|
Bộ gen trong cây
lúa và triển vọng
Nguyễn Văn Tuấn
Đối với người Việt chúng ta, hay phần lớn
dân Á châu nói chung, cây lúa (tên khoa học là Oryza sativa) và hạt gạo là
một loại thực phẩm hết sức gần gũi và đóng một vai tṛ cực kỳ quan trọng
trong dinh dưỡng. Ngay từ khi c̣n trong ḷng mẹ, chúng ta đă làm quen với
cơm gạo, và lớn lên theo cây lúa cùng hạt gạo. Với bản sắc văn hóa nông
nghiệp, cây lúa và hạt gạo c̣n là một biểu tượng của cuộc sống. Ca dao,
khẩu ngữ chúng ta có câu “Người sống về gạo, cá bạo về nước”, hay
“Em xinh là xinh như cây lúa”, v.v.. Đối với người Trung Quốc, vật
quí nhất không phải là ngọc trai hay đá quí, mà là hạt gạo.
Quê hương của cây lúa, không như nhiều người
tưởng là ở Trung Quốc hay Ấn Độ, mà là ở vùng Đông Nam Á, v́ vùng này khí
hậu ẩm và là điều kiện lí tưởng cho phát triển nghề trồng lúa. Theo kết
quả khảo cổ học trong vài thập niên qua, quê hương đầu tiên của cây lúa là
vùng Đông Nam Á và Đông Dương, những nơi mà dấu ấn của cây lúa đă được ghi
nhận là khoảng 10.000 năm trước Công Nguyên [1]. C̣n ở Trung Quốc, bằng
chứng về cây lúa lâu đời nhất chỉ 5.900 đến 7.000 năm về trước, thường
thấy ở các vùng xung quanh sông Dương Tử [2]. Từ Đông Nam Á, nghề trồng
lúa được du nhập vào Trung Quốc, rồi lan sang Nhật Bản, Hàn Quốc, những
nơi mà cư dân chỉ quen với nghề trồng lúa mạch. Ở Trung Quốc và Nhật Bản
ngày xưa, chỉ có giai cấp quí tộc hay vơ sĩ mới có gạo ăn thường xuyên. Ở
Hàn Quốc, người ta có danh từ “annam mi” để chỉ loại gạo nhập cảng từ Việt
Nam và các nước Đông Nam Á [3].
Á châu là một trung tâm sản xuất lúa gạo lớn
nhất thế giới. Theo thống kê của Cơ quan Thực phẩm Liên hiệp quốc, trên
thế giới có khoảng 147,5 triệu ha đất dùng cho việc trồng lúa, và 90% diện
tích này là thuộc các nước Á châu [4]. Các nước Á châu cũng sản xuất
khoảng 92% tổng sản lượng lúa gạo trên thế giới. Ngày nay, Thái Lan và
Việt Nam là hai nước xuất cảng gạo hàng đầu trong thị trường lúa gạo thế
giới.
Lúa gạo c̣n là nguồn lương thực quan trọng
cho khoảng 3 tỷ người [hay khoảng 2 phần 3 cư dân] trên thế giới. Trong
khi dân số thế giới tiếp tục gia tăng th́ diện tích đất dùng cho trồng lúa
lại không tăng, nếu không muốn nói là giảm theo thời gian. Do đó, vấn đề
lương thực từng được đặt ra như là một mối đe dọa đến sự an ninh và ổn
định của thế giới trong tương lai. Theo dự đoán của các chuyên gia về dân
số học, nếu dân số thế giới tiếp tục gia tăng trong ṿng 20 năm tới, th́
sản lượng lúa gạo phải tăng 80% mới đáp ứng cho nhu cầu sống c̣n của cư
dân mới. Trong điều kiện eo hẹp đó, người ta phải suy nghĩ đến một chiến
lược để tăng sản lượng lúa gạo. Một trong những chiến lược quan trọng là
ứng dụng công nghệ sinh học vào việc gây giống mới và qua đó, hi vọng sẽ
đem lại cho thế giới một nguồn thực phẩm mới, an toàn hơn, và có giá trị
dinh dưỡng cao.
Nhưng muốn gây giống mới một cách an toàn,
người ta cần phải biết cấu trúc sinh học của cây lúa. Ngày nay, qua tiến
bộ của khoa học sinh học phân tử, người ta đă biết được rằng, cũng giống
như con người, cái đơn vị sinh học cơ bản nhất trong mỗi cây lúa là tế bào
(cells). Mỗi cây lúa được cấu tạo bằng hàng tỷ tế bào. Tất cả các tế bào
đều có cấu trúc giống nhau: trong mỗi tế bào đều có một cái nhân (nucleus)
nằm chính giữa. Cái nhân này có chứa những chất liệu di truyền mà ta
thường gọi là DNA (viết tắc từ chữ deoxyribonucleic acid). Mỗi nhân
thường có hàng triệu DNA. DNA gồm có bốn yếu tố hóa học: A (adeline), C
(cytosine), G (guanine), và T (thymine). Một mảng DNA tạo thành một
gene. Và nhiều gene tạo thành một bộ di truyền, c̣n gọi là chromosome.
