|
Ung thư vú và vấn
đề thông tin y khoa
Nguyễn Văn
Tuấn
Hiện nay ở các
nước Tây phương các giới chức y tế đang phát động một phong trào khám
nghiệm một số bệnh ở qui mô cộng đồng, mà tiếng Anh thường gọi là “mass
screening”, hay “screening”. Một số bệnh đặc biệt được chú
trọng trong các chương tŕnh qui mô này là ung thư vú, ung thư tuyến tiền
liệt (prostate cancer), và AIDS/HIV. Họ (giới y tế) kêu gọi những người
có tuổi nên đi khám bác sĩ thường xuyên và thử nghiệm xem có bị ung thư
tuyến tiền liệt (trong đàn ông) hay ung thư vú (trong phụ nữ) hay không.
Đây là một vấn đề c̣n trong ṿng tranh luận gay gắt trong giới y khoa,
nhưng h́nh như những bất đồng ư kiến này vẫn chưa được công chúng, nhất là
cộng đồng người Việt, thông hiểu. Thực vậy, trong một nghiên cứu ở Mỹ
cách đây hai năm về kiến thức ung thư vú, chỉ trên dưới một phần ba phụ nữ
gốc Việt có kiến thức đầy đủ về ung thư vú [1].
Tuy thế, trong cộng đồng người Việt, một
phong trào khám nghiệm ung thư ở qui mô lớn đă được phát động ở vài nơi có
đông người Việt cư ngụ. Chẳng hạn như tài liệu “Ung thư vú: Những điều
phụ nữ Việt Nam nên biết” (trong Chương tŕnh y tế Health is Gold!
– Sức khỏe là vàng, do Trường Y khoa thuộc Đại học California – San
Francisco (UCSF)) ấn hành, khuyên: “Phụ nữ 50 tuổi trở lên cần phải
chụp quang tuyến vú mỗi một hoặc hai năm một lần. Phụ nữ dưới 50 tuổi
hoặc phụ nữ có nguy cơ bị ung thư vú, nên hỏi ư kiến bác sĩ của ḿnh về
việc chụp quang tuyến vú,” và “Phụ nữ từ 20 đến 39 tuổi cần phải đi
khám vú mỗi ba năm một lần. Phụ nữ 40 tuổi trở lên cần phải đi khám vú
mỗi năm một lần.”[2] Ở Sydney, một tài liệu do Bộ y tế Úc lưu hành
trong cộng đồng người Việt ở Sydney viết [trích đoạn]: “Những người […]
khi đến tuổi từ 40 trở lên, nên thường xuyên đi khám bác sĩ. Việc khám
ngừa ung thư tuyến tiền liệt gồm thử máu và khám tuyến tiền liệt qua đường
hậu môn.” [3]
Nhưng giới y
tế lại mâu thuẫn với nhau. Sự mâu thuẫn xoay quanh ba vấn đề chính: chụp
X-quang tuyến vú (mammagraphy), khám nghiệm vú do bác sĩ tiến hành, và
bệnh nhân tự khám vú. Hiệp hội ung thư Mỹ khuyên phụ nữ từ độ tuổi 40 trở
lên nên đi chụp quang tuyến vú và đi khám bác sĩ mỗi năm (hay mỗi
hai năm). Trong khi đó Cơ quan pḥng chống ung thư vú (Mỹ) và Hiệp hội
ung thư (Canada) lại khuyến cáo các phụ nữ này chỉ nên đi chụp quang tuyến
vú mỗi một (hay hai năm) nhưng không phải từ độ tuổi 40 mà kể từ lúc 50
tuổi trở lên. Cả hai nhóm cũng không đồng ư với hiệu quả của việc bệnh
nhân tự khám vú. Nhưng Hiệp hội ung thư Mỹ khuyên phụ nữ tuổi từ 20 trở
lên nên tự ḿnh khám vú hàng tháng để phát hiện xem có dấu hiệu ǵ bất
thường hay không!
Với những lời
khuyến cáo mâu thuẫn này (tất cả đều xuất phát từ các cơ quan chuyên môn),
phụ nữ nên nghe lời ai? Để trả lời câu hỏi này, người phụ nữ cần phải
biết lợi ích và tác hại của việc kiểm tra ung thư vú. Chắc chắn sẽ không
có một quyết định bao quát cho mọi phụ nữ, v́ họ khác nhau về bối cảnh gia
đ́nh cũng như các đặc tính lâm sàng và sinh học.
Tại sao cần
khám nghiệm ung thư? Việc tham gia vào các chương tŕnh khám nghiệm ở qui
mô cộng đồng này đem lại lợi ích ǵ cho người phụ nữ? Hậu quả của kết quả
thử nghiệm ra sao? Bài viết này sẽ điểm qua những vấn đề này, và hi vọng
sẽ cung cấp cho đồng hương một vài thông tin mà các giới chức y tế không
(hay ít khi nào) đề cập đến, và hi vọng qua đó, đồng hương sẽ tự ḿnh
quyết định có nên tham gia vào các chương tŕnh thử nghiệm như thế hay
không. Bài này sẽ chia làm hai phần: phần I đề cập đến các vấn đề liên
quan đến ung thư vú, và phần II là các vấn đề liên quan đến ung thư tuyến
tiền liệt.
Ung thư vú
Ung thư vú được định nghĩa là bất cứ một u (bướu) ác tính nào có trong
vú. Sự phát sinh ung thư vú, cũng giống như các dạng ung thư khác, là hậu
quả của sự rối loạn trong quá tŕnh tái sản xuất tế bào. Tế bào trong cơ
thể chúng ta sản xuất và tái sản xuất một cách liên tục. Thông thường,
các tế bào “lành mạnh” phân chia và sao chép khi nhận được tín hiệu hóa
học. Qui tŕnh phân chia và sao chép này được tiến hành một cách chính
xác, với một chu ḱ gần như bất biến. Nhưng một khi chu ḱ này bị làm cho
rối loạn, cấu trúc DNA bị thay đổi, và các tế bào đột biến bắt đầu không
tuân theo qui tŕnh phân chia và sao chép như đă định, và sau cùng là hỗn
loạn hệ thống tái sản xuất tế bào. Hậu quả của sự rối loạn sản suất và
sao chép này dẫn đến ung thư. Dấu hiệu chính của ung thư vú là một chỗ
lồi trong vú. Đôi khi dấu hiệu khác đáng chú ư là một chỗ lồi trong nách,
do ung thư lan đến các hạch máu trắng. U có thể lan đến xương, phổi, và
gan.
