp nhận [hoạt động của các em tôi].
Thưa Đô
Đốc, tôi tuyên bố như vậy không phải với mục đích bảo toàn địa vị cá nhân
của tôi: bởi v́ nếu xét rằng cá nhân hèn mọn của tôi có thể phương hại đến
quyền lợi của đạo [Thiên Chúa], tôi sẽ vui vẻ rời khỏi Ṭa Giám mục nầy
ngay.
Lời tuyên bố
của tôi chỉ có mục đích là tỏ cho Đô Đốc thấy rằng ḷng tin tưởng tŕu mến
của Đô Đốc [đối với tôi] đă không bị đặt vào một kẻ bất xứng hay vô ơn.
Thưa Đô Đốc, tôi chưa
bao giờ tiếc là đă xa Huế như thế nầy. Giá có mặt ở đấy th́ tôi đă có thể
khuyên răn các em tôi tốt hơn, và khi chuyện xẩy đến tôi đă có thể chống
lại các chủ đích của các em tôi, nếu quả thật các em tôi có nghĩ đến những
dự định có thể gây hại cho quyền lợi nước Pháp.
Có thể tôi lầm, tuy
nhiên, thưa Đô Đốc, tôi xin thúù thực là không tin – cho đến khi được
chứng minh ngược lại – rằng các em tôi đă phản lại truyền thống của gia
đ́nh chúng tôi đến như thế, một gia đ́nh đă tự ḿnh gắn liền với nước Pháp
từ lúc ban đầu, trong khi ông cha của những quan lại bây giờ hầu hết đều
chống lại Pháp và chỉ quyết định thiên về Pháp khi thấy có lợi.
Ngay chính
các em tôi đă từng liên tục đưa mạng sống ra v́ nước Pháp, trong cuộc nổi
loạn của Cộng Sản. Diệm, người em kế tôi, suưt đă phải ngă gục dưới những
phát súng của một Hoa kiều Chợ Lớn được phái đến Phan-rang với mục đích
hại Diệm, Phan-rang là nơi mà Diệm đă mănh liệt chống giữ lối xâm nhập vào
An-nam của các cán bộ Cộng Sản từ Nam Kỳ phái đến.
Lẽ tất nhiên, sự
tận tụy của các em tôi trong quá khứ không phải là điều nêu ra để làm cớ
mà biện hộ cho hoạt động bất cẩn của họ ngày hôm nay, nếu sự bất cẩn nầy
được chứng tỏ là điều đă gây nên tội. Tuy nhiên, tôi không nghĩ là tôi đă
làm chuyện vô ích khi kêu gọi đến sự khoan hồng đầy xót thương của Đô Đốc
hầu xét với hảo ư trường hợp các em tôi. Đô Đốc không phải là người chỉ
xét đến hiện tại mà lại bỏ quên đi quá khứ. Tôi nêu ra điều nầy khi xét
thấy rằng thân phụ tôi là Ngô Đ́nh Khả đă từng được vinh dự phục vụ nước
Pháp dù sinh mạng bị hiểm nguy, và khi xét đến quá tŕnh lâu dài của các
em tôi, một quá tŕnh được h́nh thành bằng ḷng tận tụy vô bờ của các em
tôi đối với nước Pháp, mà không sợ phải hy sinh mạng sống của ḿnh cho
nước Pháp.
Thưa Đô Đốc, một
lần nữa bày tỏ với Đô Đốc tất cả niềm đau đớn của tôi trong vụ nầy, tôi
xin Đô Đốc vui ḷng nhận nơi đây lời kính chào trân trọng nhất của tôi.
NGÔ Đ̀NH THỤC
Vicariat Apostolique de
Vinh Long
(Cochinchine)
Nguyên
bản tiếng Pháp:
Vinh Long, le 21 Aout
1944
Amiral,
Je viens
d’apprendre par un prêtre de ma Mission, envoyé à Saigon pour les affaires
du séminaire, que deux de mes frères ont été l’objet de poursuites
judiciaires à Hué. N’ayant recu de Hué depuis longtemps aucune nouvelle,
je ne sais si ce qu’on m’a rapporté corespondait à la vérité.
Mais, en
pensant a la peine immense et à la juste indignation que vous avez du
éprouvées, si ce qu’on leur imposait était fondé, je m’empresse de vous
écrire, pour vous exprimer, Amiral, ma grande douleur en l’occurence.
S’il était
prouvé que leur activité a pu nuire aux intérêts de la France, je la
désapprouve du fond du coeur, comme évêque, comme annamite, et comme
membre d’une famille dont le père a servi la France dès sa première venue
en Annam et a exposé maintes fois sa vie pour elle dans les expéditions
memées, comme lieutenant de Nguyễn Thân, contre les rebelles commandés par
Phan Đ́nh Phùng à Nghệ An et Hà Tịnh.
Cette
déclaration n’a pas pour but, Amiral, de sauvegarder ma situation
personnelle: car ce sera avec joie que je quitterai mon évêché si tôt
qu’il sera constaté que mon humble personne pourrait porter préjudice aux
intérêts de la Religion.
Elle n’a
pour objet que de vous montrer que vous n’avez pas accordé votre
bienveillante confiance à un indigne ou à un ingrat. Amiral, je n’ai
jamais tant regretté mon éloignement de Hué. Là j’aurais pu mieux
conseiller mes frères et, à, l’occasion, m’opposer à leur desseins, si
vraiment ils en ont concu de nuisibles aux intérêts de la France.
Je puis hélas me
tromper, mais je vous confesse, Amiral, que je ne puis croire, jusqu’à
preuve du contraire, qu’ils se sont montrés si rebelles aus traditions de
notre famille, qui s’était attachée à la France dès le début, tandis que
les aieux et les pères des mandarins actuels, presque tous, combattaient
contre elle, et ne s’étaient décidés pour elle que lorsqu’il n’avait plus
que profit à le faire.
Mes frères
eux-mêmes ont exposé leur vie continuellement pour la France lors de la
révolte communiste. Mon cadet Diệm a failli tomber sous les coups de
révolver d’un chinois de Cholon envoyé à cet effet à Phan Rang où Diệm
défendait énergiquement l’entrée de l’Annam aux émissaires communistes
envoyés de la Cochinchine.
Certes, leur
dévouement dans le passé n’est pas l’excuse de leur imprudences actuelles;
s’il est prouvé qu’elle est coupable. Mais je crois ne pas faire en vain
appel à votre miséricordieuse clémence en leur faveur, qui juge du présent
sans pourtant oublier le passé. Celà en considération des services que mon
père Ngô Đ́nh Khả a eu l’honneur de rendre à la France au péril de sa vie,
et de la longue conduite de mes frères faite d’un dévouement sans bornes à
la France, sans peur de sacrifier leur vie pour elle.
En vous exprimant
de nouveau, Amiral, toute la douleur que je ressens dans cette affaire, je
vous prie d’agréer mes hommages les plus respectueux.
NGO DINH THUC
Ngoài việc làm tay sai cho Pháp đă được Giám Mục Ngô Đ́nh Thục thuật lại
khá rơ trong lá thư nói trên, lịch sử c̣n cho thấy rằng ông Ngô Đ́nh Khả,
thân sinh ông Diệm, đă cùng với tên Việt-gian Nguyễn Thân đào mă và đốt
xác vị anh hùng ái quốc Phan Đ́nh Phùng, rồi lấy tro trộn với thuốc súng
mà bắn cho hả giận. Về sự kiện nầy, thời đó cán bộ của ông Diệm có cho
phổ biến tại Huế một câu vừa bào chữa vừa xác nhận hành động ác đức và
Việt-gian của ông Ngô Đ́nh Khả : “Đày vua không Khả, đào mă không Bài”. Có
nghĩa là, ông Ngô Đ́nh Khả không dính đến việc đày vua Thành Thái nhưng
ngầm hiểu là có đào mă (cụ Phan), c̣n Nguyễn Hữu Bài không liên hệ vào
việc đào mă nhưng lại chủ xướng việc đày vua.
