|
Vấn đề y đức trong
nghiên cứu tế bào mầm (stem cells)
Nguyễn Văn
Tuấn
Trịnh Công Sơn có viết
một câu nhạc rất thơ mà cũng rất triết lí nhà Phật, “Hạt bụi nào hóa kiếp
thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi”, như để nhắc nhở sự mong manh,
tính phi vĩnh cửu của một đời người. Nhưng lời nhạc và ư nghĩa của nó c̣n
gián tiếp (hay chủ ư?) ví von một chân lí khoa học về sự cấu trúc cơ bản
của cơ thể con người. Quả vậy, theo thuyết của sinh học phân tử
(molecular biology), đơn vị cơ bản nhất của một sinh vật nói chung, hay
con người nói riêng là tế bào (cells). Trong cơ thể con người được cấu tạo
bằng hàng tỷ tỷ tế bào. Mỗi con người chúng ta được h́nh thành bắt đầu từ
chỉ một tế bào. Tế bào này cứ phân chia liên tục và sản sinh ra nhiều tế
bào mới để cấu tạo thành một con người “trưởng thành”.
Trong giai
đoạn sớm của nền y học, kể cả cho đến những thập niên đầu thế kỷ XX, việc
chữa trị bệnh hầu như chỉ tập trung vào chữa trị ở cấp “vĩ mô”, tức là
các phương thức trị bệnh chủ yếu dựa trên cơ chế bệnh sinh và bệnh
nguyên. Trừ nhóm bệnh nhiễm khuẩn là điều trị tương đối có kết quả, c̣n
lại hầu như chỉ giải quyết được tức thời giảm triệu chứng, hoặc kéo dài sự
chịu đựng của cơ thể mà không thể tiệt căn. Ngay cả những bệnh nhiễm
trùng th́ chữa khỏi, thế nhưng những biến chứng hay di chứng của bệnh để
lại lại là một chuyện nan giải cho cả bệnh nhân và thầy thuốc, điển h́nh
như biến chứng thần kinh, hoặc các biến chứng tim của bệnh Thấp (Rheumatic
fever). Các điều trị nếu có thể hoặc bảo tồn hoặc thay thế nhưng hầu như
không thể nào gọi là chữa khỏi được. V́ thế, không ai ngạc nhiên khi thấy
hầu hết các thuật chữa trị hiện nay chỉ đem lại hiệu quả cho khoảng 60
phần trăm bệnh nhân, và trong nhiều trường hợp bệnh nhân lại chịu phản ứng
phụ có hại cho sức khoẻ. Trong nhiều thập niên gần đây, nghiên cứu y khoa
đă bắt đầu chuyển sang một phương hướng mới: đi t́m thuật chữa trị mới sao
cho có thể ứng dụng cho từng cá nhân bệnh nhân. Đó cũng là nhờ tiến bộ
của ngành sinh học phân tử, nghiên cứu về tế bào và cấu trúc di truyền của
tế bào [1].
Dưới giác độ
di truyền của tế bào, gien có chức năng gửi các tín hiệu hóa học đi đến
tất cả các nơi trong cơ thể. Những tín hiệu này có chứa đầy đủ các thông
tin, các chỉ thị cụ thể cho các cơ quan trong cơ thể ta phải hoạt động ra
sao. Nếu những gien trong cơ thể hoạt động “b́nh thường”, và sản phẩm hay
tín hiệu của gien được chuyển giao một cách thích hợp th́ cơ thể con người
không có vấn đề; nhưng nếu trong quá tŕnh hoạt động của gien có sự cố th́
hậu quả là cơ thể sẽ mất thăng bằng và dẫn đến bệnh tật cho con người.
Do đó, có thể
nói một cách vắn tắt rằng đa số các bệnh tật, dù là thể xác hay tinh thần,
đều gần như có thể bắt nguồn từ những trục trặc của tế bào, hoặc gien.
Nhưng hầu như tất cả các thuật chữa trị bệnh tật hiện nay lại có tính cách
gián tiếp, và ước chừng. Giải phẫu, hay dùng dược phẩm đều chỉ là những
phương pháp trợ tiếp, cầm chừng, và chỉ tấn công bề ngoài của căn bệnh,
chứ chưa tiến sâu vào cơ chế hoạt động của tế bào. Ngoài ra, tất cả các
thuật chữa trị này đều dựa vào số đông chứ không dựa vào cá nhân. Chẳng
hạn như thuốc Alendronate, thử nghiệm cho thấy có hiệu quả cho số đông của
một nhóm bệnh nhân, và kết quả này được khái quát hóa cho hàng loạt bệnh
nhân khác.
V́ tế bào là
đơn vị cơ bản nhất của con người, và mỗi con người là một cá thể độc đáo
(trên phương diện sinh học, không ai giống ai), nên việc chữa trị bệnh tật
bằng cách thay thế các tế bào bị hỏng bằng các tế bào lành mạnh là một
phương pháp đang được giới khoa học chú ư nhiều nhất hiện nay. Ngoài ra,
việc thay thế những gien bị đột biến tai hại bằng những gien tốt cũng là
một phương hướng chữa trị đang được ứng dụng cho một số bệnh. Chữa trị
bằng tế bào (Cell therapy) hay bằng gien (Gene therapy), nếu không là một
hy vọng sau cùng, th́ cũng là một phát triển quan trọng nhất trong hành
tŕnh chinh phục bệnh tật của con người.