Mỗi vú có khoảng 15 đến 20 “khu vực”, gọi là thùy (lobe); mỗi thùy
được chia thành nhiều vùng nhỏ, gọi là tiểu thùy (lobules).
Thùy và tiểu thùy liên kết với nhau bằng những ống dẫn nhỏ (ducts). Dựa
vào cấu trúc này, ung thư vú được phân thành nhiều loại khác nhau, chủ yếu
là:
Ung thư ống dẫn sữa có giới hạn
(ductal carcinoma in situ hay c̣n gọi là DCIS). Như tên
gọi, loại ung thư này chỉ giới hạn trong các ống dẫn sữa và không lan sang
các mô chung quanh. Loại ung thư này rất khó phát hiện bằng mắt thường, mà
chỉ có thể phát hiện qua quang tuyến X. Khoảng 20% các trường hợp ung thư
vú là thuộc dạng “ung thư hiền” này.
Ung thư ống dẫn sữa lan rộng
(invasive ductal cancer). Đây là loại ung thư vú thường thấy nhất.
Khoảng 70% các trường hợp ung thư vú là thuộc dạng này. Nó thường được
biểu hiện dưới h́nh thức một cục bướu cứng, và thường thấy trong các tế
bào của các ống dẫn sữa.
Ung thư miu-xin
(Mucinous carcinoma) cũng là một dạng bướu ác tính, nhưng ung thư này có
chứa các tế bào sản xuất chất nhầy, và chất nhầy làm cho cục bưới có màu
lóng lánh. Chỉ có khoảng 3% trường hợp ung thư vú thuộc dạng này.
Ung thư tiểu thùy lan rộng
(invasive lobular carcinoma). Đây là một dạng ung thư thường hiện diện
trong hai đầu ống dẫn sữa hay trong các tiểu thùy. Loại ung thư này chiếm
khoảng 5% trong các trường hợp ung thư vú.
Tỉ lệ người bị ung thư vú khác biệt giữa các sắc dân. Nói chung, người da
trắng có nguy cơ bị ung thư vú cao nhất, kế đến là người da đen, và thấp
nhất là người Á châu da vàng.
Chưa ai biết chính xác các nguyên nhân của ung thư vú. Nhưng dựa vào
những ǵ mà nghiên cứu khoa học cho chúng ta biết trong thời gian qua, có
thể nói rằng phần lớn ung thư vú có liên hệ với các yếu tố kích thích tố
(hàm lượng kích thích tố nữ [estrogen] cao, tuổi có kinh sớm …), môi
trường và cách sống (như thói quen ăn uống quá nhiều chất béo, hút thuốc
lá, ít tập thể dục …). Điều cần nhấn mạnh là các yếu tố này “liên quan”
với, chứ không hẳn là “nguyên nhân gây ra”, ung thư vú. Tức là, ví dụ như
có người ăn nhiều chất béo và có kinh sớm nhưng không bị ung thư vú, nhưng
có người ăn ít chất béo và có kinh muộn lại bị bệnh. Chưa ai có thể dùng
các yếu tố này để đoán biết chắc chắn xem ai sẽ bị và ai sẽ không bị ung
thư vú. Nhiều nghiên cứu dùng các phương pháp toán học phức tạp để tiên
đoán nhưng kết quả vẫn chưa thể ứng dụng vào thực tế lâm sàng.
Ngoài các yếu tố kích thích tố và môi trường, di truyền cũng đóng một vai
tṛ khiêm tốn. Khoảng 10% trường hợp ung thư vú là do di truyền. Cho đến
nay, sau hơn 30 năm nghiên cứu, các nhà khoa học phát hiện hai genes có
dính dáng đến ung thư vú, gọi là BRCA1 và BRCA2 gene. Nhưng hai genes này
hiện diện rất ít trong phụ nữ. Điều này có nghĩa rằng, nếu trong gia đ́nh
có mẹ hay chị em gái bị ung thư vú, th́ cá nhân đó có xác suất (hay nguy
cơ) bị ung thư vú cao hơn trung b́nh, chứ không phải là 100%.
Hiện nay, có nhiều cách để khám nghiệm ung thư vú, nhưng tựu trung lại, có
thể nói là 3 cách: dùng quang tuyến X, do bác sĩ khám, và tự khám. Các
chương tŕnh khám nghiệm ung thư vú thường kêu gọi phụ nữ nên đi khám bằng
quang tuyến X ít nhất là một lần, và thường xuyên tự khám hay đến bác sĩ
để được khám. Nhưng v́ mức độ nguy cơ bị ung thư vú tăng theo tuổi tác,
những lời khuyên thường được dựa vào tuổi của mỗi cá nhân. Tuy nhiên, như
đề cập trên, ngay cả cùng độ tuổi mà giới y tế vẫn có những lời khuyên mâu
thuẫn nhau. Để hiểu rơ vấn đề, phần c̣n lại của bài viết sẽ bàn về lợi và
hại của từng phương pháp và từng độ tuổi.
Khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X
Mục đích chính
của những chương tŕnh thử nghiệm ung thư vú ở qui mô cộng đồng là, qua
phát hiện ung thư sớm, hi vọng sẽ điều trị và quản lí căn bệnh sớm, và làm
giảm tỉ lệ tử vong. Nói một cách khác, mục đích chính của việc khám
nghiệm ung thư vú là để cứu người, ngăn ngừa những cái chết không cần
thiết.
Đó là một lí tưởng cao cả và đẹp. Làm sao
xác định được việc khám nghiệm ung thư vú có thể đáp ứng được mục tiêu
[giảm tỉ lệ tử vong] trên. Phương pháp tốt nhất và đáng tin cậy nhất là
tiến hành một thử nghiệm lâm sàng đối chứng ngẫu nhiên (controlled
randomized clinical trials), mà trong đó một số lớn phụ nữ được chia thành
hai nhóm: nhóm 1 được khám nghiệm ung thư vú thường xuyên, và nhóm 2 là
nhóm đối chứng (tức không được khám nghiệm lần nào cả). Nếu phụ nữ trong
nhóm 1, khi đi khám nghiệm, có dấu hiệu cho thấy ung thư vú, họ sẽ được
khám nghiệm một lần nữa, và giới thiệu đi điều trị. Sau một thời gian,
chẳng hạn như là 10 năm, các nhà nghiên cứu sẽ phân tích xem tỉ lệ tử vong
do ung thư vú gây ra trong hai nhóm có khác nhau hay không.