Trong bài viết cẩu thả vô căn cứ với tựa đề “Ông Ngô Đ́nh Diệm Dưới Nhăn
Quan Của Tinh Thần Nho Học” đăng trên báo Người Việt ngày 22. 8. 2003, mục
“Ông Ngô Đ́nh Diệm Người Thừa Hưởng Tiếng Tăm Của Gia Đ́nh”, tác giả
Nguyễn Lư Tưởng viết:
“Người ta nói rằng vua Thành Thái có tư tưởng chống Pháp một phần
chịu ảnh hưởng của ông Ngô Đ́nh Khả v́ ông là thầy dạy và là Thượng Thư,
rất gần vua...Tất cả các quan trong triều đ́nh trong đó có người là bà con
ruột thịt của vua đều ngoan ngoăn đặt bút kư, ngoại trừ ông Ngô Đ́nh Khả,
vị Thượng Thư duy nhất và là người Công Giáo duy nhất trong nội các đă
không chịu kư tên đồng ư đày vua”.
Đoạn văn của ông Nguyễn Lư Tưởng cho thấy 2 điểm sai. Như thư viết tay
của Ngô đ́nh Thục nêu trên đă cho thấy, ông Ngô Đ́nh Khả không bao giờ có
tư tưởng chống Pháp như ông Nguyễn Lư Tưởng nhận bừa mà thật sự đă là một
tên Việt-gian tận tụy: “đă phục vụ nước Pháp ngay từ khi Pháp mới đến
Annam và đă nhiều lần đưa mạng sống v́ nước Pháp”. Thật ra th́ chính ông
Khả đă t́nh nguyện để cho thực dân Pháp gài vào dạy, cho làm Thượng Thư,
và rất gần vua nên mới biết tư tưởng chống Pháp của nhà vua, rồi thông báo
cho Pháp. Pháp tránh tiếng, nên bắt buộc mấy ông Thượng Thư không thân cận
vua kư giấy đày, c̣n Ngô Đ́nh Khả, một người Pháp tay trong, phải giả vờ
phản đối để che dấu việc làm nội gián của ḿnh, nhưng thực sự ông là vai
chính trong việc đày vua Thành Thái.
Cũng v́ muốn đánh bóng mà sử liệu th́ không bao giờ có, nên ông Nguyễn Lư
Tưởng đă sơ hở làm lộ thêm một chi tiết quan trọng khác: chức Thượng Thư
của Ngô Đ́nh Diệm là do thực dân Pháp ban phát: “Pháp muốn trả ghế Thượng
Thư lại cho gia đ́nh họ Ngô nên đưa ông Ngô Đ́nh Diệm vào Nội Các” (tr.
B6). Là một gia đ́nh Việt-gian, cong lưng xin chức và qú gối nhận quyền
nên dân chúng thời bấy giờ tóm lược hành động bán nước đó bằng hai câu thơ
khinh miệt:
“Vây cánh Ngô Đ́nh ghê gớm thật
Mềm lưng dẻo gối chóng lên cao.”
Một
điểm khác cần nói là ông Ngô Đ́nh Khả, một giáo sĩ tu xuất đă từng được
huấn luyện ở Pénang (Mă Lai) để làm linh mục nhưng hoàn tục, ông ta chưa
bao giờ “là người đă đưa ra chương tŕnh xây dựng trường Quốc Học ở Huế
vào năm 1896” và chưa bao giờ “là hiệu trưởng” trường nầy, mong ông Nguyễn
Lư Tưởng nên thận trọng trong lúc viết và báo Người Việt cũng nên dè dặt
khi đăng những bài không có sử liệu.
Bài của ông Nguyễn Lư Tưởng c̣n rất nhiều sự kiện sai lầm khác, nhưng bài
viết nầy của tôi không nhắm vào việc biện chính các sai lầm có hậu ư đó
của ông nên xin hẹn một dịp khác.
Rơ ràng là không bắt nguồn từ những hoạt động cách mạng và sống trong ḷng
dân tộc để lên nắm chính quyền như bao nhiêu chính khách khác, ngược lại,
ông Ngô Đ́nh Diệm, như trên đă cho thấy, xuất thân từ một gia đ́nh mà một
số sử gia cáo buộc là “ Việt Gian Ba Đời” (xem Việt Nam Cọng Ḥa Toàn Thư
của nhà nghiên cứu Sử Nguyễn Mạnh Quang, Seatle) và được “bồng” lên làm
thủ tướng rồi tổng thống nhờ áp lực và nhu cầu bảo vệ quyền lợi của ngoại
bang mà thôi.
Trong lúc đó, đối chính của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm (1901-1963) là Chủ
tịch Hồ Chí Minh (1890-1969) th́ xuất thân từ một gia đ́nh hàn Nho, khoa
bảng. Thân phụ là Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó Bảng (Secondary Ph.D) năm 1901,
làm tri huyện một thời gian, sau bị cách chức v́ tuyên truyền chủ nghĩa
quốc gia và từ chối không chịu học tiếng Pháp.
Năm 21 tuổi, ông Hồø Chí Minh làm bồi bếp, giúp nấu ăn hay phụ thợ máy
trên tàu buôn Latouche Treville của Pháp để trốn khỏi Việt Nam năm 1911.
Ông đến Pháp, rồi đến các thương cảng Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Địa Trung
Hải, Bắc Phi, Congo và Nữu Ước. Lúc sống ở Paris, ông xuất bản tờ báo “Le
Paria” nhằm vạch rơ chính sách bóc lột và dă man của thực dân và chủ nghĩa
Đế Quốc Pháp (French Imperialism), và kêu gọi các dân tộc bị trị nổi dậy.
Năm 1945-46, thất bại trong nỗ lực yêu cầu Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc giúp
để đuổi thực dân Pháp ra khỏi nước, ông gia nhập Đệ Tam Cọng Sản Quốc Tế.
Tháng 9, 1945 ông tuyên bố Việt Nam độc lập. Sau đó lại vào rừng tiếp tục
công cuộc kháng chiến chống Pháp.
Năm 1954, Pháp bại trận tại Điện Biên Phủ, và hiệp định Genève chia đôi
đất nước, ông làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Ḥa từ vĩ tuyến 17
trở ra, c̣n ông Ngô Đ́nh Diệm th́ từ vĩ tuyến 17 trở vào.
HAI: Chính Nghĩa
Sau khi bại trận tại Điện Biên Phủ, theo thỏa ước Genève, Pháp phải rút về
nước, trao trả chủ quyền và độc lập cho Việt Nam. Mỹ thay chân Pháp với
sách lược chận đứng làn sóng xâm lăng của Cọng Sản quốc tế mà đứng đầu là
Nga Sô. Ông Diệm được Mỹ đưa về làm Thủ tướng rồi Tổng thống một nửa nước
Việt Nam với quốc hiệu Việt Nam Cọng Ḥa. Dẫu biện minh hoặc giải thích
thế nào chăng nữa, nhưng đối với tâm cảm và truyền thống của người dân
Việt b́nh thường, th́ người Mỹ lại chỉ là một loại thực dân mới trên quê
hương của ḍng giống Việt không khác ǵ người Pháp, người Nhật, người Tàu
trước đó. Chương tŕnh viện trợ ồ ạt và sự hiện diện của các cố vấn và
chuyên viên người Mỹ trên mănh đất miền Nam đă làm cho ông Diệm mất thêm
uy tín và dễ tạo sự tuyên truyền hữu hiệu cho chính quyền miền Bắc: “Mỹ là
một đế quốc thực dân mới” chẳng khác nào thực dân Pháp trước đây.
Miền Bắc, dưới sự lănh đạo của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, chính phủ ông
cũng nhận viện trợ của Trung Quốc và Nga để đánh Pháp rồi đánh Mỹ, nhưng
thành phần nhân sự của hai quốc gia nầy không hiện diện trên đất Bắc, nên
bộ máy tuyên truyền của miền Bắc đă tiến hành được một đ̣n tâm lư chiến vô
cùng lợi hại cho việc vận động nhân dân tham gia cuộc chiến gọi là “Chống
Mỹ Ngụy cứu nước”.
BA: Lực Lượng Chủ Chốt
Của Cách Mạng.
Thời kỳ Pháp chiếm và đô hộ Việt Nam, hầu hết những người Công Giáo đều hỗ
trợ đắc lực cho thực dân Pháp. Câu nói thời danh của Giám Mục Puginier sau
đây đă mô tả trọn vẹn tâm chất và hành động của một thành phần người Pháp
tay trong:“ Không có giáo sĩ và giáo dân, th́ người Pháp cũng như cua bị
bẻ găy hết càng” (Sans les missionnaires et les chrétiens, écrit Mgr.