Các tế bào và
gien cũng biến chuyển theo quá tŕnh trưởng thành và lăo hóa của một con
người. Một số bệnh như Parkinson, bệnh mất trí (Alzheimer), tiểu đường,
v.v... thường tấn công vào người có tuổi, và cơ chế chính là do mất tế
bào chuyên biệt, hay do tế bào bị hư hỏng. Một cách thay thế các tế bào
bị hư hỏng hay đă mất này là bằng cách “trồng” hay “gầy giống” các tế bào
mầm, mà tiếng Anh thường đề cập đến là stem cells.
Nguồn và loại tế bào
mầm
Tế bào mầm,
nói một cách ngắn gọn, là những tế bào có khả năng phân chia
(differentiate) trong những chu kỳ không nhất định trong nuôi cấy và cho
ra những tế bào chuyên dụng hoá (specialized cells). Để hiểu rơ nguồn
gốc, công dụng, và ư nghĩa đạo đức của tế bào mầm, có lẽ cần phải điểm qua
quá tŕnh h́nh thành của một bào thai và những thuật ngữ dính dáng đến các
tế bào.
·
Sự phát
triển của con người khởi đầu bằng chỉ một tế bào. Khi một tinh trùng thụ
tinh với một trứng và tạo ra một tế bào đơn (zygote), và tế bào đơn này có
tiềm năng h́nh thành nên một cơ thể sống hoàn chỉnh. Trứng được thụ tinh
này gọi là tế bào toàn năng (totipotent cells). Như tên gọi, tế bào toàn
năng ám chỉ tiềm năng của nó là toàn bộ, có thể phân chia thành bất cứ tế
bào nào.
·
Vài giờ
đầu sau khi thụ tinh, tế bào này phân chia thành những tế bào toàn năng
đồng nhất như nhau. Điều này có nghĩa là một trong bất kỳ các tế bào nào
trong những tế bào này, nếu đem đưa vào buồng tử cung của phụ nữ, đều có
khả năng phát triển thành một bào thai. Trong thực tế, trường hợp sinh
đôi đồng dạng xảy ra khi hai tế bào toàn năng tách ra và phát triển thành
hai cá thể, thành hai con người giống nhau về cấu trúc di truyền.
·
Khoảng 4
ngày sau khi thụ tinh, và sau một vài chu kỳ phân chia của tế bào, các tế
bào toàn năng này bắt đầu chuyên dụng hoá, h́nh thành một quả cầu rỗng do
các tế bào xếp quanh, được gọi là túi phôi (blastocyst). Bên ngoài túi
phôi là lớp tế bào; bên trong là một khối kết cụm các tế bào gọi là khối
nội bào (inner cell mass). Lớp các tế bào bên ngoài sẽ h́nh thành rau
thai và các mô hỗ trợ cần thiết cho quá tŕnh phát triển của một bào thai
(fetus) trong tử cung. Các tế bào trong khối nội mạc có thể chuyển hóa
thành mọi loại tế bào làm nền tảng của cơ thể, và sẽ phát triển thành một
cơ thể người. Tự nó, các tế bào nội mạc không thể h́nh thành nên một cơ
thể sống được, v́ nó không có rau thai cũng như các mô hỗ trợ cần thiết
cho sự phát triển của thai trong tử cung như nêu trên. Các tế bào khối
nội mạc này được gọi là các tế bào đa năng (pluripotent cells), v́ khả
năng của chúng có thể h́nh thành nên nhiều loại tế bào khác nhau của cơ
thể trừ tất cả các loại tế bào cần thiết cho phát triển bào thai.
Do đó, tế bào
toàn năng rất khác với tế bào đa năng. Tiềm năng phát triển của các tế
bào đa năng không hoàn toàn, nhưng tiềm của tế bào toàn năng th́ có thể vô
tận. Tế bào đa năng không phải là phôi (embryo). Trong thực tế, nếu một
tế bào khối nội mạc được cấy vào trong ḷng tử cung phụ nữ, th́ hẳn là nó
sẽ không thể nào phát triển thành một bào thai được. Các tế bào mầm đa
năng này tiếp tục chuyên dụng hoá thành các tế bào mầm chịu trách nhiệm
tạo nên các tế bào có những chức năng đặc biệt. Chẳng hạn như tế bào mầm
tạo huyết sẽ sản sinh ra hồng huyết cầu, bạch cầu, tiểu cầu; và các tế bào
mầm da sẽ tạo nên các loại da khác nhau. Các tế bào mầm được chuyên dụng
hoá hơn này gọi là các tế bào bội năng (multipotent).
Trong khi các
tế bào mầm đóng một vai tṛ cực kỳ quan trọng trong quá tŕnh phát triển
của một con người trong giai đoạn “trứng nước”, th́ các tế bào bội năng
này cũng được t́m thấy trong cơ thể trẻ em và người trưởng thành. Trong
các tế bào mầm được nghiên cứu nhiều nhất hiện nay là tế bào mầm ḍng tạo
huyết. Các tế bào mầm tạo huyết hiện diện trong tuỷ xương của mỗi cơ thể
trẻ em và người lớn, và thực tế, có thể hiện diện với số lượng rất nhỏ
trong ḍng máu tuần hoàn. Các tế bào mầm tạo huyết này đóng một vai tṛ
then chốt của việc h́nh thành hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu trong suốt cuộc
đời. Con người không thể sống được nếu không có tế bào mầm tạo huyết.