Trong quá khứ đă có 10 cuộc ngiên cứu như
thế, với tổng số đối tượng hơn 500 ngàn phụ nữ, được tiến hành ở Mỹ, Tô
Cách Lan (Scotland), Canada, và Thụy Điển [4]. Kết quả các cuộc nghiên
cứu này có thể tóm gọn như sau:
|
Nhóm |
Tỉ suất tử vong trên 1000 phụ nữ |
|
Nhóm 1: không khám nghiệm ung thư vú |
4 (a) |
|
Nhóm 2: khám nghiệm ung thư vú
|
3 (b) |
Có vài cách hiểu và diễn dịch
kết quả này. Cách thứ nhất là dùng nguy cơ tương đối (relative
risk), tức là phát biểu rằng kiểm tra ung thư vú làm giảm tỉ suất tử vong
[do ung thư vú gây ra] 25% (lấy b là 3 chia cho a là 4, rồi lấy thương số
này trừ cho 1, và nhân kết quả cho 100). Giới nghiên cứu y khoa và y tế
công cộng nói chung rất chuộng cách phát biểu này, v́ con số 25%, khi đọc
lên, làm cho người tiếp nhận cảm thấy rất ấn tượng. Nhưng vấn đề là có
nhiều hiểu lầm liên quan đến cách phát biểu này. Nhiều người, khi được
hỏi về ư nghĩa của con số 25% này, trả lời rằng cứ 100 phụ nữ tham gia vào
chương tŕnh khám nghiệm, th́ có 25 người được cứu sống. Nhưng đó là một
hiểu lầm, bởi v́ trong thực tế, như kết quả trên cho thấy trong 1000 phụ
nữ thường kiểm tra ung thư, sau 10 năm theo dơi, có 3 người chết; trong
cùng thời gian; trong 1000 phụ nữ không kiểm tra ung thư, có 4 người chết,
tức là mức độ khác nhau chỉ 1 trong 1000 phụ nữ. Nhưng khi tŕnh bày bằng
chỉ số nguy cơ tương đối, nó lên đến 25%! [5
Cách phát biểu thứ hai là
nguy cơ tuyệt đối (absolute risk). Ở đây, có
thể nói rằng việc khám nghiệm ung thư vú thường xuyên làm giảm nguy cơ tử
vong 1 trên 1000 phụ nữ, hay 0.1%. Nói một cách khác, nếu có 1000 phụ nữ
tham gia vào chương tŕnh kiểm tra ung thư vú thường xuyên, sau mười năm,
chương tŕnh này có thể cứu sống 1 người.
Cách phát biểu thứ ba là số
bệnh nhân cần chữa trị để cứu sống một người (number needed to treat,
hay NTT). Rơ ràng, con số này càng thấp, th́ phương pháp chữa trị được
xem là tốt hơn. Trong ví dụ trên, phải cần khám nghiệm 1000 phụ nữ để cứu
1 phụ nữ.
Cách phát biểu thứ tư là thời
gian kéo dài tuổi thọ. Phụ nữ tuổi từ 50 đến 69 tham gia vào chương
tŕnh khám nghiệm ung thư vú có tuổi thọ trung b́nh tăng khoảng 12 ngày
[6].
Tất cả các cách phát biểu (hay
phương cách tŕnh bày) kết quả trên đây đều đúng, nhưng mỗi cách gợi cho
công chúng (hay bệnh nhân) những khác biệt về lợi ích và tác hại của việc
khám nghiệm ung thư vú thường xuyên, và đem lại cho bệnh nhân nhiều phản
ứng cảm tính khác nhau. Chỉ số nguy cơ tương đối cho chúng ta biết nguy
cơ tử vong trong nhóm được khám nghiệm thường xuyên giảm 25%, nhưng khi
dùng chỉ số nguy cơ tuyệt đối, con số này chỉ 0.1%. Nhưng chỉ số tương
đối không cung cấp cho chúng ta thông tin về lợi ích tuyệt đối của chương
tŕnh kiểm tra (hay của một thuật chữa trị). Chẳng hạn như 25% giảm tỉ
suất tử vong chỉ có nghĩa là một số lớn bệnh nhân sẽ được cứu sống nếu –
và chỉ nếu – căn bệnh đó rất phổ biến trong cộng đồng. Nếu căn bệnh rất
hiếm (như ung thư vú) th́ dù là một sự giảm thiểu 50% đi nữa cũng chẳng
phải là một ảnh hưởng lớn.
V́
những kết quả hết sức khiêm tốn như thế, trong thời gian gần đây, đă có
rất nhiều nhà nghiên cứu y khoa và bác sĩ chất vấn lợi ích của việc khám
nghiệm ung thư vú thường xuyên. Nhưng ngược lại, vẫn có người lí giải
rằng chương tŕnh khám nghiệm ở qui mô cộng đồng nên được tiến hành v́ nó
có thể cứu sống một số phụ nữ. Một vấn đề quan trọng được đặt ra những
phụ nữ nào (ở độ tuổi nào) nên đi khám nghiệm ung thứ vú thường xuyên, và
lợi ích cho từng nhóm ra sao? Để trả lời câu hỏi này, chúng ta có thể
duyệt qua vài bằng chứng nghiên cứu mới nhất như sau:
Đối với các phụ nữ trong độ
tuổi 40s, không một nghiên cứu nào trong 10 nghiên cứu đề cập trên cho
thấy khám nghiệm ung thư vú làm giảm tỉ lệ tử vong (do ung thư vú gây ra)
trong ṿng 10 năm. Nhưng có một nghiên cứu mà kết quả cho thấy sau 14 năm
theo dơi, khám nghiệm ung thư thường xuyên có thể làm giảm nguy cơ tử
vong, nhưng v́ mức độ giảm thiểu quá nhỏ nên không có ư nghĩa thống kê hay
ư nghĩa lâm sàng nào cả. Tuy nhiên, khi kết quả của tất cả 10 nghiên cứu
được phân tích gộp chung lại, các nhà nghiên cứu kết luận rằng khám nghiệm
ung thư vú thường xuyên (cho dù có kéo dài đến 15 năm) không làm giảm tỉ
suất tử vong [7].
Đối với các phụ nữ trong độ
tuổi 50 hay cao hơn, kiểm tra thường xuyên có lợi ích ǵ? Tám trong
số 10 nghiên cứu đề cập trên có sự tham gia của các phụ nữ trên 50 tuổi.