Puginier, les Francais seraient comme les crabes auxquels on aurait cassé
toutes les pattes).
Cũng trong cái nh́n “cua phải có càng”, viên t́nh báo cao cấp của Hoa Kỳ
là Đại tá Edward G.Lansdale đă vận dụng các kế họach nhằm di cư trên bảy
trăm ngàn giáo dân từ Bắc vào Nam năm 1954, để cùng với số giáo dân sống ở
miền Nam, hậu thuẫn và làm lực lượng ṇng cốt cho ông Diệm.
Hầu hết các chức vụ quan trọng trong chính phủ như bộ trưởng, tỉnh trưởng,
quận trưởng và các tướng lănh, các chức trọng yếu trong quân đội, Tổng
thống Diệm đều sử dụng người Công giáo. Nếu không thể kiếm được người Công
giáo ông mới sử dụng đến thành phần các tôn giáo khác, nhưng sau đó đem bả
công danh vật chất dụ họ cải đạo như Nguyễn Văn Thiệu là một trường hợp
điển h́nh mà ai cũng biết. Những người không chịu cải đạo th́ khó được
thăng cấp và bổ nhiệm mặc dầu họ có đầy đủ khả năng và thâm niên công vụ.
Trái lại, nhiều người không có khả năng nhưng v́ họ là con chiên th́ ông
Diệm giao phó những trọng trách mà họ thực sự không có khả năng.
Thật vậy, sự thảm bại tại trận Aáp Bắc (tỉnh Mỹ Tho) vào tháng 1, năm 1963
do Đại tá Bùi Đ́nh Đạm (Tư lệnh sư đoàn 7) và Tướng Huỳnh Văn Cao (Tư lệnh
quân khu 4) chỉ huy. Sự thảm bại nầy là hậu quả do hai người chỉ huy nầy
không có tài nhưng được giao phó trọng trách quá lớn v́ họ là người cùng
một tín ngưỡng với ông Diệm..
Để gia tăng số lượng tín đồ, mà mục tiêu chính là để làm hậu thuẫn cho chế
độ và bành trướng nước Chúa; mở mang biên cương cho Vatican, ông Diệm và
chính phủ ông một mặt th́ dùng các linh mục và bà sơ dụ người vào đạo qua
các chương tŕnh giáo dục, cô nhi, kư nhi, và từ thiện. V́ thế mới có câu
“Vào đạo có gạo mà ăn”. Mặt khác qua mạng lưới công an mật vụ, chính phủ
Ngô Đ́nh Diệm t́m cách chụp mũ Cọng sản lên đầu tín đồ các tôn giáo khác,
tra tấn hoặc bỏ tù họ cho đến lúc họ chịu theo đạo mới thả ra.
Tóm lại, lực lượng chủ chốt trong việc đối đầu với miền Bắc là thành phần
Công giáo, chiếm 7 % dân số miền Nam. Ngoại trừ một số rất ít thuộc thành
phần các tôn giáo khác, c̣n số người Công giáo làm ṇng cốt cho Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm là thuộc thành phần đă từng theo hay cọng tác đắc lực với
Pháp, nay Pháp thua bỏ về nước, họ theo chân Mỹ chạy vào Nam dưới sự hướng
dẫn của Đại tá t́nh báo Lansdale với khẩu hiệu “Đức Mẹ đă vào Nam”.
Trong lúc đó, tại miền Bắc, Chủ Tịch Hồ Chí Minh nhận thức lực lượng cách
mạng trong mối tương quan của giai cấp nông dân và thợ thuyền khởi đi từ
bản tuyên ngôn của Karl Marx (và Engels) năm 1848. Trong đó, dưới cái nh́n
của Marx-Engels, lực lượng chủ chốt của cách mạng là thợ thuyền v́ Aâu
châu thời bấy giờ kỹ nghệ đang phát triển. Lúc đến Trung Quốc là một nước
nông nghiệp chiếm đa số, và kỹ nghệ c̣n thô sơ, lại trọng nam khinh nữ,
nên khẩu hiệu của Mao Trạch Đông là ‘nông dân và thợ thuyền là chủ chốt
của cách mạng’, nhưng đă không nhắc ǵ đến vai tṛ của người phụ nữ trong
xă hội.
Tại Việt Nam, Chủ Tịch Hồ Chí Minh nhận định rằng Việt Nam vẫn c̣n là một
quốc gia nông nghiệp lạc hậu, nhưng số nhân công thợ thuyền trong các đồn
điền cao su, trong các hăng dệt, biến chế... cũng đóng một vai tṛ quan
trọng trong cuộc cách mạng. Và đặc biệt hơn, là trong xă hội số lượng
người đàn bà chiếm 50 % dân số. Đàn bà có thể vận tải lương thực, súng
đạn, đào hầm...Như thế, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đă vượt qua tầm nhận thức của
Mao Trạch Đông về lực lượng cách mạng, ông viết ‘không có nông dân, không
có thợ thuyền th́ không có cách mạng. Từ bỏ nông dân, từ bỏ thợ thuyền là
từ bỏ cách mạng. Và từ bỏ nữ giới là từ bỏ nửa công tŕnh cách mạng’. C̣n
lực lượng cách mạng của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là 7 % người Công Giáo,
như đă nói ở trên th́ làm sao tránh khỏi sự thất bại?
BỐN: Gia Đ́nh Trị
Ngô Đ́nh Diệm làm Tổng thống nhưng hoàn toàn thiếu thực quyền. Ông lại tâm
đắc với quan niệm “Cái dù che cái cán” hay “Một người làm quan cả họ được
nhờ”. V́ thế, ông Ngô Đ́nh Khôi, anh ruột ông Diệm, bị Việt Minh giết v́
cọng tác với chính phủ bảo hộ thân Pháp thối nát và bù nh́n, thế mà Tổng
Thống Diệm bắt dân miền Nam xem ông như một người ái quốc đă hi sinh v́
nước, tang lễ lại nâng lên hàng quốc táng.
Giám Mục Ngô Đ́nh Thục, anh ông Diệm và là người con trai thứ nh́ trong
gia đ́nh, lợi dụng chức quyền của người em làm Tổng thổng để bắt các sĩ
quan, quận trưởng, tỉnh trưởng và bộ trưởng đi học các lớp nhân vị tổ chức
tại Ṭa Giám mục Vĩnh Long. Lễ Ngân Khánh ngày 29. 6. 1963 (kỷ niệm 25 năm
làm Giám mục) được tổ chức như quốc lễ. Các bộ hạ thân tín của Giám mục
Thục thành lập một Uûy Ban mừng lễ Ngân Khánh gồm các nhân vật như Trương
Vĩnh Lễ, chủ tịch Quốc hội kiêm chủ tịch lễ Ngân Khánh, Bộ trưởng Nội vụ
Bùi Văn Lương, Bộ trưởng Giáo dục Nguyễn Quang Tŕnh, Viện trưởng viện
Đại-học Sài G̣n Lê Văn Thới, Viện trưởng viện Đại Học Huế Cao Văn Luận, và
tỉnh trưởng các nơi dĩ nhiên là phải tham gia. Tại các Bộ, các nha, ty,
sở, đại học, quân nhân, công, tư chức khắp 43 tỉnh và thị xă toàn miền Nam
đều thành lập các tiểu ban để bán vé, và ép công chức và quân nhân cấp úy
trở lên mua vé “Mừng Lễ Ngân Khánh”. Mỗi vé từ 2.500 đồng đến 5.000 đồng
(hối suất lúc đó :1 Mỹ Kim tương đương khoảng 25 đồng tiền Việt Nam). Có
người ra sức đóng góp nhiều hơn để lấy ḷng “Đức” Giám Mục. Với hành động
dĩ công vi tư và bóc lột trắng trợn nầy, Giám mục Ngô Đ́nh Thục thu lượm
được bạc tỷ (Vũ Văn Mẫu Sáu Tháng Pháp Nạn 1963, tr. 9, và Hoành Linh Đỗ
Mậu Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, California, Hoa Kỳ 1986, tr. 512 &
513).