Tế bào mầm đa năng có
thể chiết ra từ hai nguồn chính:
·
Nguồn
1. Phân lập trực tiếp từ khối nội bào của phôi ở giai đoạn túi phôi, do
đó nó c̣n được gọi là embryonic stem cells (c̣n viết tắt là ES, tạm dịch
là “tế bào mầm phôi”). Trong khi các tế bào mầm phôi của chuột đă được
dùng trong thử nghiệm khoảng hai mươi năm qua, việc nghiên cứu các phôi tế
bào mầm trong con người chỉ mới khởi đầu từ năm 1998, qua phát hiện quan
trọng của hai nhóm nghiên cứu bên Mĩ [3]. Hiện nay, các tế bào mầm phôi
thường được lấy từ các túi phôi do những cặp vợ chồng tham gia vào chương
tŕnh thụ thai nhân tạo (IVF) (đồng ư và cho phép).
·
Nguồn
2. Có thể phân lập được tế bào mầm đa năng từ mô của bào thai trong những
phụ nữ mang thai có chỉ định đ́nh chỉ thai nghén (terminated pregnancy).
Đây là nghiên cứu của Tiến sĩ Gearhart, bằng cách lấy ra các tế bào tại
một vùng nào đó của bào thai (đă có chỉ định đ́nh chỉ thai nghén) sau đó
cho vào cấy trong tinh hoàn hay buồng trứng, và cũng tạo được các tế bào
mầm đa năng giống như cách trên.
Ngoài hai
nguồn chính, một đề xuất khác mà có thể cho là một nguồn thứ ba có thể
phân lập được tế bào mầm đa năng là chuyển nhân của tế bào cơ thể (somatic
cell nuclear transfer, hay c̣n gọi là SCNT). Trong nghiên cứu trên động
vật sử dụng phương thức chuyển nhân tế bào cơ thể, các nhà nghiên cứu đă
dùng một tế bào trứng của một động vật b́nh thường, tách nhân ra [loại bỏ
cấu trúc di truyền], chỉ giữ lại chất dinh dưỡng và các chất khác có khả
năng sản sinh năng lượng cần thiết cho phôi phát triển, rồi trong môi
trường pḥng thí nghiệm rất cẩn tắc, người ta dùng một tế bào cơ thể hay
bất kỳ một loại tế bào nào khác (không dùng trứng hoặc tinh trùng), đặt
cạnh tế bào trứng vừa tách nhân đó, và chúng hợp nhất. Tế bào hợp nhất
này lập tức phân chia, và được cho rằng có khả năng hoàn toàn phát triển
thành con vật hoàn chỉnh, và v́ vậy mà tế bào đó là tế bào toàn năng. Như
vậy về mặt lí thuyết là từ đây ta có thể chiết xuất được tế bào mầm đa
năng. (Con cừu nổi tiếng “Dolly” được sản sinh bằng phương pháp SCNT).
Tóm lại tế
bào mầm đa năng, dù dưới h́nh thức nào th́ cũng được chiết xuất từ các tế
bào dạng phôi nhưng tiền thai (pre-fetal).
Trong khi đó th́ tế bào
mầm bội năng cũng có thể chiết xuất từ hai nguồn:
·
Có thể
lấy từ máu dây rốn (unbilical cord blood) của trẻ lúc mới sinh. Các tế
bào từ rốn có thể dự trữ và dùng cho các mục đích ghép.
·
Ngoài
ra, con người (trẻ em, người lớn) cũng có thể là nguồn cung cấp tế bào mầm
cho nghiên cứu. Tuy nhiên tế bào bội năng không phải hiện diện ở tất cả
các loại mô của cơ thể ở người lớn. Trong thực nghiệm người ta có thể
phân lập được tế bào mầm bội năng từ các tế bào nơ-ron (neurone) thần kinh
ở chuột. Nghiên cứu thực nghiệm trên người c̣n hạn chế, tuy nhiên cũng đă
phân lập được có lẽ là tế bào mầm của nơ-ron thần kinh từ mô năøo người
lớn trong quá tŕnh phẫu thuật thần kinh.
Tóm lại, các
tế bào mầm bội năng hoàn toàn chiết xuất từ cơ thể hoàn chỉnh, sau sinh.
Ứng dụng của tế bào
mầm đa năng
Một trong
những lí do quan trọng thúc đẩy việc nghiên cứu và ứng dụng của tế bào mầm
đa năng là từ loại tế bào mầm này mà các nhà khoa học có thể hiểu hết được
cơ chế và bản chất của những chuỗi biến đổi phức tạp xảy ra trong quá
tŕnh phát triển của một cơ thể con người. Mục đích cơ bản là nhận dạng
được các yếu tố đóng vai tṛ quyết định hướng và chuyên biệt hoá chức năng
của tế bào. Các nhà khoa học có thể biết được vai tṛ của gien, song chưa
ai biết đích thị gien nào là gien “đưa ra quyết định” và cơ chế hoạt động
của nó như thế nào. Và qua nghiên cứu, theo dơi phát triển của tế bào mầm
từ cấp độ nhân tế bào lên các nhà khoa học có thể nắm được cơ chế bệnh lí,
như suy cơ tim của bệnh nhân chẳng hạn. Một khi đă hiểu được cơ chế làm
việc, các nhà khoa học có thể, chẳng hạn như trong việc thay tim hay cấy
tim, có thể tránh được các phản ứng thải ghép mà không cần phải dùng thuốc
ức chế miễn dịch [rất nhiều tác hại và tác dụng phụ] để chống loại thải
cơ quan ghép nữa.