Có 3 nghiên cứu cho thấy sau thời gian theo dơi từ 7 đến 8 năm, khám
nghiệm thường xuyên có thể làm giảm tỉ lệ tử vong do ung thư vú gây ra,
c̣n 5 nghiên cứu c̣n lại cho thấy không có khác biệt ǵ về tỉ suất tử vong
do ung thư vú gây ra giữa hai nhóm, hay sự khác biệt quá nhỏ không có ư
nghĩa thống kê và lâm sàng. Tuy nhiên, khi tổng hợp kết quả của tất cả 8
nghiên cứu, tỉ lệ tử vong giảm 27% (dùng chỉ số tương đối), nhưng khi diễn
tả bằng chỉ số nguy cơ tuyệt đối, tỉ suất tử vong chỉ giảm 0.4% (hay 4
trên 1000 người). Dù mức độ ảnh hưởng quá nhỏ, nhưng chúng ta vẫn có thể
kết luận rằng trong các phụ nữ trên 50 tuổi, kiểm tra ung thư vú thường
xuyên có thể cứu sống một số phụ nữ.
Bác sĩ khám và tự khám ung thư vú
Ngoài việc khám nghiệm bằng X-quang tuyến vú, phụ nữ c̣n được khuyên nên
đến thường xuyên tham vấn bác sĩ để bác sĩ khám vú, và tự ḿnh khám. Hiệp
hội ung thư Mỹ khuyên phụ nữ từ độ tuổi 40 trở lên nên đi chụp quang tuyến
vú và đi khám bác sĩ mỗi năm (hay mỗi hai năm). Hiệp hội này cũng
khuyên phụ nữ tuổi từ 20 trở lên nên tự ḿnh khám vú hàng tháng để phát
hiện xem có dấu hiệu ǵ bất thường hay không.
Câu hỏi cần đặt ra là khám ung thư vú qua
bác sĩ hay tự khám có đem lại lợi ích nào không? Theo lương năng b́nh
dân, chúng ta có thể nghĩ rằng khám nghiệm bằng cả ba phương pháp (X-quang
tuyến, bác sĩ khám, và tự khám) có lẽ phải “khá” hơn một phương pháp riêng
biệt. Thế nhưng kết quả nghiên cứu lại không nói lên điều đó. Trong các
phụ nữ trên 50 tuổi, tự khám và bác sĩ khám chẳng làm giảm tỉ lệ tử vong
so với kiểm tra bằng X-quang tuyến [8]. Mặt khác, kiểm tra bằng X-quang
tuyến chẳng “khá” hơn so với khám nghiệm của các bác sĩ có kinh nghiệm lâu
năm. Tương tự, có nhiều nghiên cứu cho thấy trong các phụ nữ tuổi từ 35
đến 65, tự khám chẳng làm giảm tỉ lệ tử vong do ung thư vú gây ra, mặc dù
tỉ lệ phát sinh (incidence rate) ung thư vú tăng lên.
Nói tóm lại, bằng chứng từ nhiều
nghiên cứu lớn trong ṿng 20 năm qua cho thấy khám nghiệm ung thư vú (bằng
quang tuyến X, hay qua bác sĩ, hay tự khám) không làm giảm tỉ lệ tử vong.
Những người không khám nghiệm thường xuyên có cùng tỉ suất tử vong với
những người khám nghiệm thường xuyên.
Trong cộng đồng người Việt Nam ở
California, kết quả nghiên cứu nằm trong Chương tŕnh Sức khỏe là vàng
cũng kết luận tương tự, rằng khám nghiệm ung thư vú không đem lại ích lợi
cho các phụ nữ người Việt [9]. Dù bằng chứng như thế, nhưng giới y tế vẫn
khuyên phụ nữ Việt Nam trên 40 tuổi nên “chụp mammography mỗi năm một
lần” [10].
Trong một công bố gần đây, Viện
Y tế Mỹ (National Institutes of Health) có khuynh hướng dành quyền quyết
định cho bệnh nhân, “Các số liệu hiện nay cho thấy không thể nào cho một
khuyến cáo chung chung về kiểm tra ung thư vú bằng X-quang tuyến cho tất
cả các phụ nữ ở độ tuổi 40s. Mỗi phụ nữ nên tự quyết định có nên đi khám
nghiệm bằng X-quang tuyến vú hay không” [11]. Lời khuyên này làm công
chúng không hài ḷng. Trong quá khứ, phụ nữ thường nghe theo lời khuyên
của bác sĩ để đi khám X-quang tuyến thường xuyên; nay th́ ngay cả Viện Y
tế cũng không có khả năng đưa ra một lời khuyên dứt khoát, và họ có lí do
để chất vấn những ǵ mà bác sĩ từng khuyên răn họ trước đây.
Tại sao kiểm tra ung thư vú
trong các phụ nữ dưới 50 tuổi không có tác dụng lâm sàng? Có nhiều giả
thiết để trả lời cho câu hỏi này, nhưng chúng chỉ là ... giả thiết. Chẳng
hạn như mật độ vú (breast density) trong các phụ nữ trẻ tuổi thường cao
hơn mật độ vú trong các phụ nữ lớn tuổi, và kiểm tra bằng X-quang tuyến
khó mà phát hiện được ung thư (hay phát hiện được nhưng không chính xác).
Một giải thích khác là, trong các phụ nữ trẻ tuổi, một số dạng ung thư vú
thường “ác tính” và phát triển nhanh, và khi khám định ḱ (như một hay hai
năm) có thể không phát hiện kịp thời. Ngoài ra, tỉ lệ ung thư vú trong
các phụ nữ dưới 50 tuổi thường rất thấp, và kiểm tra ung thư vú trong các
phụ nữ này chẳng đem lại lợi ích ǵ nhiều cho một quần thể.
Những bất trắc trong khám nghiệm ung thư vú
Trong t́nh trạng bất định này,
người phụ nữ phải quyết định thế nào? Để đi đến một quyết định đi khám
X-quang tuyến, người phụ nữ phải hiểu lợi ích và rủi ro của công nghệ này
một cách rơ ràng. Như tŕnh bày trên, lợi ích của việc khám nghiệm ung
thư vú thường xuyên chưa được chứng minh. Nhưng những tác hại th́ đă được
ghi nhận khá nhiều, nhưng h́nh như ít khi nào được tŕnh bày rơ ràng cho
công chúng. Những tác hại, hay rủi ro gắn liền với việc khám nghiệm ung
thư có thể tóm gọn trong 3 nhóm: thiếu chính xác trong chẩn đoán, ung thư
do phóng xạ, và ung thư không phát triển.
