|
Ly trà thời đại
Quảng Thiện
‘Hễ nơi nào có trồng
trà th́ ở đó người ta trường thọ’
Thiền sư Eisai
(1211)
Đường Triệu Việt
Vương tuy không dài nhưng có lẽ là một con đường có nhiều quán cà phê nhất
Hà Nội. Con đường dễ thương ngợp bóng cây. Nhà cửa quán xá xinh xinh nhỏ
nhắn. Cái dễ thương càng đậm nét khi chiều về, hàng chục, hàng trăm cặp
t́nh nhân (các em là những cặp t́nh nhân chăng?) với những khuôn mặt trẻ,
ngây thơ, đèo nhau trên những chiếc xe máy, lũ lượt về Triệu Việt Vương để
tấp vào các quán cà phê. Ở đó, dưới những ngọn đèn rất mờ, các em ngồi tụm
đầu bên nhau. Trầm ngâm với nhau. Rủ rỉ với nhau. Và bao giờ các em cũng
có một điếu thuốc, một tách cà phê (tôi đoán thế) để câu chuyện cứ càng
lúc càng mặn mà, ngọt đắng!
Tôi không rảnh để
vào quán như các em. Chính phủ Úc đưa tôi về Việt Nam công tác bao giờ
cũng bận rộn. Vả lại tôi xa quê đă nhiều năm nên khi trở về quê cũ, chỉ
cần được làm việc với những người có cùng một ḍng máu như ḿnh, nói với
nhau bằng tiếng Việt như ḿnh, cũng đă làm cho tôi ngây ngất sung sướng
rố cho nên dại chi mà tôi đốt th́ giờ trong quán. Nhưng hể nh́n các em
lũ lượt đến Triệu Việt Vương, tôi cứ mang hoài một thắc mắc: các em làm
ǵ trong quán?
Trở về Úc, t́nh cờ
một hôm gặp được mâư người bạn trẻ Hà Nội du học. Tôi mới ṭ ṃ hỏi ‘bộ cà
phê ở Triệu Việt Vương ngon lắm hả’ th́ người bạn trẻ trả lời ‘đâu có, bọn
em vào đấy uống trà mà’. ‘Trà ǵ?’. ‘Dạ trà thời đại’. Hỏi ra tôi mới biết
trà thời đại là loại trà ở tây phương người ta gọi là trà đen (black tea)
có pha với đường và sữa tươi. Th́ ra ở Hà Nội các em gọi đấy là ly trà
thời đại. Chắc các em muốn nói lên cái thời đại mà Việt Nam tiến bước
theo phương tây, không những trong khoa học, trong kinh tế, trong cung
cách làm ăn mà ngay cả trong cái chào, cái mặc, cái ăn, cái uống. Cho nên
không lạ khi thấy các em Hà Nội, và ngay cả các em Sàig̣n, là thành phần
ṇng cốt của thời đại hôm nay, thích chọn một ly ‘trà đen sữa đường’ để
biểu lộ tính thời đại mà các em đang tiếp cận.
Nhưng tại sao các em
lại gọi trà đen là ly trà thời đại nhỉ???
Tổ tiên ta ngày xưa
cũng đă thích uống trà. Nhưng trà của ta là trà xanh và nó đă có mặt với
ta, với người Á châu rất lâu, dễ chừng gần 5000 năm (1). Ví dụ
như ở Trung Quốc, kư sự đầu tiên nói về trà là cuốn ‘Pen Tsao’ viết vào
năm 2735 trước tây lịch, cuốn Đồng Ước viết vào năm 59 trước tây lịch và
sau đó Lục Vũ viết cuốn ‘Trà Kinh’vào năm 760. Trà ở Việt Nam cũng đă được
Lục Vũ đề cập như sau ‘người phương nam có cây Qua Lộ, giống như lá trà
non mà nhụy đắng, nghiền nát pha uống’. Trong An Nam Chí Lược, Lê Tắc chép
‘tháng 5 năm thứ tám niên hiệu Khai Bảo đời Tống Thái Tổ (975), Đinh Liễn
tiến cống vàng lụa, trà thơm.(2) Ở Nhật, trà xanh được các vị
sư Nhật Bản tu học ở Trung Hoa mang về trồng vào năm 729.(3).