Vậy tế bào
mầm bội năng có tiềm năng chữa bệnh mạnh như tế bào mầm đa năng hay
không? Phải nói ngay rằng cho đến hiện nay việc sử dụng tế bào mầm bội
năng trong điều trị đă được nghiên cứu rộng răi, có thể tóm gọn trong các
lĩnh vực sau: điều trị các chứng ung thư như năo, vơng mạc mắt, buồng
trứng, u đặc (solid), ung thư tinh hoàn, ung thư hệ tạo máu; các chứng
bệnh tự miễn (autoimmume diseases) như đa xơ hoá, bệnh lu-pút ban đỏ hệ
thống, thấp khớp; bệnh thiếu hụt miễn dịch, các bệnh tổn thương tim, bệnh
ống thận bẩm sinh (hội chứng Fanconi) v.v.. Và cũng có nhiều kết qua,û
cũng như hứa hẹn, hoặc c̣n đang trong ṿng thẩm tra.
Nghiên cứu và
ứng dụng tế bào mầm bội năng trong điều trị bệnh đă đem lại hiệu quả thực
tế. Hiệu quả tích cực và hiển nhiên nhất là trong việc dùng tế bào mầm
của người trưởng thành để ghép cơ quan mà cũng có thể tránh được hiện
tượng loại thải ghép. Thế nhưng phương pháp chữa trị này cũng gặp một vài
hạn chế đáng kể. Trước hết là không phải mọi loại tế bào của cơ thể người
trưởng thành đều có thể cho phép phân lập tế bào mầm bội năng. Thí dụ
như người ta chưa phân lập được tế bào mầm của cơ tim và tế bào mầm tiểu
đảo tuỵ tạng. Thứ hai, là các tế bào mầm từ người trưởng thành hiện diện
với mức độ rất nhỏ nên khó mà phân lập chúng được dưới dạng tế bào mầm
chuyên dụng tinh khiết được, và theo tuổi tác số lượng này càng giảm
xuống. Thí dụ muốn phân lập được tế bào mầm nơ-ron thần kinh th́ phải có
mô năo lấy từ các cuộc phẫu thuật năo điêàu trị các trường hợp động kinh.
Điều khác nữa là trong việc cố gắng phân lập tế bào mầm của chính bệnh
nhân bị bệnh, nhiều khi gặp phải khó khăn v́ đó là cơ thể của người bị
bệnh, có những rối loạn chức năng tế bào rồi! Lại đi lấy tế bào đó th́
cần có thời gian đủ để có một cơ phận mới để ghép lại cho bệnh nhân, có lẽ
họ không đủ thời gian để chờ đợi. Rồi trên chính những bệnh nhân có các
rối loại về di truyền của chính cơ quan đó, liệu ta có tránh được việc
nuôi cấy lại một bộ phận bị bệnh tương tự? Và cũng đă có những bằng chứng
cho thấy rằng khả năng cho phép phân lập được tế bào mầm từ cơ thể trưởng
thành kém hơn ở những trẻ em. Thêm nữa, trên cơ thể trưởng thành, qua
tiếp xúc với môi trường sống, cấu trúc về di truyền của một cơ phận nào đó
đă có thể bị nhiễm độc rồi, và khi tái tạo lại có khả năng gây rối loạn
trong chuỗi di truyền DNA.
Đó là lí do
tại sao giới khoa học gia, các nhà nghiên cứu chuyên sâu về di truyền tế
bào, di truyền phân tử thúc đẩy việc nghiên cứu tế bào mầm đa năng, chủ
yếu là tế bào mầm phôi (ES) để tránh các nhược điểm của tế bào mầm bội
năng. Và v́ vậy đă động chạm đến các quan niệm y đức cũng như luật pháp
trong xă hội.
Một vấn đề đạo đức ?
Vấn đề mấu
chốt trong việc nghiên cứu tế bào mầm phôi là cứ mỗi tế bào được chiết ra
từ túi phôi (gồm khoảng 100 tế bào) th́ phôi bị tiêu hủy. Câu hỏi được
đặt ra là sự hủy bỏ phôi này có nên được xem là một hành động phi đạo đức
hay không?