Vấn đề chẩn đoán
Để biết một phụ nữ bị ung thư vú
hay không, cách chính xác nhất là qua giải phẫu, hay trong trường hợp
những người đă chết, là qua giảo nghiệm tử thi. Nhưng giải phẫu là một
thuật mang tính xâm phạm thân thể cao, và tốn kém. Do đó, các nhà khoa
học phát triển nhiều phương pháp để có thể chẩn đoán ung thư mà không cần
đến giải phẫu để biết bệnh trạng của của bệnh nhân. Trong trường hợp ung
thư vú, một phương pháp công nghệ cao là chụp X-quang tuyến vú, hay c̣n
gọi là mammography.
Kết quả của việc khám nghiệm bằng X-quang
tuyến có thể là dương tính (positive), hay âm tính
(negative). Một kết quả dương tính có nghĩa rằng bệnh nhân có thể bị ung
thư vú, và một kết quả âm tính cho biết bệnh nhân có thể không bị ung thư
vú. (Hai chữ “có thể” ở đây rất quan trọng, v́ nó nói lên một sự bất định
trong việc chẩn đoán ung thư vú bằng X-quang tuyến.)
Do đó, đối chiếu kết quả thử
nghiệm của X-quang tuyến với thực trạng của bệnh nhân, chúng ta có 4
trường hợp:
(a) thứ nhất, bệnh nhân quả thật bị ung thư
vú và kết quả thử nghiệm là dương tính; trong y khoa, trường hợp này được
gọi là dương tính thật (danh từ chuyên môn tiếng Anh gọi là
sensitivity);
(b) thứ hai, bệnh nhân quả thật không bị ung
thư vú, nhưng kết quả thử nghiệm lại dương tính, c̣n được gọi ngắn gọn là
dương tính giả (false positive);
(c) thứ ba, bệnh nhân quả thật không bị ung
thư vú, và kết quả thử nghiệm là âm tính, đây là trường hợp của âm tính
thật (specificity); và
(d) thứ tư, bệnh nhân quả thật bị ung thư
vú, nhưng kết quả thử nghiệm là âm tính, c̣n gọi theo ngôn ngữ y khoa là
âm tính giả (false negative).
Một phương pháp chẩn đoán hoàn
hảo là phương pháp có tỉ lệ dương tính thật và âm tính thật 100% (tức tỉ
lệ dương tính giả và âm tính giả là 0%). Nhưng trong thực tế, không có
phương pháp thử nghiệm nào là hoàn hảo cả. Thực vậy, bất cứ một phương
pháp thử nghiệm y khoa nào, kể cả X-quang tuyến vú, cũng đều có, không ít
th́ nhiều, tỉ lệ dương tính giả và âm tính giả. Hai sai sót này là đầu
mối của nhiều vấn đề trong việc khám nghiệm ung thư vú
Về mặt kĩ thuật và đứng trên quan điểm
nghiên cứu, một phương pháp có tỉ lệ dương tính thật và âm tính thật là
99% (tức chỉ sai sót 1%) được xem là phương pháp có độ chính xác cao;
nhưng đứng trên quan điểm của người bệnh và xă hội, một sai sót 1% vẫn có
thể gây ra nhiều tác hại không lường được. Có người t́m cách tự sát chỉ
v́ bị chẩn đoán sai. Có người phải sống suốt đời trong nỗi lo sợ bị ung
thư vú, dù thật hay giả. Trong thực tế, rất ít cho phương pháp nào chính
xác đến 99%. Trong trường hợp chẩn đoán ung thư vú bằng quang tuyến X, tỉ
lệ sai sót cao hơn 1%. Do đó, trước khi quyết định đi khám nghiệm ung
thư, người bệnh cần phải biết và hiểu những bất trắc này.
Tỉ
lệ dương tính giả trong chẩn đoán ung thư vú
Trong trường hợp ung thư vú,
thông thường, một khi kết quả thử nghiệm bằng quang tuyến X là dương tính,
các phụ nữ này được yêu cầu khám lại một lần nữa, và lần khám này có thể
là một thử nghiệm X-quang tuyến khác, siêu âm, hay sinh thiết (tức là lấy
một mảng thịt nhỏ trong vú, c̣n gọi là mô, để thử nghiệm thêm), hay thậm
chí cắt bỏ vú. Đối với phần đông phụ nữ, việc khám nghiệm bằng X-quang
tuyến rất ư là khó chịu và đau đớn. Đối với một số người, sau khi khám
nghiệm họ cảm thấy như đang sống trong sự lo lắng, căng thẳng, suy nhược
tinh thần, và thiếu khả năng tập trung làm việc. Nếu không may bị sinh
thiết, th́ vết thương trên vú lại là một nhắc nhở về căn bệnh đang đe dọa
họ. Một số phụ nữ sẽ cảm thấy nhẹ nhơm nếu kết quả khám nghiệm lần hai là
âm tính (tức họ không bị ung thư vú), nhưng có nghiên cứu cho thấy cứ hai
phụ nữ dù có kết quả âm tính, nhưng vẫn có một người phải sống trong lo
ngại suốt đời [12].
Có bao nhiêu phụ nữ trong nhóm
này? Nói cách khác, có bao nhiêu trường hợp với kết quả dương tính giả?
Để trả lời câu hỏi này, cần phải phân biệt hai loại sai sót: sai sót lần
khám nghiệm đầu tiên, và sai sáo trong các lần tái khám.
Tỉ lệ dương tính giả trong đợt khám lần đầu.
Theo một nghiên cứu trên 26.000 phụ nữ đi khám X-quang tuyến vú lần đầu,
th́ cứ 10 người có kết quả dương tính chỉ có 1 người thực sự bị ung thư vú
trong ṿng 13 tháng sau đó. Nói một cách khác, 9 trong 10 người có kết
quả dương tính giả. Biểu đồ sau đây cho thấy trong 1000 phụ nữ trong độ
tuổi 40 đến 50 đi khám X-quang tuyến lần đầu, có 70 người nhận kết quả
dương tính giả, so với 7 trường hợp dương tính thật (tức thực sự bị ung
thư vú). Đối với phụ nữ trẻ hơn, tỉ lệ dương tính giả c̣n cao hơn những
con số trên đây [13-14].

Tỉ lệ sai sót trong các đợt tái khám.