Đến năm 1191, Thiền sư Eisai (Vinh Tây) nhân chuyến du học sang Trung Hoa,
cũng đem về một ít hạt giống trồng tại kinh đô Kyoto. Chính thiền sư Eisai
là người đă bỏ rất nhiều công phu để cải thiện cách chế trà của Lục Vũ, từ
dạng ‘bánh trà’ sang dạng trà búp phơi khô (sencha), mở đầu cho loại trà
xanh Nhật Bản ngày nay. Thiền sư Eisai cũng là người chế ra loại ‘trà bột’
(mạt trà) và hệ thống hoá cách uống trà dựa theo bốn điểm Ḥa, Kính, Tinh,
Tịch của Thiền học, để sau này Senno Rikyu (Thiên Lợi Hưu) hoàn tất việc
đưa môn uống trà xanh của Nhật thành một đạo: Trà Đạo (Cha no yu hay
Sado).
Ở Tây phương, người ta biết đến trà xanh rất muộn. Lúc đầu th́ nghe nói
đến trà xanh qua kư sự ‘Voyages and Travels’ viết vào năm 1559. Sau đó khi
Jan Hugo van Linschooten,
một nhà hàng hải Ḥa Lan, hết lời ca ngợi món Trà Đạo trong cuốn nhật kư
du lịch sang Nhật của ông xuất bản năm 1595, th́ các tàu buôn Ḥa Lan mới
bắt đầu buôn trà xanh sang Âu châu vào những năm đầu của 16004).
Thoạt đầu trà xanh được dùng cho giới quí tộc, nhưng kể từ năm 1657, khi
món trà xanh có trong thực đơn của quán cà phê nổi tiếng Garraways Coffee
House ở Luân Đôn th́ trà trở nên thức uống phổ biến ở Âu châu, đặc biệt
Anh quốc. Ở Nga, trà xanh được đưa sang từ Mông Cổ bằng lạc đà qua ngă sa
mạc Gobi vào cuối thế kỷ 17. Ở Hoa Kỳ, trà xanh được đưa sang vào thế kỷ
18. Lúc đầu tất cả các hàng nhập cảng đều bị
đánh thuế nhưng kể từ năm 1770 trở đi, một số lớn mặt hàng được miễn thuế
trừ trà. Dân Mỹ, lúc đó hăy c̣n là thuộc địa của Anh, đă chống lại bằng
cách ném tất cả các kiện trà xuống bến cảng Boston. Mỹ ít uống trà xanh
nhưng lại ghiền đậm cà phê.
V́ thị trường ngày một
to lớn, mà việc tàu buôn Ḥa Lan độc quyền bán trà không thể cung cấp hàng
kịp thời nên năm 1689 công ty East India của Anh ra đời, trực tiếp buôn
trà từ Trung Quốc sang Anh. Trong suốt gần 150 năm buôn bán trà xanh với Á
châu, người Tây phương thấy việc làm ăn buôn bán càng ngày càng gặp nhiều
khó khăn. Thứ nhất là cách trồng trà ở Trung Quốc trong những nương trà
nhỏ xíu với kiểu chế biến thủ công đă không đáp ứng được yêu cầu về lượng.
