|
NGỘ ĐỘC” (NƯỚC) CỦ DỀN-NỖI OAN THỊ KÍNH
Nguyễn Đ́nh Nguyên
Gần đây,
ở khu vực phía Nam đă có một số báo cáo về các trường hợp trẻ em bị “ngộ độc
nước Củ dền” [1], và đă có khuyến cáo là không được dùng nước củ dền để pha
sữa cho trẻ. Vậy câu chuyện như thế nào, có thực củ dền gây ngộ độc hay không,
và sự thực đằng sau câu chuyện là ǵ, chúng tôi cố gắng thu thập tài liệu
và giúp bạn đọc t́m hiểu cội nguồn của vấn đề, từ đó chúng ta có thể có một
cái nh́n vấn đề đúng đắn và bao quát hơn.
|

|
|
Củ dền (Beetroot,
beet)
|
Củ
dền là cách gọi của người Việt nam có thể để chỉ một loại rau ôn đới có tên
là Beetroot, hay c̣n được gọi là Beet. Ngoài ra có một số loại
họ beet:
Spinach Beet.
Sea Beet. Garden Beet White Beet dùng để ăn lá, Sugar beet để chế biến đường,
Mangel
Wurzel để nuôi gia súc, hai loại này không ăn như rau.
Tên khoa học của Beetroot
là Beta vulgaris
Củ dền
có h́nh hơi tṛn, màu tím đỏ sẫm như màu nước rau dền đỏ ở ta. Có lẽ v́ thế
mà ở nước ta nó được gọi là củ dền, và thành ngữ Anh có câu là đỏ như củ dền
(red as a beetroot). Củ dền ở Việt nam được trồng ở các vùng có khí hậu mát
như Đà lạt, giống được du nhập từ thời thuộc Pháp.
Thành
phần dinh dưỡng của củ dền
Củ
dền được coi là một nguồn thực phẩm giàu folate. 100g củ dền có chứa khoảng
50kcal năng lượng, 5 g lipid, 11g carbon hydrate, 2g sợi, và 1g protein,
kali khoảng 312g, và đáp ứng được 4% nhu cầu VitA hàng ngày. Thêm vào đó củ
dền được xếp vào trong nhóm rau củ có hàm lượng nitrate cao tương đối hơn
so với các loại rau khác. Ngoài việc được sử dụng là nguồn thực phẩm rau,
trong y học cũng đă có các nghiên cứu về tính năng chữa bệnh: như chữa đau
đầu, thiếu máu, chứng vàng da, khô da, chứng hói đầu, tuy nhiên cho đến nay
vẫn chưa có bằng chứng đáng tin cậy. Nói chung, củ dền được xếp vào loại thực
phẩm bổ dưỡng (healthy food), vậy tại sao lại có chuyện ngộ độc củ dền hay
nước củ dền?
Khảo cứu
y văn trên thế giới, nhận thấy rằng người ta đă nghiên cứu vấn đề ngộ độc
liên quan đến rau củ đă khá lâu, và những năm gần đây thỉnh thoảng cũng có
nhắc đến chứ không rầm rộ như những thập niên 40s đến 70s.
Ngộ độc
có liên quan đến rau củ người ta nói đến chính là ngộ độc chất nitrate có
trong thành phần một số loại rau củ, trên lâm sàng gây ra hội chứng tăng Methemoglobin
trong máu [2] (sẽ được viết tắt là MetHb) làm cho trẻ biểu hiện xanh tím và
nếu không cấp cứu kịp thời có thể dẫn đến tử vong.
Cũng cần
nói thêm MetHb là một chứng không hay gặp trên lâm sàng, nhưng nếu gặp th́
phổ biến ở trẻ em. Về nguyên nhân, người ta xếp thành hai nhóm nguyên nhân,
(1) nhóm bệnh lư: di truyền do thiếu hụt enzyme đóng vai tṛ hoá giải MetHb
là NADH MetHb reductase (loại II) và bệnh hemoglobin M (loại I) di truyền
trội trên nhiễm sắc thể thường (autosomal). MetHb do nhóm nguyên nhân này
hiếm gặp hơn. (2) Nhóm thứ hai, phổ biến hơn là do tiếp xúc với hoá chất,
hay c̣n gọi là ngộ độc hoá chất hoặc thuốc bao gồm các chất như nitrate-nitrites,
cyanure, naphthalene, nitrobenzene, các thuốc như gốc sulfonamides, thuốc
chống sốt rét, thuốc gây mê v..v…
Vậy
nitrate là ǵ và tại sao nitrate có thể gây ngộ độc?