Nếu phụ nữ đi khám X-quang tuyến vú thường xuyên (hàng năm hay hàng hai
năm) th́ tỉ lệ dương tính giả là bao nhiêu? Theo kết quả nghiên cứu tổng
hợp, sau khi khám 10 lần liên tục, th́ 1 trong 2 phụ nữ (50%) không bị ung
thư vú nhưng sẽ nhận được ít nhất là một kết quả dương tính giả. Nói một
cách khác, khám càng nhiều, kết quả dương tính giả càng cao. Ở Đức, số
phụ nữ có kết quả dương tính giả lên đến 100.000 người mỗi năm. Ở
Mỹ, với số lượng phụ nữ đi khám ung thư vú lên đến 50 triệu, Hiệp hội ung
thư Mỹ ước tính rằng số người có kết quả dương tính giả lên đến nhiều
triệu [15]. Nhiều người này sẽ bị sinh thiết (biopsy), thậm chí cắt bỏ
vú. Đó là chưa kể đến những tác hại tâm lí và tinh thần mà phụ nữ với kết
quả dương tính giả phải trả khi đi khám ung thư vú bằng máy X-quang. Các
nghiên cứu tâm lí cho thấy phân nửa các phụ nữ tham dự vào các chương
tŕnh khám nghiệm ung thư vú bằng X-quang luôn cảm thấy lo ngại về t́nh
trạng sức khỏe của ḿnh sau kết quả dương tính giả.
Có cách nào để giảm tỉ lệ dương tính giả
không? Các nhà khoa học ở Hà Lan đă từng cố gắng phát triển các tiêu chí
nghiêm ngặt hơn để chẩn đoán ung thư vú, nhưng phương pháp này dù giảm tỉ
lệ dương tính giả, th́ lại làm tăng tỉ lệ âm tính giả! (Tức là nhiều
trường hợp ung thư thật nhưng lại có kết quả âm tính, có nghĩa là bỏ sót
chẩn đoán).
Âm tính giả
Bên cạnh vấn đề dương tính giả,
c̣n có một nhầm lẫn khác gọi là âm tính giả, tức những phụ nữ thực
sự bị ung thư vú, nhưng kết quả khám nghiệm lại âm tính. Tỉ lệ âm tính
giả cao khoảng 5% đến 20%. Phụ nữ càng trẻ có tỉ lệ âm tính giả càng
cao. Nói một cách khác, cứ 100 phụ nữ với ung thư vú, có 80 đến 95 người
có kết quả đúng (dương tính thật), nhưng phần c̣n lại (5 đến 20 người)
được máy cho biết rằng họ không bị ung thư vú, nhưng ḱ thực là họ có ung
thư. Đây là một con số không nhỏ, nếu số lượng phụ nữ đi khám lên đến con
số hàng triệu.
Bác sĩ có thể t́m cách giảm tỉ
lệ âm tính giả, nhưng với một cái giá. Để tối thiểu hóa xác suất âm tính
giả, bác sĩ có thể phân loại bướu vào hạng “nghi ngờ” (tức dương tính), và
do đó làm tăng tỉ lệ dương tính giả! Âm tính giả và dương tính giả là hai
mặt của việc “tiến thoái lưỡng nan” trong chẩn đoán. Giảm cái này sẽ làm
tăng cái kia. Nghiên cứu cho thấy các bác sĩ quang tuyến có tỉ lệ phát
hiện ung thư vú chính xác (tức tỉ lệ âm tính giả thấp) thường có tỉ lệ
dương tính giả cao.
Ung thư không phát triển
Để minh họa cho trường hợp mà
tôi sắp đề cập đến, tôi muốn nói về một trường hợp tiêu biểu. Eleanor là
một phụ nữ người Mỹ, 49 tuổi, đi khám ung thư vú bằng X-quang tuyến. Kết
quả khám là dương tính. Bác sĩ tiến hành giải phẫu cắt bỏ một vú, và sau
một thời gian điều trị bằng quang tuyến X, Eleanor nhận được một tin vui:
tất cả các tế bào ung thư đều bị tiêu hủy. Eleanor vui mừng báo tin cho
bạn bè biết rằng chị ta đă chiến thắng trong cuộc chiến chống lại ung thư
vú, và giải phẫu cũng như điều trị bằng quang tuyến đă cứu sống chị ta.
Nhưng trong thực tế, có thể Eleanor chẳng bị ung thư vú (và kết quả thử
nghiệm là dương tính giả), và có thể chị ta đă chẳng cần đến giải phẫu,
hay điều trị bằng quang tuyến.
Hay chị bị ung thư vú, nhưng là
loại ung thư không phát triển, tức vô hại. Có một số phụ nữ lúc nào cũng
mang theo trong ḿnh một số tế bào ung thư vú, nhưng chúng chẳng đe dọa
đến tính mạng của họ. Trong loại này, có một nhóm ung thư gọi là
ductal carcinoma in situ [16], bởi v́ ung thư chỉ hạn chế trong
ống dẫn sữa của vú và không hẳn lan tràn sang các mô chung quanh. Hiện
nay, người ta cho rằng chỉ 1 đến 5 trong số 10 trường hợp ung thư loại này
lan tràn sang các mô khác sau 20 năm. Nhóm ung thư này chỉ có thể phát
hiện bằng khám X-quang, chứ không qua tự khám hay bác sĩ khám. Phần lớn
phụ nữ tuổi 30 bị ung thư vú là loại ung thư này [17].
Ngoài ra, c̣n có một nhóm ung
thư khác tuy có phát triển nhưng tốc độ phát triển cực ḱ chậm chạp, đến
khi người phụ nữ già đi và chết (không phải v́ ung thư), ung thư này vẫn
chưa đe dọa đến tính mạng họ.
Phần lớn phụ nữ không bao giờ
nghe đến, hay biết, rằng một số ung thư vú không phát triển và không nguy
hại. Một cuộc điều tra trong một cộng đồng ở Mỹ cho thấy 94% phụ nữ được
hỏi không hề biết hay nghi ngờ về ung thư vú không phát triển! [18].
Tuy nhiên, so với những phụ nữ
có kết quả dương tính giả, những phụ nữ với ung thư vú không nguy hiểm này
trả cái giá đắt hơn cho việc tham dự vào các chương tŕnh thử nghiệm ung
thư vú bằng quang tuyến X. Phương pháp điều trị mà họ phải trải qua
thường làm ngắn tuổi thọ của họ, chất lượng cuộc sống bị giảm nghiêm
trọng, và c̣n phải mang thẹo suốt đời v́ giải phẫu.
Ung thư vú do phóng xạ
Tiềm năng tác hại thứ tư của
việc khám ung thư vú bằng quang tuyến X là vấn đề chính phương pháp khám
nghiệm này gây ra ung thư. Tức là, có một số phụ nữ bị ung thư vú sau
khi khám nghiệm v́ do phóng xạ gây ra. Bất cứ phương pháp khám nghiệm
X-quang nào cũng đều, không ít th́ nhiều, sản sinh những tia phóng xạ.