Có thể nói một cách ví von bằng cách dùng quyển sách như là một ví dụ: (a)
trong sách có 23 chương (chromosome); (b) mỗi chương có nhiều câu chuyện
(genes); (c) mỗi câu chuyện có nhiều đoạn văn (exons); (d) mỗi đoạn văn có
nhiều chữ (codons); và (e) mỗi chữ được viết bằng các mẫu tự (bases).
Do đó, cũng như con người, gene đóng một vai
tṛ cực kỳ quan trọng trong việc điều hành sự sinh trưởng, tồn tại, và bảo
vệ thực vật, kể cả cây lúa, chống lại các mối đe dọa từ thiên nhiên. Gene
có chức năng gửi các tín hiệu hóa học đi đến tất cả các nơi trong cây
lúa. Những tín hiệu này có chứa đầy đủ các thông tin, các chỉ thị cụ thể
cho các cơ quan trong cây lúa phải hoạt động ra sao. Việc t́m hiểu số
lượng gene cũng như cơ cấu tổ chức của gene trong cây lúa là một điều tất
yếu để mang lại những tiến bộ mới và quan trọng của bộ môn sinh học.
Tuần vừa qua, hai nhóm nghiên cứu (Viện
Nghiên cứu Di truyền Bắc Kinh (Beijing Genomic Institute, viết tắt là BGI)
và Công ty sinh học Syngenta (San Diego, Mỹ)), công bố rằng họ đă gần hoàn
tất công tŕnh t́m hiểu cơ cấu tổ chức của hệ thống di truyền trong cây
lúa [5]. Nhóm Bắc Kinh cộng tác cùng một nhóm gồm các nhà khoa học thuộc
Trung tâm Nghiên cứu Di truyền thuộc Trường Đại học Washington (Seattle)
nghiên cứu giống lúa có tên là indica, trong khi Công ty Syngenta th́ tập
trung vào nghiên cứu một giống lúa japonica có h́nh dạng ngắn hơn giống
indica [6]. Đây là một công tŕnh nghiên cứu quan trọng trong khoa học,
v́ là lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, con người có thể toàn bộ cấu
trúc di truyền của cây lúa. Khám phá của công tŕnh nghiên cứu này c̣n có
ư nghĩa mang tầm dóc thế giới, v́ trong tương lai các ứng dụng dựa vào các
dữ kiện này sẽ có ảnh hưởng đến hàng tỷ người trên toàn cầu. Một số điểm
nổi bật trong công tŕnh của hai nhóm nghiên cứu này có thể được tóm gọn
như sau:
Thứ nhất, số lượng gene trong lúa c̣n nhiều
hơn cả trong con người. Theo nhóm nghiên cứu BGI, giống lúa indica (c̣n
có tên là bulu ở Nam Dương) có khoảng 45.000 đến 56.000 genes. C̣n nhóm
Syngenta th́ ước lượng rằng giống lúa japonica (c̣n có tên là sinica) có
khoảng 32.000 đến 50.000 genes. Đây là một sự ngạc nhiên, bởi v́ từ lâu
người ta vẫn nghĩ con người phức tạp hơn thực vật, và do đó số lượng genes
trong con người phải cao hơn số lượng gene trong thực vật. Tuy nhiên, qua
công tŕnh Human Genome Project (HGP) vừa được công bố năm qua th́ con
người chỉ có khoảng 30.000 đến 39.000 genes, hay có ước đoán mới đây là
34.000 đến 35.000 genes [7]. Do đó, đứng trên phương diện sinh học, có
thể nói rằng con người có cấu trúc di truyền đơn giản hơn cây lúa!?
Thực ra, chưa thể kết luận như thế được, v́
cần phải hiểu thêm những khác biệt về cấu trúc di truyền trong con người
và trong cây lúa. Kết quả nghiên cứu của nhóm BGI và Syngenta cho thấy
cấu trúc di truyền trong con người có vẻ phức tạp hơn cấu trúc trong cây
lúa. Tính trung b́nh, mỗi gene trong cây lúa có khoảng 4.500 mẫu tự DNA,
trong khi gene trong con người dài đến cả 7 lần (tức khoảng 30.000 mẫu
tự).