Thứ hai là phương pháp chế biến ‘bánh trà’ không hề được cải thiện nên
chất lượng kém, thường bị mốc meo sau những chuyến hải hành dài cả nửa năm
từ Trung Quốc sang Âu châu. Cuối cùng là những khó khăn trong vấn đề giao
dịch mua bán với giới quan lại Trung Quốc vốn cửa quyền, thích tham nhũng,
hối lộ. Từ những khó khăn đó công ty East India quyết định thành lập một
ủy ban nghiên cứu trà vào năm 1834 và sau gần 5 năm nghiên cứu công ty đă
sản xuất được một loại trà từ giống trà bản xứ ở tỉnh Assam thuộc miền bắc
Ấn Độ. Tuy nhiên, khác với các nương trà nhỏ xíu ở Trung Quốc, ‘đồn điền’
trà ở Ấn rộng bao la nên khi mang lá trà mới hái về công trường th́ trà đă
bị lên men do thời gian di chuyển quá lâu. Trà lên men mất màu xanh trở
thành màu đen. Lúc pha, nước trà màu đỏ sậm nhưng lại có mùi vị đặc biệt
khác hẳn với trà xanh: Một cách ngẫu nhiên Trà Đen kiểu Tây phương ra đời!
Tháng 12 năm 1837, lô trà đen đầu tiên được sản xuất từ một giống trà mới
(Assamica), trên một quê hương mới (Ấn Độ), bằng một phương pháp mới (lên
men) được chuyển xuống Calcutta để sau đó cấp tốc gởi sang Luân Đôn.
Tháng giêng năm 1839, tám kiện hàng trà đen đầu tiên làm ở Ấn Độ được đem
bán đấu giá tại pḥng thương măi Mincing Lane, Luân Đôn với sự quan tâm
ủng hộ đặc biệt của mọi giới. Từ nay, Tây phương đă có một loại trà mới:
Trà đen Ấn Độ.
Tuy sinh sau đẻ muộn
như thế, tuy chẳng có kinh kệ nào tán dương như Trà Kinh hoặc Trà Đạo, trà
đen được tiếp thị bằng những phương pháp quảng cáo giỏi cộng với thế lực
chính trị áp đảo của những nước thực dân nên đă gây ấn tượng, nhất là giới
trẻ, rằng sử dụng trà đen kiểu ‘Lipton’ là một kiểu uống của người sành
điệu, trẻ trung, quí phái, bảo vệ sức khoẻ.. trong khi một tách trà xanh
lại là cách uống của các vị lăo ông ‘tiên phong đạo cốt’, mơ màng với túi
thơ bầu rượu. Do vậy mà trà đen đă mau chóng chiếm lĩnh 72% thị trường
tiêu thụ thế giới, đem đến cho Tây phương, như công ty East India của Anh
quốc chẳng hạn, những lợi nhuận kết xù.
Nhưng sự thật có phải
trà đen có giá trị tuyệt vời như thế không. Xin nói ngay rằng không1,5).
Từ thập niên 70s cho đến nay, các nhà khoa học đông tây, đặc biệt các nhà
khoa học Nhật Bản, đă nghiên cứu một cách cặn kẽ và đă chứng minh rằng trà
xanh mới là loại trà giúp cho con người những lợi ích y dược sau:
ü
Tăng hệ miễn nhiễm để chống lại sự oxit hoá và free radical làm suy yếu hệ
thống pḥng ngừa tự nhiên của con người;
ü
Ngăn chận việc biến thành tế bào ung thư;
ü
Kềm chế bứu ung thư phát triển;
ü
Hạ
thấp lượng ‘cholesterol xấu’(Low Density lipoproteins; LDL) trong máu;
ü
Giảm huyết áp;
ü
Giảm
lượng đường trong máu;
ü
Kiềm chế sự lên cân v́ ngăn chận được sự phân giải của tinh bột;
ü
Tiêu diệt được siêu vi trùng, nấm và các loại vi khuẩn gây độc trong thức
ăn;
ü
Tiêu diệt được các loại vi khuẩn ở miệng và răng vốn là nguyên nhân làm
hôi miệng hoặc sâu răng;
ü
Làm chậm đi quá tŕnh lăo hóa, giúp con người ‘trẻ măi không già’.