Giám mục, và em là Ngô Đ́nh Nhu, độc quyền khai thác gỗ quí vùng Long
Khánh và dọc đường từ Định Quán đến Lâm Đồng, làm chủ đại thương xá Tax
đường Nguyễn Huệ, nhà sách Xuân Thu đồ sộ trên đường Tự Do, cư xá cho thuê
ở đường Trần Hưng Đạo, biệt thự sang trọng trên bờ sông Thị Nghè...Từ
thượng vàng đến hạ cám, Giám mục Ngô Đ́nh Thục đă không từ bỏ bất cứ một
cơ hội nào để làm tiền. Lấy ngân sách quốc gia để xây cất trung tâm Nhân
Vị Vĩnh Long, cất nhà cho thuê, xây dựng quán ăn, tiệm giải khát chung
quanh trung tâm nầy để kiếm lợi nhuận. Lợi dụng cơ hội trùng tu nhà thờ La
Vang để hốt bạc. Ngay cả việc nhờ “Tổng Thống Diệm ra lệnh cho Đại Tá
Phùng Ngọc Trưng (hiện ở Pháp), đang chỉ huy ngành Quân Nhu ở Quân Khu I,
phải mua nước mắm thối của các bà sơ ở Phan Thiết, để bán cho các gia đ́nh
binh sĩ” (Hoành Linh Đỗ Mậu Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi, tr. 511).
Ngô Đ́nh Nhu. Tại Sài G̣n, vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu có hai biệt thự
đồ sộ, một ở đường Phùng Khắc Khoan và một ở góc Pasteur và Hiền Vương.
Hai biệt thự nầy thuộc loại sang trọng nhất nh́ Sài G̣n. Tại Đà Lạt, biệt
thự nghỉ mát của vợ chồng bà Nhu nguy nga đồ sộ hơn, “gồm có sân vũ cầu,
hồ tắm, và nhiều loại kiến trúc sang trọng khác, đă xây dựng nhiều năm
nhưng cho đến trứơc lúc bị lật đổ, năm 1963, mà vẫn chưa hoàn thành”(The
building of this huge complex, consisting of tennis courts, swimming pool,
and several luxurious structures, took several years and had not really
been completed before the coup d’état in 1963. Tran Van Đon, Our Endless
War, Presidio Press, San Rafael, Ca. 1978, p. 64).
Ngoài ra, cùng với người anh là Ngô Đ́nh Thục, vợ chồng ông Nhu khai thác
rừng gỗ quí ở Định Quán và dọc đường Định Quán – Đà Lạt. Khai thác nước
suối Vĩnh Hảo, lông vịt ở Chợ Lớn, phân chim ở các đảo Trường Sa, Hoàng
Sa, nhà thuốc Tây O.V.P. Đó là chưa kể thủ lợi qua các chương tŕnh viện
trợ của Mỹ, tổ chức các ṣng bạc kín và vĩ đại, buôn bán thuốc phiện.
Trong cuốn “Chính Trị Thuốc Phiện Tại Đông Nam Á”: The Politics Of Heroin
In Southeast Asia, tiến sĩ Alfred W. McCoy, một chuyên viên bài trừ buôn
lậu thế giới và đă từng là cố vấn tại Nha Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Công An
miền Nam Việt Nam, viết như sau dưới tiểu mục:
“Triều Đại Diệm và Đảng Cướp Nhu
Sau khi băng đảng B́nh Xuyên bị đuổi khỏi Sài G̣n vào tháng 5. 1955, Tổng
thống Diệm, một người Công giáo rất mộ đạo, nhất quyết bài trừ nạn thuốc
phiện bằng chiến dịch công khai đốt các bàn đèn, và đóng cửa các tiệm bán
thuốc phiện...Nhưng chỉ ba năm sau, chính phủ Diệm đột nhiên thay đổi chủ
trương lành mạnh xă hội nầy bằng việc cho buôn bán thuốc phiện trở lại.
Ông Ngô Đ́nh Nhu, em ông Diệm và là giám đốc ngành mật vụ viện cớ thiếu
tiền trang trải cho các chương tŕnh t́nh báo. Mặc dù, gần ba năm qua,
chương tŕnh viện trợ của Hoa Kỳ và CIA đă cung cấp nhiều tiền cho các
hoạt động t́nh báo của ông, nhưng v́ trở ngại về nhân sự và các khó khăn
nội bộ nên ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ chỉ từ chối khoản tăng viện do ông Nhu yêu
cầu mà thôi.
Nhưng ông Nhu vẫn quyết định cho các Bang Trưởng người Hoa Chợ Lớn mở
lại các tiệm bán thuốc phiện và các bàn đèn đă bị dập tắt trong ba năm
qua...rồi thành lập đường dây chuyên chở thuốc phiện từ Lào về. Cho nhân
viên rải khắp nước Lào để mua thuốc phiện sống và dùng hệ thống hàng không
quân sự để chở nhân viên và thuốc phiện đi lại giữa Việt nam và Lào.
Trong khi Nhu trực tiếp giao thiệp với nhóm Corsicans, th́ những
điệp vụ t́nh báo khác được điều khiển bởi trưởng pḥng mật vụ, Bác Sĩ Trần
Kim Tuyến...”(Sách đă dẫn ở trên, tr.159-161).
“Mặc dù với hệ thống buôn lậu thuốc phiện quy mô cọng với các h́nh thức
tham nhũng to lớn khác đă tạo cho Ngô Đ́nh Nhu một tài sản khổng lồ nhưng
chính phủ Diệm không thể tồn tại nếu chính phủ Hoa Kỳ trở mặt chống lại...
Tháng 3. 1961, cơ quan t́nh báo Hoa Kỳ gởi bản phúc tŕnh cho chính phủ
Hoa Thịnh Đốn và phê phán ông Diệm như sau:
“Nhiều người nhận thấy ông Diệm không thể đương đầu được với Cọng
Sản v́ cai trị độc đoán, nuôi dưỡng tham nhũng ngay cả với những người
thân và từ chối dẹp bỏ chế độ kềm kẹp của ông” (VNMLQHT, tr. 523).
(Diem’s Dynasty and Nhu Bandits
Shortly after Binh Xuyen gangsters were driving out of Saigon in May 1955,
President Diem, a rigidly pious Catholic, kicked off a determined
antiopium campaign by burning opium-smoking paraphernalia in adramatic
public ceremony. Opium dens were shut down...However, only three years
later, the government suddently abandoned its moralistic crusade and took
step to revive the illicit opium traffic... Ngo Dinh Nhu, President Diem’s
brother and head of the secret police, that he needed more money to expand
the scope of his intelligence work and political repression. Although the
CIA and the foreign aid division of the State Department had provided
generous funding for those activities over the previous three years,
personel problems and internal difficulties forced the U.S. Embassy to
deny his request for increase aid.
But Nhu was determined to go ahead, and decided to revive the
opium traffic to provide the necessary funding. Although most of Saigon’s
opium dens had been shut for three years...Nhu used his contacts with
powerful Cholon Chinese syndicate leaders to reopen the dens and set up a
distribution network for smuggled opium...
To keep these outlets supplied, Nhu established two pipelines
from the Laotian poppy field to South Vietnam...
Nhu supplemented these shipments by dispatching intelligence agents to
Laos with orders to send back raw opium on Vietnamese Air Force transports
that shuttled back and forth carrying agents and supplies.
While Nhu seems to have dealt with the Corsicans personally, the
intelligence missions to Laos were managed by the head of his secret
police apparatus, Dr. Tran Kim Tuyen...(p.160-161).
Trong cuốn “Lửa Trong Hồ”, tác giả Frances Fitzgerald viết:
“Ngô Đ́nh Cẩn và vợ chồng Ngô Đ́nh Nhu tỵ hiềm gh́m nhau canh giữ các
nguồn lợi - nhân viên của hai phía thường có những cuộc chém giết lẫn
nhau vượt khỏi lằn mức thù hằn truyền kiếp. Tánh hay lo xa, nên bà Nhu đă
chuyển tài sản sang các nước Âu Châu. Ngoài ra, bà c̣n là chủ Nhà Hát trên
đường Champs Elysées (Paris), một dịch vụ đầu tư lẻ cho những kẻ tự quảng
cáo ḿnh là người Công Giáo.”
(The
two brothers jealously guarded their sources of revenue from each other –
their agents occasionally killing each other in an excess of zeal...she
owned a large theatre on the Champs Elysées – an odd investment for this
most self-advertised of Catholics (Frances Fitzgerald, “Fire In The Lake”,
NY. 1972, pp. 169 & 170).