Nitrate
(NO3) là một phân tử tan trong nước có thành phần là nitơ gắn với 3 gốc oxy,
tạo ra do nitơ trong thành phần ammonia hoặc các nguồn khác kết hợp với nước
bị oxy hoá. Thành phần nitrate trong tự nhiên hay gặp trong các loại thực
vật (rau) ở một số loại cao hơn các loại khác, nồng độ c̣n tuỳ thuộc vào mức
độ phân bón có ni tơ được sử dụng và các điều kiện trồng trọt như thế nào.
Trong những thập niên gần đây người ta quan tâm hơn đến nồng độ nitrate trong
nước uống, đặc biệt là nước giếng do ô nhiễm nước từ các nguồn phân bón, nitrate
tích tụ rất lâu trong đất và nước ngầm.
Nguồn nitrate vào trong cơ thể
có thể nói đến 85% nhu cầu nitrate của cơ thể hàng ngày là từ các loại rau
[3] như cải bó xôi, cà rốt, xà lách. Tuy nhiên nồng độ nitrate trong rau củ
tươi tương đối thấp, thường chỉ từ 1-2mg/kg và hiếm khi đạt đến 10mg/kg [4].
Nguồn thứ hai là nitrite được sử dụng để bảo quản thịt chống lại sự xâm nhiễm
của vi khuẩn gây chết người- Clostridium botulium, ngoài ra nitrite c̣n có
tác dụng giữ nguyên đặc tính của thịt tươi, như màu và mùi. Nguồn thứ ba là
từ nguồn nước bị ô nhiễm. Nitrate ô nhiễm nước đến từ các nguồn như phân bón,
chất thải động vật, các bồn chứa nhiễm khuẩn, hệ thống xử lư tưới tiêu thành
phố và chất lắng động từ xác bă thực vật. Hai nguồn đến từ rau củ và phụ gia
thực phẩm được các nhà khoa học coi là khá an toàn, với điều kiện việc sử
dụng nitrite làm chất phụ gia phải được quản lư chặt chẽ [5] . Trong khi đó
nguồn nitrate từ nước là hoàn toàn tuỳ thuộc từng vùng, địa phương. Lượng
Nitrate-nitơ trong nước tự nhiên 1mg/lít nước được coi là không bị ô nhiễm.
Việc nitrate xâm nhập được vào nước giếng c̣n tuỳ thuộc vào tính chất của
đất và sự hiện diện của thềm đá ngầm, cũng như độ sâu của giếng. Ở các tiểu
bang của Mỹ lượng nitrate-nitơ cho phép trong nước uống tối đa là 10mg/lít
(hay 10 phần triệu-ppm) [6].
B́nh thường, bản thân Nitrate
chỉ gây độc khi ở mức độ cao hơn nhiều so với nồng độ của nó có trong thực
phẩm [7]. Mối nguy hiểm của nitrate trong nước và trong thức ăn là
ở chỗ nó chuyển hoá thành các nitrite trước hoặc sau khi ăn vào. Chính nitrite
này vào trong máu gây oxi hoá các huyết cầu tố b́nh thường tạo ra huyết
cầu tố dạng Met không có kha ûnăng vận chuyển oxy (xem thêm chú thích 2).
Cho đến
nay, theo Tổ chức Y tế Thế giới th́ hầu hết một người lớn trung b́nh mỗi ngày
lượng nitơ-nitrate tiêu thụ vào qua đường tiêu hoá là từ 20-100mg, và hầu
hết là từ nguồn rau như xà lách, cần tây, củ dền, cải bó xôi. Lượng nitrate
nằm trong khẩu phần ăn hàng nói chung là không nguy hại. Một người ăn chay
một ngày trung b́nh có thể thu nạp đến 250mg nitrate-nitơ [8].
Trong điều
kiện b́nh thường trong đường tiêu hoá có khả năng làm giảm sự chuyển nitrate
thành nitrite trong quá tŕnh tiêu hoá, hoặc là nó bị chuyển hoá hoặc là nó
bị đào thảùi ra ngoài ngay mà chưa kịp chuyển hoá. Cơ thể một người b́nh thường
có các điều kiện pḥng vệ sau để chuyển hoá và đào thải nitrate-nitrite:
-
Độ toan dạ dày
thấp (pH<4)
-
Chế độ ăn
có Vitamin C
-
Trong cơ thể có
các enzymes: NADH Methemoglobin reductase, glutiathion reductase và glucose-6-phosphate
dehydrogenase (G6PD) để chuyển hoá khử methemoglobin trong máu.