Sở dĩ nhu vậy là v́ trà
xanh có chứa nhiều thành phần y dược có tác dụng tích cực đến sức khoẻ con
người, đặc biệt nhất là chất Catechins, một hợp chất chống oxyt hoá, là
thành phần chính giúp con người pḥng ngừa và chống được rất nhiều bệnh
hiểm nghèo như ung thư, đột quỵ, huyết áp, tiểu đường, béo ph́, ngộ độc
thức ăn v.v... (Bảng 1). Trà Xanh chứa rất nhiều Catechins, nhiều nhất
trong các loại thức ăn của con người. Catechins ở Trà Xanh chiếm 15-30%
trọng lượng chất khô trong khi ở Trà Đen lượng Catechins chỉ có khoảng
3-10% mà thôi. Chính v́ lẽ đó mà ngày nay ngoài việc dung trà xanh như
một thức uống, người ta dùng Trà Xanh để chế tạo nhiều mặt hàng khác như
Kem trà xanh, Kem đánh răng trà xanh, giấy lọc trà xanh, bao b́ trà xanh,
máu điều hoà không khí có bộ phận lọc (filter) trà xanh v.v...
Bảng 1. Các thành phần
y dược của trà xanh ảnh hưởng đến sức khỏe 1,5,6,7,8,9,10,11)
|
Thành phần hoá dược |
Tác dụng đối với sức khoẻ |
|
Catechins
|
Giảm
sự tạo thành tế bào ung thư
Làm
chậm sự phát triển và giảm bứu ung thư
Giảm
sự đột biến (dẫn đến việc tạo thành tế bào và bứu ung thư)
Chống oxy-hoá và các gốc tự do
Giảm
thấp lượng Chloresterol xấu LDL trong máu
Ngăn
ngừa sự tăng huyết áp
Ngăn
ngừa sự tăng lượng đường trong máu
Tiêu
diệt vi khuẩn
Tiêu
diệt siêu vi trùng cúm
Chống hơi thở hôi |
|
Caffeine
|
Chống buồn ngủ, Tinh thần tỉnh táo
Lợi tiểu |
|
Vitamin C |
Giảm
sự căng thẳng
Chống bệnh cảm |
|
Vitamin B complex
|
Thúc đẩy quá
tŕnh chuyển hoá carbohydrate |
|
γ - Amino Butyric Acid (GABA) |
Giảm huyết áp |
|
Flavonoids
|
Tăng
cường độ dẽo dai của vách mạch máu
Chống chứng hơi thở hôi (chống hôi miệng)
|
|
Polysaccarides
|
Giảm đường trong máu |
|
Fluoride
|
Chống sâu răng |
|
Vitamin E
|
Chống sự lăo hoá |
|
Theanine
(một loại amino acid) |
Làm tăng vị ngon |
Các em đang ngồi trong những quán cà phê ở Việt Nam thân mến,
Câu chuyện về trà
xanh chỉ là một trong nhiều bài học chua chát đă và đang xăy ra ở Việt
Nam: đó là chúng ta đă coi thường những sản phẩm truyền thống của dân tộc
để chạy theo một sản phẩm nước ngoài không có giá trị bằng. Sự coi thường
này một phần do chúng ta đă không dùng khoa học để tôn vinh giá trị của
trà xanh Việt Nam. Phần kia do chúng ta v́ quá hâm mộ văn minh phương tây,
tưởng hễ cái ǵ của phương tây đều ‘có lư’ hơn phương đông nên ‘ly trà
thời đại’ kia, tuy ly tách và cách pha chế thoạt trông cực kỳ mới mẽ,
nhưng nội lực không bao nhiêu v́ nó chỉ chứa có một phần tám giá trị y
dược so với trà xanh. Đấy là chưa nói đến việc khi pha với sữa, một số
protein trong sữa sẽ kết nôí với catechins trong trà làm vô hiệu hóa những
tác dụng tốt của cả trà lẫn sữa1).