Đối với Ki-tô
giáo, việc làm này là phi đạo đức. Giáo hoàng John Paul II, từng tuyên
bố rằng “Một xă hội tự do và đạo đức, mà nước Mĩ thiết tha muốn có, phải
từ bỏ những thói quen làm giảm phẩm cách và xâm phạm sự sống của con người
trong bất cứ giai đoạn nào từ thụ thai cho đến khi qua đời” . Cũng trong
tác phẩm “Cuốn thánh kinh của cuộc sống” năm 1995 của ḿnh, ông viết:
“Các phôi người được nuôi cấy từ ống nghiệm cũng là con người và cũng có
quyền hạn, phẩm giá và quyền sống của những con người này cần phải được
tôn trọng từ ngay điểm khởi đầu của sự hiện diện. Thật là vô đạo đức khi
đi tạo ra các phôi người như là một sự định đoạt rồi để khai thác như là
một “ chất liệu sinh học” bỏ đi” [4]. Quan điểm này bắt nguồn từ niềm tin
của Ki-tô giáo rằng sự sống của con người khởi đầu từ lúc trứng và tinh
trùng liên hợp. Nói một cách khác, Ki-tô giáo công nhận quyền sống và địa
vị đạo đức của trứng lúc thụ tinh. Do đó, các tu sĩ Ki-tô giáo phản đối
mạnh mẽ việc nghiên cứu tế bào mầm phôi . Họ phát biểu rằng họ chẳng có
phản đối ǵ nếu tiến hành nghiên cứu hay chiết xuất tế bào mầm bội năng từ
người trưởng thành hay từ dây rốn của trẻ sơ sinh cả.
Nhiều thành
phần trong xă hội cũng phản đối việc hủy diệt một túi phôi để lấy tế bào
mầm. Họ cho rằng phôi phải được tôn trọng như một con người. Và ư kiến
phản đối này c̣n đến từ những vị khoa bảng có tiếng tăm. Giáo sư
Pellegrino, giám đốc trung tâm Y đức sinh học lâm sàng, Viện đại học
Georgetown (Mĩ), tuyên bố: “Tôi phản đối bất kỳ mọi nghiên cứu nào mà làm
huỷ hoại cấu trúc phôi người c̣n sống. Phôi người là thành viên của loài
người tính từ khi thụ tinh, và v́ vậy cần phải gắn liên với đạo đức đặc
biệt. Tôi chọn điểm mốc là 14 ngày, các nghiên cứu tiến hành trên phôi
người vào thời điểm trước đó th́ chấp nhận được” [5].
Một túi phôi
không phải là một nhóm tế bào thông thường, mà nó có đầy đủ các thông tin
về di truyền, và có khả năng phát triển thành một con người. V́ thế, mà
người ta lí giải rằng sự tôn trọng cho con người phải b́nh đẳng, bất kể
con người đang ở trong giai đoạn phát triển nào.
Đứng trên
quan điểm vị lợi thực tế, phôi là một thực thể không có khả năng tự vệ,
hiện nay không được bảo vệ. Ngoài ra, người ta c̣n chất vấn vấn đề phân
phối phí tổn và lợi ích có thực sự công bằng và theo nguyên tắc công lí
hay không. Họ lập luận rằng thay v́ đem tiền của công sức vào nghiên cứu
các tế bào mầm phôi này th́ tập trung sức lực vào nghiên cứu cơ chế bệnh
lí ở khía cạnh khác, hoàn thiện nghiên cứu hoá dược, cơ chế tác động dược
động, dược lực học để t́m ra thuốc chữa bệnh mới. Lịch sử nghiên cứu y
khoa cho thấy chúng ta cần phải củng cố bảo vệ những người yếu thế, thấp
cổ bé họng. Tuy nhiên, chính sách bảo vệ này chưa được áp dụng cho các
phôi tế bào. Do đó, có người dựa vào nguyên lí pḥng ngừa (precautionary
principle) cho rằng thà xă hội sai lầm trong việc không tiêu hủy phôi hơn
là sai lầm trong việc hủy diệt một con người!
Những tranh
luận xung quanh nghiên cứu tế bào mầm không chỉ giới hạn trong giới nghiên
cứu khoa học hay tôn giáo, mà c̣n lan rộng ra ngoài xă hội nói chung, lôi
cuốn theo giới chính trị. Kể ra th́ cũng dễ hiểu, v́ sử dụng bào thai con
người cho nghiên cứu khoa học không những là một việc làm tế nhị, mà c̣n
có ư nghĩa về xă hội, tôn giáo, đạo đức, và chính trị. Người ủng hộ và
người chống đối đang đứng trước một trận chiến là có nên hợp pháp hóa hay
không hợp pháp hóa nghiên cứu tế bào mầm.
Phản ứng
chính trị tỏ ra rất khác biệt giữa các quốc gia. Ở Âu châu, một số nước
như Áo, Ba Lan, Tiệp, Thụy Sĩ và Na Uy không có đạo luật nào ngăn cấm
nghiên cứu hay sử dụng tế bào mầm. Ở các quốc gia khác như Thụy Điển, tế
bào mầm được cho phép sử dụng. Đức cho phép các nhà khoa học nhập cảng tế
bào mầm từ các nước khác. Anh có lẽ là quốc gia có chính sách rộng rải và
thực tế nhất: Anh chó cho phép nghiên cứu tế bào mầm. Ở Úc th́ vẫn đang
bàn căi gay gắt về vấn đề cloning và tế bào mầm. Canada th́ cho phép dùng
tế bào mầm trong một khuôn khổ nhất định, nhưng Quebec lại cấm dùng phôi
tế bào trong nghiên cứu. Ở Nhật, phôi tế bào mầm có thể được gieo trồng
với điều kiện các tế bào này lấy từ các chương tŕnh thụ thai nhân tạo.