Khám nghiệm ung thư vú bằng X-quang tuyến có một độ phóng xạ khá cao, cao
hơn độ phóng xạ chụp h́nh X-quang ngực. Khả năng gây ung thư của tia
phóng xạ đă được ghi nhận từ những năm đầu thế kỉ 20, khi X-quang tuyến
trở thành một phương pháp khám nghiệm và chẩn đoán bệnh lao và các bệnh
phổi khác.
Nguy cơ bị ung thư vú v́ phóng
xạ như thế nào? Câu hỏi này có thể trả lời một cách gián tiếp bằng cách
dựa vào tỉ lệ ung thư vú trong những phụ nữ bị bệnh lao và thường xuyên
khám X-quang, hay những nạn nhân của cuộc tấn công vào thành phố Nagasaki
và Hiroshima. Ngày nay, các nhà nghiên cứu đồng ư rằng khám nghiệm ung
thư vú bằng X-quang thường xuyên có thể gây ra ung thư vú, nhưng mức độ
nguy cơ th́ chưa dứt khoát [19].
Ảnh hưởng của phóng xạ đến nguy
cơ bị ung thư vú tăng theo hàm số đường thẳng với hàm độ phóng xạ. Khi
hàm độ phóng xạ giảm phân nửa, tỉ lệ phụ nữ bị ung thư vú giảm 50%; khi
hàm độ phóng xạ tăng gấp đôi, tỉ lệ ung thư vú tăng gấp
hai. Tuy nhiên, nguy cơ bị ung thư vú v́ phóng xạ thường thấp
trong những phụ nữ có kinh nguyệt trễ, những người có con đầu ḷng muộn,
những người cho con bú sữa mẹ, và những người mất kinh trước tuổi 48. Do
đó, những kích thích tố có trách nhiệm bảo vệ phụ nữ chống lại ung thư vú
cũng đồng thời làm giảm nguy cơ bị ung thư vú v́ phóng xạ.
Nguy cơ bị ung thư vú do phóng
xạ tùy thuộc vào độ tuổi của người phụ nữ. Chẳng hạn như những người
trong độ tuổi 30 đi khám X-quang tuyến có nguy cơ bị ung thư vú cao gấp
hai lần so với những phụ trong độ tuổi 40 cũng đi khám X-quang tuyến. Nếu
trong độ tuổi dậy th́ mà đi khám ung thư vú, nguy cơ bị ung thư vú v́
phóng xạ càng cao. Nhưng đối với phụ nữ ở độ tuổi 60 trở lên, nguy cơ ung
thư vú v́ phóng xạ rất thấp và hầu như không đáng kể.
Theo như ước tính hiện nay,
trong 10.000 phụ nữ ở độ tuổi 40 trở lên tham gia vào các chương tŕnh
khám nghiệm ung thư vú bằng X-quang tuyến th́ có 2 đến 4 người sẽ bị ung
thư vú v́ phóng xạ, và một trong 2 người sẽ chết. Điều quan trọng cần
phải ghi nhớ là đây chỉ là những ước tính rất thô sơ, và dựa vào bằng
chứng gián tiếp, chứ chưa có nghiên cứu nào trực tiếp để thẩm định mối
hiểm nguy này. Thực ra, một nghiên cứu như thế khó mà tiến hành được, v́
có thể bị xem là thiếu y đức. Tuy nhiên, chúng ta chỉ cần
ghi nhận một điều quan trọng là khám vú bằng X-quang tuyến có thể
gây ra ung thư vú, và nguy cơ này cao trong những phụ nữ trẻ tuổi.
Nói tóm lại,
chưa có bằng chứng nào cho thấy khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X
đem lại lợi ích lớn cho phụ nữ (dù là 40 hay 50 tuổi trở lên), nhưng ngược
lại, việc khám nghiệm này đi kèm theo một vài tác hại cho phụ nữ. Có ba
cái “giá” người phụ nữ phải “trả” khi tham dự vào các chương tŕnh khám
ung thư vú bằng quang tuyến X. Thứ nhất, 50% các phụ nữ khám liên tục 10
lần sẽ có kết quả dương tính giả, và hậu quả của những lần khám nghiệm hay
điều trị tiếp theo kết quả dương tính đó là những tổn hại về thể xác cũng
như tinh thần. Thứ hai, một phần lớn phụ nữ với ung thư vú không nguy
hiểm sẽ không bao giờ phát hiện những bướu này (ngoại trừ quang tuyến X).
Trong những trường hợp này, các phương pháp điều trị [không cần thiết] như
cắt bỏ vú, hóa học trị liệu, quang tuyến trị liệu và các biến chứng kèm
theo những phương pháp điều trị này sẽ theo người bệnh suốt đời. Thứ ba,
cứ 10.000 phụ nữ khám nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X thường xuyên,
có khoảng 2 đến 4 người trước khi khám không có ung thư vú, nhưng sau này
bị ung thư vú v́ độ phóng xạ gây ra.
Đó là những rủi ro và hậu quả của khám
nghiệm ung thư vú bằng quang tuyến X dưới cái nh́n của người bệnh. Nhưng
c̣n đối với người thầy thuốc, quan điểm của họ như thế nào? Bác sĩ lúc
nào cũng ở trong “thế thủ”, và không muốn bị bệnh nhân và luật sư của bệnh
nhân kiện cáo, v́ họ không phát hiện ung thư cho bệnh nhân. Thực tế này
đặt vấn đề âm tính giả thành quan tâm hàng đầu của họ hơn là vấn đề dương
tính giả, bởi v́ luật sư có xu hướng tập trung vào vấn đề âm tính giả. Để
tối thiểu hóa xác suất âm tính giả, bác sĩ phải tiến hành hàng loạt thử
nghiệm cho bệnh nhân, và càng thử nghiệm nhiều, tỉ lệ dương tính giả càng
cao. Tỉ lệ dương tính giả càng cao, hậu quả và tác hại đến bệnh nhân càng
nhiều.
Ung thư vú có phải là bệnh đáng sợ nhất?