Tại sao cây lúa có nhiều gene hơn con
người? Câu hỏi này đă là một đề tài suy luận lí thú của giới làm khoa
học. Theo một thuyết đang được lưu truyền hiện nay th́ thực vậy như cây
lúa không có khả năng đi lại (chúng chỉ đứng một chỗ!) và trong hoàn cảnh
này, cây lúa là đối tượng, là con mồi của nhiều kẻ thù kể cả sâu rầy và
môi trường chung quanh. Do đó, cây lúa được tiến hóa có nhiều genes để
chống trả lại những đe dọa này và tự bảo vệ lấy ḿnh. Trong khi đó, con
người, khi đối đầu với một sự hiểm nguy, có thể bỏ chạy hay ít ra là di
chuyển được. Có lẽ sự khác nhau này giải thích một phần nào về sự khác
biệt giữa con người trong cấu trúc di truyền.
Thứ hai, so sánh với loại cải xoong
Arabidopsis mà cấu trúc di truyền mới được khám phá th́ cây lúa có nhiều
genes hơn. Cải xoong Arabidopsis có khoảng 25.500 genes, và mỗi gene,
tính trung b́nh chỉ có khoảng 1.000 mẫu tự. Khoảng 81% các genes t́m thấy
trong cải xoong Arabidopsis cũng được t́m thấy trong giống lúa indica,
nhưng chỉ có 49% genes trong giống lúa indica được t́m thấy trong cải
xoong Arabidopsis. Một kết quả tương tự cũng được ghi nhận khi so sánh
giữa giống lúa japonica và cải xoong Arabidopsis.
Thứ ba, mặc dù giữa con người và cây lúa có
một số genes có cấu trúc DNA giống nhau, nhưng chưa có bằng chứng nào cho
thấy gene được luân chuyển giữa cây lúa và con người. Kết quả này có ư
nghĩa quan trọng trong cuộc tranh luận gần đây về thực phẩm được thay đổi
gene, bởi v́ nó phủ nhận giả thuyết rằng khi con người tiêu thụ thực phẩm
được thay đổi gene, như gạo chẳng hạn, th́ những genes trong hạt gạo không
có khả năng truyền vào con người. Nói một cách khác, các thực phẩm hay
trái cây được thay đổi gene có thể không làm thay đổi cấu trúc gene của
con người.
Tuy nhiên, dù công bố này thể hiện một một
bước tiến dài trong lịch sử nghiên cứu di truyền, nhưng nó cũng chỉ là một
bước đầu, v́ từ giai đoạn này đến giai đoạn kế tiếp như ứng dụng gene vào
việc chế biến hay tạo giống mới là một thách thức lớn. Thực vậy, dù cho
công tŕnh này có hoàn tất nay mai, th́ chúng ta chỉ mới biết được cấu
trúc di truyền mà thôi. Nói một cách ví von, chúng ta chỉ mới biết được
bản đồ, nhưng chưa biết trong từng vùng (trên bản đồ) có chứa ǵ và hoạt
động ra sao. Do đó, giai đoạn kế tiếp là t́m hiểu mối tương tác giữa
genes và môi trường, hay giữa quan hệ genes và genes mới là một thách thức
lớn và đ̣i hỏi tri thức trong nhiều lĩnh vực khác nhau, kể cả tin học và
toán học. Theo chúng tôi, giai đoạn thứ hai này, c̣n gọi là thời đại sau
bộ di truyền (post-genomic era), mới là một thời kỳ hấp dẫn và huy hoàng
của di truyền học.
Trong nghiên cứu y học, sau khi bộ di truyền
trong con người được công bố hơn một năm qua, các nhà khoa học trên khắp
thế giới đă và đang tiến sâu vào lĩnh vực nghiên cứu các chức năng cơ bản
của genes. Nhưng dù thế giới đă chi ra một ngân sách khổng lồ và hàng vạn
nhà nghiên cứu bỏ ra nhiều năm làm việc, kết quả vẫn c̣n rất khiêm tốn.
Cho đến nay, người ta vẫn chưa t́m được tất cả các genes có liên quan đến
các bệnh phức tạp như ung thư, suyễn, tiểu đường, loăng xương, v.v.. Qua
kinh nghiệm nghiên cứu trong con người, có thể nói việc phát triển các
giống lúa mới bằng công nghệ di truyền học là một vấn đề lâu dài và thách
thức lớn.
Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp, đứng
vào hàng thứ hai trên thế giới về xuất cảng gạo, những vấn đề được đặt ra
sau bộ di truyền lúa được công bố cũng là những thách thức lớn. Vấn đề
cần được đặt ra là phải tận dụng những kết quả nghiên cứu này như thế nào
để đem lại lợi ích kinh tế cho nước nhà. Chúng tôi thấy có thể phát họa
một vài phương hướng như sau:
Thứ nhất, cần phải đầu tư nhân lực và xây
dựng cơ sở vật chất vào việc nghiên cứu di truyền. Phải nói ngay rằng lực
lượng khoa học gia Việt Nam làm việc trong sinh học và công nghệ sinh học
c̣n quá mỏng, chưa có khả năng cạnh tranh cao với các nước khác trong
vùng. Do đó, cần phải có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên theo
đuổi sự nghiệp nghiên cứu di truyền học, và từ đó đẩy mạnh việc đào tạo
thêm các chuyên viên có tŕnh độ cao trong ngành công nghệ sinh học.
Thứ hai, nên chú trọng đến bộ môn Thông tin
Sinh học (c̣n gọi là bio-informatics). Đây là một bộ môn mới kết hợp các
kỹ thuật máy tính, toán học và di truyền học, để t́m hiểu cấu trúc và hoạt
động của các genes trong mạng lưới sinh học. Với một bản đồ genes, cộng
với sự tiến bộ về kỹ thuật thông tin học, bộ môn nghiên cứu này có mục
đích lâu dài là “cá nhân hóa” gene cho từng đặc điểm hay bệnh lí. Có thể
nói đây là một cơ hội cho Việt Nam, v́ song song với việc phát triển tin
học như hiện nay, cần phải phát triển cả công nghệ thông tin sinh học.
Thứ ba, tập trung vào việc nghiên cứu chức
năng của genes (c̣n gọi là functional genomics). Nói một cách khác, đây
là cơ hội để các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu t́m hiểu chức năng của
genes trong việc tăng trưởng và sản phẩm. Chẳng hạn như t́m hiểu xem
genes nào có khả năng đề kháng sâu rầy, genes nào có khả năng chịu
nước/khô, v.v. Tất nhiên, genes cũng không thể vận hành một ḿnh, mà cần
phải phối hợp với các genes khác hay môi trường để gây tác động; do đó t́m
hiểu mối tương tác này cũng là một hướng nghiên cứu rất cần thiết. Hiện
nay, với sự phát triển của công nghệ sinh học, các nhà nghiên cứu có thể
thử nghiệm chức năng của hàng vạn genes trong một con chip điện toán.
Nói tóm lại, việc công bố bản đồ genes của
cây lúa đang mở ra một kỷ nguyên mới cho công nghệ sinh học, và cung cấp
một cơ hội cho những ai thích [hay có ư định] dấn thân vào một ngành
nghiên cứu hấp dẫn trong thế kỷ 21, thời đại từng được mệnh danh là thế kỷ
của công nghệ sinh học.
Tài liệu tham khảo và chú thích:
[1] Xem, chẳng hạn như, “Southeast Asia and
Korea: from the beginning of food production to the first states” của
Wilhelm Solheim, trong sách “The history of humanity: Scientific and
cultural development,” quyển 1: “Prehistory and the beginning of
civilisation”, UNESCO/Routledge, London: 1994, trang 468-81.
[2] Sách "Eden in the East: the Drowned
Continent of Southeast Asia," của Stephen Oppenheimer, Nhà xuất bản
Phoenix (London), 1998, trang 65-71.
[3] Xem “T́m về bản sắc văn hóa Việt Nam,”
của Trần Ngọc Thêm. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh in lần thứ ba, năm
2001.
[4] Xem các báo cáo sau đây của FAO: (a)
“Rice processing industries,” FAO/UNDP Regional Workshop, Jakarta, 15-20
July 1985. Bangkok, FAO Regional Office for Asia and the Pacific. 293 pp.;
(b) FAO “Rice” FAO Q. Bull. Stat., 3(1): 20-28, 55, 73; và (c) “FAO
production yearbook,” 1989, FAO Stat. Ser. No. 88, Vol. 43. Rome, FAO.
[5] Xem báo cáo khoa học của J. Yu và đồng
nghiệp, “A draft sequence of the rice genome (oryza sativa L. ssp.
Indica), Tập san Science 2002; 296:79.
[6] Xem báo cáo khoa học của S. A. Goff và
đồng nghiệp, “A draft sequence of the rice genome (oryza sativa L. ssp.
japonica), Tập san Science 2002; 296:92.
[7] Xem
báo cáo khoa học của Ewing B, Green P., “Analysis of expressed sequence
tags indicates 35,000 human genes,” Tập san Nature Genetics 2000;
25:232-4.
|