Trong
cuốn “ Kẻ Thù Xấu Nhất Của Chúng Ta”: Our Own Worst Ennemy, tác giả
William J. Lederer viết:
“Các mật báo người Hoa và Thụy Sĩ của tôi cho biết, khoảng 18 tỉ
Mỹ Kim do một số tư nhân người Việt gởi vào các chương mục ngân hàng ngoại
quốc từ năm 1956. Gần đây một người cọng tác kín cho biết bà Nhu đă mua
đứt bằng tiền mặt một ngân hàng lớn thứ nh́ tại Paris” (trang 139). Như
thế, số tiền 18 triệu Mỹ Kim ắt hẳn là của vợ chồng bà Nhu, hoặc tiền
chung của anh em ông Diệm (Dẫn theo VNMLQHT, tr. 519 & 520).
Sử liệu cho thấy rơ như thế, nhưng những người bênh vực nhà Ngô cố ngụy
tạo sử liệu để tô son điểm phấn cho vợ chồng ông Ngô Đ́nh Nhu và các anh
em của ông.
Thật vậy, bài “Chuyện Tṛ Với Bà Ngô Đ́nh Nhu” của Trương Phú Thứ (không
biết tên thật hay giả) đăng trên Phụ Nữ Diễn Đàn, số 228 tháng 3. 2003, và
được đăng lại trên Indianapolis Việt Báo, tháng 4. 2003 (và báo Người Việt
Illinois, tháng 5. 2003). Ông Trương Phú Thứ viết rằng ông có đến thăm và
chuyện tṛ với bà Nhu tại một trong hai căn chung cư (apartments) của bà
mua ở một vùng rất đắt tiền gần tháp Eiffel ở Paris, Pháp:
“Rất nhiều người biết qua báo chí chuyện một người Pháp giàu có biếu Đức
Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục một món tiền lớn và Đức Cha Thục đă cho bà Nhu
để mua một đơn vị gia cư trong ṭa nhà cao tầng nầy và sau đó Bà giành dụm
mua thêm được một đơn vị nữa. Sự thật không phải như vậy. Bà Nhu trực tiếp
nhận được một số tiền rất lớn từ một vị ân nhân ẩn danh. Có tiền trong
tay, Bà đă nhờ một cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mua liền
một lúc hai đơn vị gia cư nầy...” Bà Nhu cho một nhà ngoại giao Nhật Bản
mướn một căn để lấy tiền sinh sống. “Vị ân nhân tặng bà Nhu số tiền kếch
sù đó là Bà Capaci, một cư dân thành Milan nước Ư và cũng là một trong bảy
người phụ nữ giàu nhất thế giới. Bà Nhu chưa một lần gặp mặt vị ân nhân
nầy măi đến bốn năm sau khi Bà Capaci tạ thế Bà Nhu mới được biết tên cũng
như thanh thế và sự nghiệp của người đă gia ân cho ḿnh.” (Trang 28 & 29).
Qua
đoạn trích dẫn nguyên văn của bài báo như trên, chúng ta thấy sao mà ḍng
họ Nhà Ngô may mắn đến thế! Một ông Giám Mục tham nhũng nhất nh́ Việt Nam,
của ch́m của nỗi cất dấu trong nhiều ngân hàng Aâu châu lại c̣n được một
người Pháp giàu có biếu cho một món tiền rất lớn! Rồi đến lượt bà Nhu, có
cả hàng tỷ Mỹ Kim trong nhà băng, như sử liệu cho thấy, vậy mà c̣n được
một người trong số 7 người phụ nữ giàu nhất thế giới, dù chưa từng gặp
mặt, cũng biếu cho một số tiền vĩ đại ! Độc giả nào tin được câu chuyện đó
th́ cứ tin. Riêng tôi, bài “Chuyện Tṛ Với Bà Ngô Đ́nh Nhu” là hư dối viết
để gỡ xấu cho nhau. Với một người khét tiếng và bí ẩn như bà Nhu trong 40
năm qua, mà lúc ông Thứ có “cơ may” chuyện tṛ với bà lại không có được
một tấm h́nh chụp chung, hay h́nh một ḿnh bà để có thể thuyết phục độc
giả v́ trong bài viết ông Thứ cho biết bà là một người rất đẹp lăo chứ có
xấu xa ǵ mà ngại người khác thấy h́nh ? Hoặc chụp một cái h́nh tổng quát
phía ngoài chung cư hay tổng thể của khu vực trong đó có chung cư của bà.
Đàng nầy, tác giả Trương Phú Thứ lại đăng một tấm h́nh của bà Nhu mà nhiều
báo tại Việt Nam đă đăng năm 1963: đang đứng và giơ cả hai tay lên, miệng
lại chu hú như đang nguyền rủa người nào (trang 7). H́nh thứ 2 là bà đang
tươi cười, vẫy tay chào và đứng chung với cô con gái, Ngô Đ́nh Lệ Thủy,
cũng chụp vào năm 1963 (tr. 29). H́nh cuối là Dinh Độc Lập, chụp năm 1968
do tác giả chú thích như thế (tr.36).
Cũng
nằm trong chiều hướng chạy tội cho nhau, gần đây, cuốn “Những Sự Thật
Chiến Tranh Việt Nam 1954-1975”, không thấy ghi ngày tháng và năm xuất
bản, nhưng được biết sách ra đời vào mùa Hè 2003 tại Nam California, Hoa
Kỳ. Tác giả “chính” là Tiến Sĩ Nguyễn Văn. Tác phẩm nầy cũng thuộc loại
viết cẩu thả vô trách nhiệm. Bài viết của tôi chủ đích là nhắm vào việc
t́m hiểu Tại Sao Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm Thất Bại, mà một trong những
nguyên nhân đưa đến sự thất bại đó là chính sách tôn giáo, trong đó có
Phật Giáo. Trong cuốn Những Sự Thật Về Chiến Tranh Việt Nam 1954-1975 nêu
trên, tác giả giành một số trang để đề cập đến Biến Cố Phật Giáo 1963 liên
hệ đến việc ông Ngô Đ́nh Diệm bị lật đỗ. V́ thế, tôi sẽ nêu lên một số sai
lầm của tác giả lúc đề cập đến Biến Cố Phật Giáo 1963 để lịch sử được sáng
tỏ:
Sai ngày tháng: Lễ Phật Đản tại Huế là ngày 8. 5. 1963 (đúng). Nhưng lễ
Ngân Khánh của Giám Mục Ngô Đ́nh Thục là ngày 29. 6. 1963, chứ không phải
được “tổ chức vài tuần trước đó” (tr. 157). Sở dĩ tôi nêu lên sự nhầm lẫn
về ngày tháng để thấy rằng sau biến cố Phật Đản ngày 8. 5. 63, hầu như
toàn dân bất măn chế độ và dư luận quốc tế cũng không thuận lợi cho chính
quyền Ngô Đ́nh Diệm, nhưng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục vẫn xem thường dư luận
nên ông vẫn tổ chức ngày kỷ niệm 25 năm làm Giám Mục của ḿnh lên hàng
quốc lễ; bắt ép dân chúng, trong đó đa số là Phật-tử, mua vé để kiếm tiền.
Sai sự kiện: Phật-tử tập trung trước đài phát thanh Huế đêm 8.5.63 là để
muốn biết lư do tại sao không phát thanh như thường lệ hằng năm, chương
tŕnh Phật Đản tổ chức tại chùa Từ Đàm vào buổi sáng cùng ngày. Để giải
tán đám đông, chính quyền Thừa Thiên Huế đă ném lựu đạn làm chết 8 Phật
Tử và sau đó một số c̣n bị xe tăng cán xác.
Sách
viết: “Theo ông Cao Xuân Vỹ, chính Tổng thống Diệm thúc đẩy việc thành lập
Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, và chính ông Diệm giúp tiền xây chùa Xá
Lợi”(tr.162). Tên cuốn sách là “Những Sự Thật...” nhưng lại trích dẫn
chứng liệu trong cuốn “Những Huyền Thoại và Sự Thật...” của Vĩnh Phúc. V́
là Huyền Thoại nên ông Nguyễn Văn cứ nhắm mắt trích đại không cần biết
đúng hay sai. Thật vậy, Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất ra đời sau năm 1963,
nghĩa là sau khi ông Diệm đă chết khoảng nửa năm th́ không thể nói rằng:
“chính Tổng Thống Diệm thúc đẩy việc thành lập Phật Giáo Việt Nam Thống
Nhất”?