Không ai muốn mang bệnh. Nhưng trong các
bệnh, ung thư vú là bệnh làm cho phụ nữ sợ nhất, v́ nó dính dáng đến cái
biểu tượng đẹp của người phụ nữ. Không ai muốn bị cắt bỏ vú. Không ai
muốn chết v́ ung thư vú. Có lẽ lợi dụng vào tâm lí này, mà giới truyền
thông thường tô vẽ ung thư vú như là một căn bệnh nguy hiểm nhất cho người
phụ nữ. Nhưng trong thực tế th́ không hẳn như thế. Căn bệnh gây ra nhiều
tử vong nhất trong các nước Tây phương không phải là ung thư, và càng
không phải là ung thư vú, mà là bệnh tim mạch. Theo thống kê của Trung
tâm Pḥng chống bệnh (Centers for Disease Control and Prevention) ở Mỹ,
trong tổng số tử vong hàng năm, 36.3% là do các bệnh tim mạch gây ra, theo
sau là các bệnh ung thư (22.5%). Tổng số phụ nữ chết v́ ung thư vú chiếm
khoảng 4% trong tổng số tử vong [20]. Nói một cách khác, số phụ nữ chết
v́ bệnh tim mạch cao gần 9 lần so với số phụ nữ chết v́ ung thư vú.
Tuy nhiên, những thông tin đó ít khi nào đến
với công chúng; ngược lại, người ta thường hay nghe những phát biểu đại
khái như "Breast cancer is one of the leading causes of deaths in women
..." (tạm dịch: "trong phụ nữ ung thư vú là một trong những nguyên nhân tử
vong hàng đầu ..."). Trong một cuộc thăm ḍ ư kiến trong người Mỹ do Hiệp
hội nghiên cứu bệnh tim mạch tiến hành cho thấy chỉ có 8% phụ nữ biết được
sự thật này. Tương tự, một nghiên cứu khác do Hội đồng Người cao tuổi
(Mỹ) cũng cho thấy rất ít phụ nữ (chỉ 9%) xem bệnh tim mạch nguy hiểm, so
với 61% sợ bệnh ung thư, nhất là ung thư vú. Ngay cả trong bệnh ung thư,
ung thư phổi gây ra nhiều tử vong cho phụ nữ hơn là ung thư vú. Và, chỉ
có 25% phụ nữ biết được sự thật quan trọng này [21].
Ở các nước Tây phương, ung thư tuyến tiền
liệt (prostate cancer) trong đàn ông phổ biến c̣n hơn ung thư vú trong phụ
nữ. Ung thư tuyến tiền liệt c̣n là nguyên nhân của nhiều cái chết hơn ung
thư vú. Nhưng đàn ông có vẻ chẳng mấy lo ngại đến ung thư tuyền tiền liệt
so với những sự sợ hăi ở giới phụ nữ về ung thư vú. Một điều đáng nói
khác là giới truyền thông mô tả ung thư tuyến tiền liệt như là một căn
bệnh của người già, dù trong thực tế độ tuổi trung b́nh đàn ông bị ung thư
tuyến tiền liệt tương đương với độ tuổi trung b́nh trong phụ nữ bị ung thư
vú [22-23]. Ung thư ruột, cũng như ung thư phổi, cũng là một loại ung thư
phổ biến trong phụ nữ, nhưng ít khi nào căn bệnh này trở thành một cái tít
của các tờ báo. Giới báo chí có thể biện minh rằng họ chỉ đáp ứng quần
chúng. Nhưng có lẽ họ quên rằng chức năng của truyền thông là nói lên sự
thật.
Con số "1 trong 10"
Cách đây vài năm, trên Tạp chí
Time (một tạp chí thời sự nổi tiếng thế giới) có đăng một loạt bài
viết về ung thư vú (xem số báo 137 năm 1991, trang 42-49), mà trong đó họ
đề cập đến tỉ lệ "1 trong 10" phụ nữ Mỹ bị ung thư vú. Con số "1 trong
10" hay có khi "1 trong 9" có lẽ đă trở thành một "câu kinh" được giới
truyền thông tụng niệm cực ḱ nhiều lần. Chẳng chỉ riêng trong giới
truyền thông, mà ngay cả giới bác sĩ cũng hay đề cập đến con số này như là
một cảnh báo cho người phụ nữ. Có lần, người viết bài này bàn về tỉ lệ và
nguy cơ ung thư vú với một vài bác sĩ gia đ́nh người Việt, và đại đa số
các bác sĩ này đều đồng ư rằng cứ 10 người phụ nữ da trắng th́ có 1 người
bị ung thư vú. Có vị bác sĩ c̣n khẳng định như đinh đóng cột rằng chẳng
có ǵ phải bàn căi về con số này. Nhưng đây là một hiểu lầm nghiêm
trọng.
Con số “1 trong 10” đề cập đến
xác suất lũy tích (cumulative chance) mà một phụ nữ sẽ bị ung thư vú nếu
phụ nữ này sống đến tuổi 85. Cố nhiên, nhiều phụ nữ chết trước độ tuổi 85
v́ các chứng bệnh khác. Con số “1 trong 10” không đề cập đến, và dứt
khoát không có nghĩa là, cứ 10 phụ nữ da trắng th́ có 1 người bị ung thư
vú. Diễn dịch như thế là sai và rất nguy hiểm. Nó càng không thể áp dụng
cho người Việt Nam, v́ nguy cơ bị ung thư vú trong phụ nữ người Việt thấp
hơn so với người Mỹ (sẽ đề cập đến trong phần sau đây).
Thế th́ con số "1 trong 10" đến
từ đâu? Bảng thống kê sau đây hi vọng sẽ giải thích cho bạn đọc biết
nguồn gốc của con số “1 trong 10”, và có thể so sánh con số này với các
bệnh khác như bệnh tim mạch. Trong bảng thống kê này [24] với một dân số
tưởng tượng 1000 người được theo dơi từ lúc mới sinh cho đến khi chết, có
4 phụ nữ sẽ bị ung thư vú vào độ tuổi 30, và 13 người bị bệnh vào độ tuổi
40s. Đến tuổi 85, tổng số người bị ung thư vú là 99 trường hợp, và do đó,
tương đương với 10%.
Bảng 1. Nguy cơ bị ung thư vú và bệnh tim
mạch trong 1000 phụ nữ người da trắng.
|
Tuổi |
Số người c̣n sống lúc đầu
|
Số người bị ung thư vú
|
Số người chết v́ ung thư vú |
Số người chết v́ bệnh tim mạch |
Số người chết v́ các bệnh khác |
|
0-9 |
1000 |
0 |
0 |
0 |
7 |
|
10-19 |
993 |
0 |
0 |
0 |
2 |
|
20-29 |
991 |
0 |
0 |
0 |
3 |
|
30-34 |
988 |
1 |
0 |
0 |
2 |
|
35-39 |
986 |
3 |
0 |
0 |
3 |
|
40-44 |
983 |
5 |
1 |
1 |
4 |
|
45-49 |
977 |
| |