Tại Mĩ, trong một thông điệp phổ biến rộng răi trong công chúng vào ngày 9
tháng 8 năm 2001, Tổng thống Goerge W. Bush thông báo về một quyết định
(phải mất một thời gian suy nghĩ lâu dài) là chi cấp một ngân sách thích
hợp chỉ cho phép nghiên cứu trên khoảng 60 ḍng tế bào mầm (stem cell
line) từ phôi đă được phá huỷ rồi mà thôi. Trong khi Ông Bush từ chối cấp
ngân sách nghiên cứu tế bào mầm từ những phôi chưa phá huỷ, điều cần ghi
nhận là quyết định này của ông chỉ áp dụng cho các đơn vị nghiên cứu công
lập thôi chứ chưa áp dụng cho các đơn vị nghiên cứu tư.
Sự sống con người bắt
đầu từ lúc nào?
Tuy nhiên các
quan điểm trên đây, kể cả quan điểm của Ki-tô giáo, không giải thích tại
sao một trứng thụ tinh được xem là một con người có đạo đức, cũng như
không cho biết những tiêu chí nào mà Ki-tô giáo và những người phản đối
[chương tŕnh nghiên cứu tế bào mầm] dùng để định nghĩa một con người.
Thành ra, câu hỏi cần được đặt ra là: “sự sống con người bắt đầu từ lúc
nào?” Phát biểu một cách khác: khi nào th́ một sinh vật, một thực thể
được xem là một con người.
Phải nói ngay
rằng không có câu trả lời đơn giản cho câu hỏi này, bởi v́ có nhiều khía
cạnh để định nghĩa một con người, và những khía cạnh này phát sinh trong
nhiều thời điểm khác nhau. Theo chúng tôi, một thực thể chỉ là con người
khi thực thể đó hội đủ những đặc tính di truyền, khả năng nhận thức, nhân
dạng sinh học, và ư thức đạo đức.
·
Về khía
cạnh di truyền, tất cả các thông tin để cấu tạo nên một con người đều chứa
trong một hợp tử. Từ lúc thụ thai, tế bào đă có đủ 23 cặp nhiễm sắc thể,
và có khả năng tự nhân ra nhiều tế bào khác để cấu tạo thành một con người
sau này. Điều cần nói thêm là không chỉ tế bào mầm mới có các thông tin
di truyền, mà hầu hết các tế bào khác trong con người đều chứa thông tin
di truyền.
·
Tiềm
năng nhận thức chỉ phát sinh sau khi bào thai đă có một cấu trúc thần kinh
cơ bản. Trong giai đoạn thụ thai, cấu trúc này chưa có trong tế bào. Lí
trí chỉ phát triển khi vùng vỏ ở bộ năo được h́nh thành, và chỉ khi nào
những vùng như thế hoàn toàn phát triển trong giai đoạn cuối cùng mang
thai. Kể cả đến khi trẻ sơ sinh ra đời các dây thần kinh vẫn chưa được
phát triển đầy đủ và trưởng thành được.
·
Nhân
dạng sinh học (biological identity), trên thực tế bào thai người 4 tháng
(16 đến 20 tuần tuổi thai) là đă có đầy đủ các cơ phận như một con người.
·
Về khía
cạnh đạo đức, một cá nhân chỉ nhận thức được đúng / sai sau khi sinh ra và
có thể trước độ tuổi niên thiếu hay dậy th́, lúc mà cá nhân đă phát triển
cá tính riêng biệt và ư thức được các giá trị đạo đức xă hội.
V́ có nhiều
khía cạnh như thế, sự bất đồng ư kiến về thời điểm mà con người phát sinh
là một điều dễ hiểu và đương nhiên. Tuy nhiên, qua những cân nhắc trên
đây, thật khó mà cho rằng phôi là con người, và không có lí do ǵ để điều
chỉnh cái thời điểm phát sinh con người lùi lại thời điểm thụ tinh. Một
hợp tử có thể có đầy đủ các thông tin di truyền (cũng như một cọng tóc,
một khối nước bọt, một giọt máu đều có thông tin di truyền), nhưng hợp tử
cũng có thể tự tách rời thành hai hợp tử (sinh đôi), hay cũng có thể phát
triển thành một bào thai. Chỉ khi nào một hợp tử phát triển thành bào
thai th́ những khía cạnh con người mới có ư nghĩa. Và ngay cả khi hợp tử
có khả năng phát triển thành bào thai, có nhiều yếu tố khác trong giai
đoạn thai nghén có thể ảnh hưởng đến sự h́nh thành và phát triển của bào
thai. Thụ tinh chỉ là một trong nhiều bước cần thiết để phát triển thành
một cá nhân, một con người. Thụ tinh không phải là mốc thời điểm để định
nghĩa một con người, và kết quả khởi đầu của thụ tinh không phải là một
con người.
Hủy diệt tế bào phôi
là vô đạo đức ?
Quay trở lại
câu hỏi căn bản: có thể cho rằng sự hủy diệt một túi phôi là một hành động
giết người, hay vô đạo đức hay không? Như tŕnh bày trên, một số người
cho rằng hủy diệt túi phôi để chiết tế bào mầm là một việc làm vi phạm đạo
đức con người. Nhưng xét cho cùng, quan điểm này có vẻ nghiêng về cảm
tính hơn là lí trí.