Chất nổ giết Phật-tử: Theo các nhân chứng và bác sĩ giải phẫu Wulff (người
Đức theo đạo Tin Lành) th́ xe tăng đă cán xác các Phật-tử và loại lựu đạn
giết chết 8 người và một số bị thương tại đài phát thanh Huế đêm 8. 5 .63
là của chính phủ. Trước đây, những người viết sử để bênh vực nhà Ngô th́
nói rằng đây là lựu đạn của Việt Cọng. Nay ông Nguyễn Văn trích lời của
ông Cao Thế Dung và ông Nguyễn Trân th́ lại cho rằng “chất nổ giết người
là plastic của CIA mà người ném là James Scott và được James Scott xác
nhận với Đại úy Bửu (nào không biết, BK) năm 1965”(tr.158).
Lúc
đọc đến đoạn nầy, tôi muốn kiểm lại cho chắc, nên tôi phone hỏi Đại Tá
LBK: “Các nhân viên t́nh báo (CIA) sống trên lănh thổ Việt Nam cũng có
quyền mang khí giới sao?’ Ông bạn trả lời: “Không, nhưng nếu muốn th́ phải
được phép chính phủ”. Qua câu trả lời nầy tôi thấy ông Diệm chết là phải
v́ quá khờ, thiếu thông minh. Chính phủ Mỹ muốn hại ḿnh nên đă cho CIA
ném lựu đạn giết tín đồ Phật-giáo để tạo mâu thuẫn giữa chính quyền và
Phật Giáo để đưa ḿnh đến chỗ chết. Ông Diệm, t́nh báo VNCH, ngay cả những
tay chân, bộ hạ và cả những người muốn đánh bóng cho ông Diệm cũng không
tố cáo sự ma giáo của ông chủ Mỹ. Thiếu thông minh đến thế, chết là vừa,
không nên trách ai! Trong thực tế, cho đến nay chúng ta không thấy CIA nói
đến ông James Scott, ngành t́nh báo của VNCH cũng không và các sử gia cũng
thế, mà chỉ thấy các ông Cao Thế Dung, Nguyễn Trân và nay có sự đồng t́nh
của ông Nguyễn Văn. Giả thiết vụ ném lựu đạn là do Mỹ tạo sự chia rẽ giữa
Phật Giáo và chính quyền, th́ tại sao chính quyền không đưa xe cứu thương
đến cứu mà lại đưa xe tăng, rồi lại cán lên xác những người đă chết làm ǵ
cho mang tiếng? Do đó, việc cố ngụy tạo sử liệu của ba ông rất thiếu
thông minh.
Về
Thượng Tọa Trí Quang, ông Nguyễn Văn liệt kê mấy vấn đề từ nhiều nguồn tài
liệu khác nhau như sau: “Ông Hoàng Hữu Khác, Chánh Án Ṭa Án Huế”đồng
thời “giữ chức thư kư trong Ban Trị Sự Hội Phật Học Trung Việt mà Thích
Trí Quang là Bí Thư hay Tổng Bí Thư ǵ đó. Một hôm, ông Khác đọc được một
bức thư của Thích Trí Độ từ Hà Nội gởi cho Thích Trí Quang, bảo phải tổ
chức phong trào Phật Giáo chống chế độ Ngô Đ́mh Diệm” ( tr.159).
Nhận
xét: Có ai tin được một ông Chánh Aùn Ṭa Aùn lại làm chức thư kư quèn cho
ban Trị Sự Hội Phật Học Trung Việt? Trong Phật Giáo không có chức Bí Thư
hay Tổng Bí Thư. Cơ quan công an mật vụ và t́nh báo thời ông Diệm ngủ đâu
hết mà đến nỗi một bức thư thuộc loại tội tử h́nh như thế, và lại được gởi
ngơ ngơ từ Hà Nội vào Huế mà không biết? Và Thích Trí Độ, thầy của nhiều
bậc thầy lỗi lạc, lại khờ đến nỗi gởi thư đi ngơ ngơ như vậy nhưng cơ quan
t́nh báo chính phủ Diệm cũng không bắt được, t́nh báo ǵ mà “giỏi” đến thế
? Do đó, anh em ông Diệm chết là phải.
“Marguarite Higgins có được Trí Quang mời đến chùa Xá Lợi để nói chuyện và
được Trí Quang cho biết một cách công khai: Chúng tôi không thểâ thương
thảo với Miền Bắc cho tới khi hạ được Diệm Nhu” (tr. 160).
Nhận
xét: Trong giai đoạn tranh đấu Phật Giáo tôi mới học lớp đệ tứ nhưng cũng
biết được rằng, thời gian đó, nếu có một vấn đề ǵ quan trọng hay tối mật
th́ mấy thầy như cở Thượng tọa Trí Quang không dám nói chuyện trong pḥng
mà phải đi ra ngoài sân chùa hay một nơi khác v́ sợ các cơ quan t́nh báo
đặt máy nghe lén hay máy thu băng. Thế mà T.T. Thích Trí Quang lại dám nói
đến việc hạ bệ Diệm Nhu với một người Mỹ rất có cảm t́nh với anh em ông
Diệm ? Hơn nữa đoạn trích dẫn trên có câu: “Chúng tôi không thể thương
thảo với Miền Bắc...”: Nếu sử dụng một loại ngôn ngữ thiếu lịch sự và
thiếu b́nh tĩnh th́ có thể nói rằng “Thích Trí Quang là cái ǵ mà dám nói
đến việc thương thảo với Miền Bắc, và thương thảo cái ǵ, mấy hủ chao và
mấy chai nước tương chăng?”. Do đó câu chuyện của bà Higgins thuộc loại
ngụy tạo.
Cuối
trang 160 và đầu trang 161, ông Nguyễn Văn trích trong cuốn Huyền Thoại...
của Vĩnh Phúc, câu chuyện T. T. Trí Quang đối đáp với ông Hà Thúc Kư:
“...Thượng Tọa Trí Quang quắc mắt bảo: Anh nên nhớ rằng bên cạnh Phật Giáo
c̣n có khối Cộng Sản Quốc Tế yểm trợ! ”.
Nhận
xét: Thượng Tọa Trí Quang, một người đă từng “làm rung động Mỹ quốc” lại
có thể nói một câu vừa thiếu thông minh vừa không đúng với thực tế như vậy
sao? Lịch sử đă từng chứng minh rằng sau lưng Phật Giáo chỉ có dân tộc mà
không hề có một đảng phái chính trị nào. Huống hồ là có đảng Cọng Sản Quốc
Tế? Giả sử có, th́ một người thông minh như T. T. Trí Quang không bao giờ
tiết lộ sự bí mật nguy hiểm như thế cho một ông chính khách.
Mới
điểm qua 4 trang mà đă thấy tác giả phạm đến 12 sai lầm nghiên trọng. Có
lẽ chúng ta không nên mất th́ giờ để chỉ cho ông Nguyễn Văn thấy sách của
ông chỉ thuộc loại tạp nhạp, cẩu thả, vô trách nhiệm và chỉ là một tập
sách tuyên truyền có hại cho chính ông Ngô Đ́nh Diệm mà thôi. Một người
viết sử cần qua một số tiến tŕnh trong việc sử dụng tài liệu: Thu thập,
phân tích, so sánh, kiểm chứng, tổng hợp, kết luận.
Rất
buồn để nói rằng tác phẩm của ông Văn rất kém giá trị. Ông thu lượm rất
nhiều tài liệu thuộc loại huyền thoại và ngụy tạo, trích chỗ nầy một đoạn,
chỗ khác vài câu rồi nhắm mắt bỏ đại vào trong một thùng hổ lốn chứ không
cần kiểm chứng, so sánh, phân tích... Do đó, sách ông chứa đựng vô số sai
lầm và cho thấy khả năng viết của ông cần phải được bổ túc rất nhiều; để
những độc giả như tôi khỏi mất th́ giờ đọc một cuốn sách thuộc loại tạp
nhạp đến như thế. Tiếp tục về anh em gia đ́nh ông Diệm.