Tuy vậy, tôi sẽ
không dại ǵ khuyên các em đừng gọi một ‘ly trà (đen) thời đại’ v́ một ly
trà vẫn c̣n tốt hơn một ly đế. Nhưng tôi sẽ nói với các em một sự thật,
rằng đă bao nhiêu năm nay ở phương tây người ta đang dấy lên một phong
trào sử dụng trà xanh và ở phương tây, một ly trà xanh đông phương của ta
mới thật là ly trà ‘thời đại’. Ở Úc châu trường đại học South Australia đă
lớn tiếng kêu gọi
‘Người Úc chúng ta
không có thói quen uống trà xanh. Nhưng khi nghĩ đến 150 người Úc chết mỗi
ngày v́ bệnh tim hoặc những ca đột quỵ, th́ đă đến lúc người Úc cũng nên
xem trà xanh là một thức uống thường ngày’ 10).
Ở Hoa Kỳ, dân Mỹ cũng đang rủ rê nhau uống trà xanh, nâng tỉ số sử dụng
loại trà này từ 3% lên 9% chỉ trong ṿng 4 năm 12) th́ ở Hà
Nội, hoặc Sàig̣n, các em lại nói khác đi, ít nhất là khác với những ǵ
đang xăy ra ở đây.
Tôi hy vọng rằng các
em sẽ ‘chớp’ được sự thật này, nhanh chóng trở về với văn minh trà xanh
Việt Nam, cho phương tây thấy chúng ta đă trân quư trà xanh từ lâu v́
chúng ta đă biết ‘b́nh minh nhất trảm trà, lương y bất đáo gia...’. Chúng
ta đă có những kiến thức đi trước phương tây hàng thế kỷ!
Gọi một ly trà xanh
thay v́ trà đen. Đó mới đúng thời đại đấy các em ạ!
Sydney, tháng 10 năm
2003
Quảng Thiện
Tài liệu tham khảo
1.
Taylor, N.,
1998. Green Tea, the natural secret for a healthier life. Kensington
Publishing Corp., USA.
2.
Vương Hồng
Sểnh, 1993. Khảo về đồ sứ cổ men lam Huế. Nhà xuất bản TP Hochiminh,
Vietnam.
3.
Muramatsu,
K., 1992. Cha no Yu (Science of Tea). Asakusa Publisher, Tokyo, Japan (In
Japanese).
4.
Wilson, K.C.
and M.N. Clifford, 1992. Tea, Cultivation to Consumption. Chapman & Hall
Publisher, London, UK.
5.
Oguni, I. and
Y. Hara, 1990. Grêntea has many medicinal activities for preventing
disease such as cancer, cardio-vascular diseases and diabetes. Publisher
The Chunichi Shimbun, Nagoya, Japan:1-239.
6.
Schapira, J.,
D.S. Schapira and K. Schapira, 1996. The book of Coffee and Tea. St.
Martin Publisher Corp., New York, USA.
7.
Jankun, J.,
S. Selmon and R. Swiercz, 1997. Why drinking green tea could prevent
cancer. Nature, Vol. 187, 5 June: 561.
8.
Toda, M., S.
Okubo, R. Hiyoshi and T. Shimamura, 1989. The bacterial activity of tea
and coffee. Letter Appl. Microbiol., Vol. 8: 123-125.
9.
Hara, Y.,
1993. Effect of tea polyphenols on the intestinal flora. Up to Date Food
Processing. Vol. 28(2), Feb. 1993.
10.
Emily
Collins, 1997. Green tea could be a natural weapon against cholesterol.
Campus News, November 3, 1997: 5.
11.
Bursill
Christina, P. Roach, C. Bottema and S. Pal, 2001. Greentea upregulates the
low density lipoprotein receptor through the sterol-regulated element
binding protein in HepG2 liver cells. J. Agric. Food Chem. Vol. 49:
5639-5645.
12.
Rosalie Marion Bliss, 2003. Brewing up the latest tea research.
Agricultural Research USDA-ARS, September 2003:11-13.
|