Phôi thường
hay bị sẩy, và bị tiêu hủy một cách “tự nhiên” Thật vậy, nếu cho một khả
năng thụ thai tối đa của một người phụ nữ th́ tháng nào đến kỳ đều có khả
năng thụ thai được. Nhưng ta chỉ xác định được là phôi đó đó đă có thể đậu
thành thai khi họ có thai, c̣n làm sao xác định được bao nhiêu phôi đó đă
không tạo thành thai được, và bị thải ra ngoài! Và không ai lại lí giải
rằng quá tŕnh thải này là vô đạo đức, hay trái luân lí! Hoặc là, trong
một trường hợp một người phụ nữ nào đó đă mang thai, mà phải có chỉ định
đ́nh chỉ thai nghén (bệnh tật đe doạ tính mạng) th́ có phải là vô đạo đức
hay không khi ta huỷ một bào thai hẳn hoi đó?
Thêm nữa như
đă phân tích ở trên một tế bào mầm đa năng là tế bào sẽ phát triển thành
thai. Thế nhưng nếu chỉ đem cấy tế bào mầm đa năng này không thôi vào
trong tử cung phụ nữ th́ nó sẽ chết và không bao giờ thành thai để mà
thành người được (v́ c̣n thiếu lá rau để nuôi dưỡng). Nói lá rau cũng là
con người hay một bộ phận của con người th́ không được. Như vậy thực thể
người có thể xác định ở giai đoạn nào đó ít nhất là khi đă thành h́nh
người, chứ khó thể ở giai đoạn phôi, thậm chí tiền kỳ giai đoạn thai. Cho
nên, ta có thể nói dù là tế bào toàn năng (totipotent), hay đa năng
(pluripotent) th́ cũng chỉ có thể là một chất liệu cần thiết để h́nh thành
sự sống chứ chưa phải là một thực thể sống. Nó như một tế bào sống. Và
không thể coi một tế bào sống là một thực thể sống được.
Thêm nữa như
đă phân tích ở trên một tế bào toàn năng là một tế bào có khả năng để cho
một bào thai để lớn lên thành một con người hoàn chỉnh, thông qua việc
phân chia thành tế bào đa năng và lớp tế bào ngoài. Và chỉ có phần tế bào
mầm đa năng mới phát triển thành thai mà thôi. Thế nhưng nếu chỉ đem cấy
tế bào mầm đa năng này không thôi vào trong tử cung phụ nữ th́ nó sẽ chết
và không bao giờ thành thai để mà thành người được! Vậy nhận định như thế
nào ở đây? Nói khái niệm con người tính từ khi thụ tinh th́ quả khó, v́
chỉ có một phần sau đó (tế bào đa năng) mới thành người, mà đem cái
“người” đó cấy vào cơ thể th́ không thể thành người được (v́ thiếu lá rau
nuôi dưỡng).
Một sự hủy
diệt vô đạo đức và trái luân lí chỉ khi nào (i) sự hủy diệt đó có chủ tâm
và (ii) thực thể bị tiêu hủy là sinh vật có ư thức, có đạo đức. Điều kiện
thứ nhất giải thích tại sao những sự huỷ diệt do thiên tai hay tai nạn
như băo lụt, núi lửa, thú dữ giết người, kể cả tai nạn do con người gây ra
như đắm tàu do tai nạn không lường trước, tai nạn máy bay do thời tiết
xấu đột ngột là ngoài phạm vi của luân lí và đạo đức. Điều kiện thứ hai
giải thích tại sao những hành động hủy diệt cây cỏ, côn trùng, thậm chí
uống thuốc trụ sinh (chẳng hạn như penicillin), v.v... không được xem là
vô đạo đức.
Cả hai điều
kiện này phụ thuộc vào nhận thức. Thú dữ là động vật không tỉnh thức,
không có ư thức, và do đó không có một nhận thức nào về hậu quả đạo đức
của hành động của nó, nên hành động hủy diệt này phải được xem là ngoài
phạm vi của đạo đức. Cũng chẳng ai quy kết cho viên phi công lái máy bay
v́ tai nạn thời tiết bất ngờ là vô đạo đức. Tương tự, khoai, rau cỏ, vi
khuẩn, muỗi, v.v… tất cả đều không có ư thức. Tiêu hủy chúng không có
nghĩa là vô đạo đức, bởi v́ chúng không phải là những sinh vật đạo đức.
Trong trường
hợp của phôi, đó là một thực thể không có một ư thức nào, và cũng chính v́
các tế bào phôi chưa biệt hóa thành các tế bào biệt dụng (như tế bào thần
kinh) do đó chúng có giá trị trong nghiên cứu y học. Phôi, cũng giống như
rau cỏ hay vi khuẩn hoàn toàn không có ư thức. Phôi có thể có đầy đủ chất
liệu di truyền, nhưng các chất liệu đó chưa phát sinh thành bộ năo. Vả
lại, chất liệu di truyền chỉ là một điều kiện cần, chứ chưa là một điều
kiện đủ để phát sinh một con người.