Ở miền Trung, Ngô Đ́nh Cẩn, em út của ông Diệm, là một lănh chúa. V́ ít
học nên sự tham nhũng và tàn bạo của ông Cẩn thuộc loại ngoại hạng. Ông
Cẩn cho người ném lựu đạn vào tiệm thuốc Tây của dược sĩ Nguyễn Cao Thăng
đường Trần Hưng Đạo, Huế, để lấy 200 ngàn đồng (bằng 200 triệu thời ông
Thiệu). Ông cùng với bà Cả Lễ (chị ruột ông Cẩn) buôn bán gạo với chính
phủ miền Bắc. Dưới trướng có các đảng viên Cần Lao Công Giáo và Đoàn Công
Tác Đặc Biệt Miền Trung bủa ra khắp nơi nên Ngô Đ́nh Cẩn tha hồ kinh tài,
buôn lậu và nắm trọn vẹn nền kinh tế quốc gia trên toàn lănh thổ miền
Trung và Cao Nguyên. Ông Cẩn c̣n cho tay chân thân tín đứng đấu thầu các
công tŕnh xây cất lớn như khách sạn, cầu cống, phi trường. Ông làm chủ
nhiều khách sạn ở các thành phố lớn và các nơi du lịch như Huế, Đà Nẵng,
Nha Trang, Sài G̣n, có nhà bào chế thuốc Tây, có hăng kỹ nghệ bông vải lớn
nhất miền Nam, Vinatexco. Ngoài ra, ông c̣n buôn bán thuốc phiện từ Lào
về. Không có một dịch vụ nào kiếm ra tiền mà ông Cẩn bỏ qua. Từ việc giết
những người giàu có để cướp của, vu khống bắt giam và tra tấn cho đến lúc
nào nạn nhân dâng hết tài sản cho ông mới được tha mạng (VNMLQHT, tr.
526-530).
Phát họa lại một vài nét tiêu biểu về chính sách gia đ́nh trị của
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, chúng ta thấy rằng anh em ông Diệm, từ ông Giám
Mục đến mấy người em, đă chia nhau quyền hành và quyền lợi để ḅn rút tài
sản và lũng đoạn quốc gia. Họ không bỏ lỡ bất cứ một cơ hội nào để có được
nhiều tiền, không do dự bất cứ một tội ác nào kể cả giết người để làm
giàu.
Trái lại, về phía miền Bắc, Chủ Tịch Hồ Chí Minh không có thân nhân bà con
bên cạnh, không có xe hơi, nhà lầu, không có của ch́m của nổi. Lối sống ấy
dễ gây được cảm t́nh của toàn dân, dễ lôi cuốn những người khác hy sinh
cho nghĩa vụ cho chương tŕnh cách mạng của ông.
NĂM: Diệt Các Đảng Phái
Và Giáo Phái
Ông Diệm người Quảng B́nh, được xem như là người miền Bắc (v́ ở bên kia vĩ
tuyến 17) vào làm “vua” miền Nam. Với óc địa phương “Nam Kỳ Quốc”, nhiều
người miền Nam không ưa. Đă thế, chính phủ Ngô Đ́nh Diệm lại có chính sách
đàn áp và tiêu diệt các đảng phái quốc gia, tiêu diệt Cao Đài, Ḥa Hảo vốn
là hai giáo phái mạnh và được nhiều người miền Nam mến mộ. Tướng Tŕnh
Minh Thế của Cao Đài bị giết mờ ám, tướng Ba Cụt Lê Quang Vinh của Ḥa Hảo
bị lừa rồi bị hành quyết, giáo chủ Phạm Công Tắc bị bôi bẩn để triệt tiêu,
phải chạy trốn sang Nam Vang. Hành động thiếu sáng suốt biến bạn thành thù
đă tạo thành những thế lực chống đối nhà Ngô lúc ngấm ngầm, lúc công khai
ầm ỹ làm lung lay gốc rễ của chế độ.
Trong lúc đó, Chủ Tịch Hồ Chí Minh đă có chủ trương tôn giáo khôn khéo.
Năm 1946 tại Paris, ông đề nghị chương tŕnh Tam Tự với các bà con người
Công Giáo: Tự Dưỡng, Tự Quản và Tự Truyền; tách rời khỏi sự khống chế quá
mức của Vatican. Tại miền Bắc, ông mời Giám mục Lê Hữu Từ làm cố vấn,
Nguyễn Mạnh Hà (người Công Giáo) làm bộ trưởng kinh tế trong chính phủ
VNDCCH đầu tiên.
SÁU: Kỳ Thị Tôn Giáo Để
Bành Trướng Nước Chúa
Ngô
Đ́nh Diệm là một con người có đến hai nhiệm vụ. Là một chính khách do Mỹ
đưa về, ông phải thỏa măn đường lối của chủ. Là một tín đồ ngoan đạo, ông
có bổn phận bành trướng nước Chúa. Đây là lư do chính để giải thích tại
sao ông Diệâm và anh em ông ta kỳ thị và đàn áp Phật Giáo, một tôn giáo có
gốc rễ lâu đời và có số lượng tín đồ đông nhất Việt Nam.
Không riêng ǵ ở Việt Nam, mà hầu hết bất cứ quốc gia nào, nhất là các
nước kém mở mang, lúc trở thành một tín đồ của đạo thờ ngài Giê-Su th́ họ
có khuynh hướng vọng ngoại, trọng ngoại và thường muốn ly khai với tổ quốc
của chính họ. Gần Hoa Kỳ th́ có nước Mễ Tây Cơ. Giáo hội Công giáo của
quốc gia nầy thường chống lại tổ quốc của họ và làm lợi cho ngoại bang là
Tây Ban Nha. V́ thế, Hiến Pháp 1917 của Mễ đă ngăn cấm giáo hội Công giáo
mở trường học và sở hữu bất động sản. Các tu sĩ lúc ra đường th́ bị cấm
không cho mặc đồ tu, không có quyền bỏ phiếu...
Gần Việt Nam, nước Phi Luật Tân bị người Bồ Đào Nha chiếm từ thế kỷ 15,
cưỡng bách dân Phi trên 80 % cải đạo qua Công giáo. Vua Philip của Tây Ban
Nha lấy tên ḿnh đặt tên cho quốc gia nầy là Philippines, có nghĩa là
những ḥn đảo của vua Philip. Cái nhục quốc thể nầy không bao giờ gỡ ra
được v́ hầu hết dân Phi là Công giáo. Ngày nay, tại một vài đảo xa thủ đô
Manila, quân thiểu số Hồi Giáo chống lại quân chính phủ và đ̣i lập một
nước độc lập tự trị cũng do những nguyên nhân lịch sử nầy.
Trong kế hoạch cưỡng bách đổi đạo, các chính quyền Công giáo đă không từ
bỏ bất cứ một hành động tàn ác nào. Chính phủ Ustashi của Ante Pavalic là
một thí dụ. Quốc gia Nam Tư (Yugoslavia) nằm trên bán đảo Balkan thuộc
khối Đông Aâu, phía Nam giáp nước Ư. Nam Tư có đến 6 bộ tộc khác nhau.
Chủng tộc Serbia có khoảng 8. 5 triệu dân, theo Chính Thống giáo. Bộ tộc
Croatia có khoảng 4. 5 triệu, theo Công giáo La Mă. Bốn bộ tộc c̣n lại dân
số khoảng 7. 5 triệu theo Hồi Giáo. Tháng 4.1941, Hitler chiếm Nam Tư rồi
biến bộ tộc Croatia thành một quốc gia riêng biệt, lập chính phủ mới có
tên là Ustashi do một giáo dân cuồng nhiệt, Ante Palavic, làm Tổng thống
với sự hỗ trợ của giáo hội Vatican La Mă. Quân đội Đức Quốc Xă và những
đội quân của các linh mục chỉ huy đi lùng bắt và khủng bố để cưỡng bách
tín đồ Chính Thống giáo đổi đạo. Chỉ một thời gian khoảng 8 tháng mà có
đến 30 % dân Serbia bị đổi đạo, và khoảng 1. 2 triệu bị giết v́ không chịu
theo Công giáo La Mă.
Ngô Đ́nh Diệm, một con chiên Việt Nam ngoan đạo, và ḍng họ ông ta, không
c̣n nằm trong thành phần vọng ngoại và trọng ngoại nữa mà đă biến thành
những người Việt- gian đắc lực. Hành động nầy được Giám mục Ngô Đ́nh Thục,
anh ruột của chính Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm chứ không phải người nào khác,
cho biết trong một bức thư gởi cho Toàn Quyền Decoux năm 1944 như đă tŕnh
bày ở đoạn trước.
Nói như Linh Mục Hoàng Quỳnh “Thà mất nước không thà mất Chúa”. Nhưng Chúa
(nếu có) th́ ở tận măi trên trời xanh không ai thấy, không ai biết. Do đó,
câu nói trên phải được hiểu “Thà mất nước, chứ không thà mất Vatican”, v́
Vatican theo tín lư là cơ quan đại diện cho Chúa ở trần gian. V́ thế, Pháp
đă gài cô Nguyễn Thị Lan, một tín đồ đạo gốc, làm vợ vua Bảo Đại với hy
vọng biến ông vua Việt Nam tương lai, Bảo Long, thành một tín đồ của
Vatican làm vua trong một quốc gia có trên 80 % là Phật Giáo. Cũng vậy,
hai thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cọng Ḥa, người dân miền Nam Việt Nam không có
tự do dân chủ, họ không có quyền chọn lựa người đại diện họ. Hai Tổng
thống đều là người Công Giáo trong số dân mà họ chỉ có 7%. Đây cũng là một
trong những lư do làm cho dân chúng bất măn chế độ.
Như đă tŕnh bày ở phần đầu, những chức vụ quan trọng trong quân đội,
trong các bộ các ngành, tỉnh trưởng, quận trưởng, viện trưởng, giám đốc,
trưởng pḥng v.v. đều do người Công Giáo nắm giữ. Nếu thiếu không kiếm
được người cùng tôn giáo mới bổ nhiệm người các tôn giáo khác. Sau đó, ông
Diệm dùng miếng mồi thăng chức, thăng quyền nhanh chóng cho những ai bằng
ḷng cải đạo. Thí dụ: Ông Trần Văn Lắm cũng nhờ đổi đạo mà giữ đựơc chức
Đại biểu Chính phủ tại Nam Phần, về sau làm đại sứ. Nhờ theo Thiên Chúa
giáo mà Nguyễn Đ́nh Thuần từ chức Đổng lư Văn pḥng Bộ Quốc Pḥng được
thăng lên chức Bộ trưởng Phủ Tổng Thống. Đại tá Nguyễn Văn Y nhờ rửa tội
nên được bổ nhiệm chức Tổng Giám đốc Nha Cảnh Sát Công An. Nguyễn Văn
Thiệu cũng nhờ rửa tội mà lên cấp tá dưới thời ông Diệm, và về sau được Mỹ
cho làm Tổng thống Đệ Nhị Cọng Ḥa (Sáu Tháng Pháp Nạn 1963, Vũ Văn Mẫu,
Giao Điểm 2003, trang 53). Thật là nhục nhă cho một số người có học mà
chạy theo chức quyền.
Tại các thôn làng, các vùng kinh tế mới, Ấp Chiến Lược, công an mật vụ của
ông Diệm, Nhu và Cẩn vu khống, chụp mũ Cọng sản lên đầu dân lành rồi bắt
họ bỏ tù. Sau đó, các bà sơ và linh mục, giám mục t́m cách móc nối với gia
đ́nh nạn nhân và khuyên họ cải đạo để được thả về c̣n không th́ bị tù rục
xương. Có nhiều người thà chết không chịu bỏ đạo nên bị chết trong tù do
thương tích tra tấn, hoặc do đổ nước lạnh hay nước xà bong vào miệng, sau
đó cai tù đứng lên bụng đạp cho nước tràn ra, và tiếp tục làm như vậy cho
đến lúc nạn nhân chỉ c̣n thoi thóp chờ chết.
Những đơn khiếu nại, rên siết của các khuôn hội Phật Giáo mà nhiều
nhất là ở các tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngăi, gởi trong các năm 1961-1962
kêu cứu giáo hội Phật Giáo Trung Phần để xin can thiệp. Một đoạn trích
dưới đây được T. T. Thích Trí Quang tóm lược đăng trong Nguyệt san Liên
Hoa năm thứ 7, phát hành vào tháng 8 năm 1964 (trang 38) cho chúng ta thấy
một phần nhỏ trong toàn bức tranh to lớn về chính sách Công Giáo trị của
chính phủ Ngô Đ́nh Diệm:
“Aáp Chiến Lược thực là chiến lược và chiến thuật vĩ đại của các chính
sách “giáo trị một chiều”. Từ sự dụng ư đến sự dùng người, từ sự đặt để
đến sự quản trị, từ sự bố trí đến sự tổ chức, Aáp Chiến Lược như những cái
nơm sắt lớn và chắc, chụp xuống tất cả tư tưởng, nhất là tín ngưỡng của
dân tộc Việt Nam. Lợi dụng danh từ “dân chủ pháp trị”, người sáng lập quốc
sách ấp chiến lược làm một việc thay đổi toàn diện bộ máy cai trị hạ tầng
thôn quê không bằng một cuộc cải cách nào khác hơn là đưa thêm người cùng
tín ngưỡng Thiên Chúa Giáo vào, đổi bỏ những người cọng tác ngày trước,
cứng rắn đến tột độ cái chính sách giáo trị dung ḥa bởi gia trị và đảng
trị. Và dĩ nhiên, các nạn nhân đại đa số Phật Giáo đến đây, càng là nạn
nhân. Hàng rào ấp chiến lược cố ư t́m cách bỏ ra ngoài nào chùa Phật
Giáo, nào nhà Phật tử và dĩ nhiên ngoài hàng rào th́ bị xem là Việt Cọng
rồi. Hàng rào ấy gần như rào chùa và rào cả sự đi lễ chùa của Phật-tử,
nhất là trong những ngày và những giờ đại lễ Phật Giáo th́ hàng rào ấy
trong không ra, ngoài không vào được. Sống trong chiếc nơm sắt ấp chiến
lược đó, Phật-tử tuy nói “liên gia tương bảo” nhưng kỳ thực đó là một hệ
thống kiểm soát của thiểu số tín ngưỡng đối với tuyệt đại đa số tín ngưỡng
khác.” (Dẫn theo Vũ Văn Mẫu, SĐD, trang 65).
Tuy nhiên, một cách công bằng hơn, đây chưa hẳn là chính sách trực tiếp
của Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm, nhưng tay chân bộ hạ của ông. Dẫu ǵ đi nữa
th́ ông là người phải chịu trách nhiệm các hành động phi pháp của anh em
trong gia đ́nh và thuộc hạ. Để được rơ ràng hơn về luận điểm nầy, dưới đây
là lời của một nhân viên trong ủy ban Liên Phái phát biểu trước ủy ban
điều tra của Liên Hiệp Quốc:
“Để
ngài có một ư niệm rơ ràng về h́nh thức, tôi phải thưa với ngài rằng, về
phương diện chính thức không có kỳ thị trong chính sách của chính phủ,
nhưng chính phủ đă dung thứ những hành vi đàn áp, những sách nhiễu và
những sự ngược đăi. Đă nhiều lần, chúng tôi gởi khuyến cáo đến chính quyền
địa phương, Tổng thống Cọng Ḥa và Quốc Hội. Song le điều ấy không có ích
ǵ và đều bị bỏ qua cả. Năm 1961, Tổng thống có tiếp tôi trong hai giờ
mười lăm phút. Tôi có nhắc lại nguyện vọng và có báo cáo với ông rằng:
Thưa Tổng thống, nếu Tổng thống không chú trọng đến nguyện vọng của Phật
Giáo đồ th́ Tổng thống sẽ gặp một phong trào toàn diện trong hàng Phật
Giáo đồ với nhiều vụ rắc rối lôi thôi, điều ấy không thể tránh được. Tôi
biết rằng Tổng thống không bao giờ có ư định đàn áp Phật Giáo, nhưng nếu
Ngài cứ tiếp tục làm ngơ trước những hành vi của cấp dưới trong chính phủ
th́ Phật Giáo đồ sẽ cho rằng chính Ngài phải chịu trách nhiệm những hành
động ấy. Mà những kẻ gây ra những sự bất công ấy là ai? Đó là những cán
bộ, những quân nhân, những nhân viên công an mật vụ, những người nầy đều
là Công Giáo. Người ta bảo sở dĩ những k |