Một số người
phản đối nghiên cứu tế bào mầm cho rằng việc thay thế (hay tái tạo) tế bào
mới, hay phát sinh di truyền (clone) là một việc làm chỉ có Thượng đế
(God) mới có quyền. (Nhưng họ không giải thích tại sao đóng vai tṛ
thượng đế để giải quyết vấn đề bệnh tật là một việc làm xấu xa cần phải
tránh.) Một cách gián tiếp, những người phản đối nghiên cứu tế bào mầm
tin tưởng vào thuyết di truyền định mệnh (genetic determinism), và hàm ư
cho rằng dùng tế bào mầm để chữa trị bệnh tật là một sự cướp quyền của
thượng đế, cái quyền mà con người không nên có. Nhưng luận điểm này cũng
đồng nghĩa với sự chối bỏ vai tṛ của ư thức, của tri thức, và có thể nói
là phản khoa học. Không ai biết thượng đế có quyền ǵ, và cũng chẳng ai
thấy thượng đế ra sao hay phát biểu ǵ. Chưa có bằng chứng ǵ để cho rằng
ư thức là một cái ǵ đó do thần linh nào đó ban cho. Nhưng có bằng chứng
cho thấy ư thức không phát sinh một cách t́nh cờ, mà là sản phẩm của một
quá tŕnh lao động tiến hóa. Tri thức của con người liên tục đi t́m chân
lí và đặt câu hỏi về đạo đức, và đó chính là một sản phẩm của chính con
người, chứ không phải sản phẩm của một thượng đế nào cả.
Những cân
nhắc trên đây cho thấy, nghiên cứu phôi tế bào mầm không phải là một việc
làm vô đạo đức hay trái luân lí. Quyền nghiên cứu dùng tế bào mầm để chữa
trị bệnh tật không phải là chỉ là quyền uy của một thượng đế vô h́nh nào
đó, mà thể hiện một sự mở rộng lựa chọn của con người, một sự mưu cầu tri
thức nhằm vào mục tiêu cuối cùng là diệt khổ. Diệt khổ cũng là một mục
tiêu của Phật.
Chú thích
[1] Tế bào là đơn vị cơ
bản của mọi sinh vật. Mỗi tế bào có một màng bao bằng chất béo (lipid) và
chất đạm (protein), hai màng này kiểm soát tất cả các chất ra và vào tế
bào. Trung tâm của mỗi tế bào là cái nhân (nucleus). Cái nhân này có
chứa những chất liệu di truyền mà ta thường gọi là DNA (viết tắc từ chữ
deoxyribonucleic acid).
Theo một ước tính gần
đây, mỗi gram mô (tissue) chứa khoảng một tỷ tế bào. Có nhiều nhóm tế bào
trong cơ thể con người, và mỗi nhóm tế bào chuyên dụng (specialized cells)
có nhiệm vụ khác nhau. Chẳng hạn như tế bào năo có nhiệm vụ giữ ǵn trí
nhớ và tri thức, chỉ huy vận động, cảm giác v.v..; tế bào tim kiểm soát
tim đập nhịp nhàng; tế bào ruột điều chế chất nhầy (mucus), v.v... Trong
cơ thể, các tế bào này có thời gian tồn tại nhất định. Chẳng hạn như tế
bào tinh trùng nam chỉ sống sót khoảng vài tháng, trong khi đó tế bào
trứng của phái nữ có thể tồn tại đến 50 năm khi chưa rụng. Đa số tế bào
đều có khả năng tái tạo, trừ các tế bào thần kinh.
Về cấu trúc của một đơn
vị tế bào người đều giống nhau, mặc dù khác nhau về chức năng và thời gian
sống : trong mỗi tế bào đều có một cái nhân (nucleus) nằm chính giữa.
Nhân này có chứa những chất liệu di truyền mà ta thường gọi là DNA (viết
tắc từ chữ Anh, DeoxyriboNucleic Acid). Mỗi nhân thường có hàng triệu
DNA. mỗi DNA gồm có bốn mẫu tự (yếu tố hóa học, c̣n gọi là nucleotide): A
(adenine), C (cytosine), G (guanine), và T (thymine). Một mảng DNA tạo
thành một gien. Và nhiều gien tạo thành một bộ di truyền hay nhiễm sắc
thể, c̣n gọi là chromosome. Cơ thể Con người có 23 đôi nhiễm sắc thể. Có
thể nói một cách ví von bằng cách dùng quyển sách như là một ví dụ để minh
họa cho mối liên hệ giữa gien, nhiễm sắc thể, và bases. Trong sách có 23
chương (chromosome); mỗi chương có nhiều câu chuyện (gien); mỗi câu chuyện
có nhiều đoạn văn (exons); mỗi đoạn văn có nhiều chữ (codons); và mỗi chữ
được viết bằng 4 mẫu tự (bases).
[3] J.A. Thomson, và
đồng nghiệp, “Embryonic stem cell lines derived from human blastocysts,”
Tập san Science, năm 1998; bộ 282: trang 1145-1147; B.E. Reubinoff, và
đồng nghiệp, “Embryonic stem cell lines from human blastocysts: somatic
differentiation in vitro,” Tập san Nature Biotechnology, năm 2000; bộ 18:
trang 399-404.
[4] Tạm dịch từ phát
biểu “A free and virtuous society, which America aspires to be, must
reject practices that devalue and violate human life at any stage from
conception until natural death,” John Paull II, 2001; và trong cuốn The
Gospel of life, Pope John Paul II, 1995 : “ Human embryos obtained in
vitro are human beings and are subjects with rights; their dignity and
right to life must be respected from the first moment of their moment of
their existence. It is immoral to produce human embryos destined to be
exploited as disposable “biological material”.”
[5]
Physician’s Weekly, 4 tháng 10, 1999, Bộ XVI, số 37.
|