Như
vậy ta có thể nói rằng trong một điều kiện b́nh thường th́ việc tiếp xúc và
thu nạp nitrate qua đường tiêu hoá hàng ngày với con người ta có thể coi như
vô hại. Thế nhưng, đối với trẻ nhỏ đặc biệt là trẻ dưới 6 tháng tuổi do các
tổ chức chưa hoàn thiện đặc biệt là hệ tiêu hoá, th́ lại khác.
Trẻ em
đặc biệt dưới 4 tháng tuổi được xếp loại nhạy cảm (dễ mắc) với chứng tăng
MetHb máu . Sở dĩ như vậy là v́ trẻ em nhóm tuổi này trong máu c̣n chứa nhiều
dạng hemoglobin của thai nhi, loại này rất nhạy cảm với các tác nhân oxi hoá.
Như đă nêu trong phần chú thích, b́nh thường trong cơ thể khoẻ mạnh trong
máu cũng có chứa khoảng 1-2% [9] MetHb, nhưng sau đó chúng được hoá giải bởi
enzyme NADH MetHb reductase, glutiathion reductase và G6PD. Các ezyme này
có nồng độ rất thấp ở trẻ sơ sinh và được tổng hợp dần cho đến 4 tháng tuổi
mới đạt được mức b́nh thường. Trong cơ thể trẻ em b́nh thường lượng MetHb
có thể đạt đến 2-5%, thế nhưng nếu trên cơ thể trẻ thiếu máu rơ th́ với một
lượng thấp MetHb cũng có thể gây xanh tím và tử vong. Cũng có trẻ có thể dung
nạp được lượng MetHb đến 5-8% mà không hề có xanh tím. Người ta cũng đă ghi
nhận được một trẻ chỉ 10 ngày tuổi đă được cho ăn với một lượng thức ăn có
chứa đến 100mg nitrate/kg thể trọng trong một khoảng thời gian 8 ngày mà không
hề có xanh tím, lượng MetHb đo được trong máu cũng chỉ có 7.5% [10].
Trong
cơ thể trẻ với nồng độ toan của dịch vị không đủ (ở trẻ nhỏ pH >4) và sự hiện
diện các loại vi khuẩn chuyển nitrate ở đường hô tiêu hoá trên, làm tăng thêm
tính nhạy cảm với MetHb vốn dĩ trên cơ thể đă nhạy cảm.
Như vậy
có rất nhiều yếu tố làm cho một cơ thể trẻ nhỏ dễ bị chứng MetHb rồi, cộng
thêm vai tṛ của Nitrate nữa cho nên các nhà chuyên khoa đă không thể xác
định được đâu là nồng độ an toàn cho phép cơ thể trẻ dung nạp nitrate cả.
Ngộ
độc nitrate liên quan với nước uống
Nhiều báo
cáo gần đây cho thấy rằng trẻ em bị MetHb do uống sữa pha với nước giếng hoặc
nước giếng khoan. Sau đó kiểm tra định lượng thấy thành phần nitrate trong
nước giếng khá cao [11] Năm 1993 tiểu bang Winconsin Mỹ đă phải khuyến cáo
dân chúng chỉ được dùng nước đóng chai để nấu ăn [9].
Ngộ
độc nitrate liên quan với rau củ
Tiến
hành kiểm chứng rộng răi các tài liệu th́ vẫn chưa t́m thấy được một trẻ nào
bị chứng tăng MetHb trong máu chỉ do ăn phải rau củ không thôi cả. Ngộ độc
nitrate xuất hiện thường xuất hiện cùng với nước uống hơn là chỉ ăn rau quả
tự nhiên [12]. Các số liệu cũng cho thấy rằng một số yếu tố có tính bảo vệ
trong thức ăn như vitamin C, vitamin K, mặc dù chúng ít hiệu quả
hơn methylene blue nhưng những chất này cũng được dùng để điều trị chứng tăng
MetHb máu [10]. Có một số các chất chuyển hoá xảy ra tự nhiên có thể ngăn
cảùn sự h́nh thành hoặc tích tụ metHb trong hồng cầu, hoặc các nitrates trong
cây trồng đă có thể nằm ở dưới dạng kết hợp hoá học làm cho chúng ít có khả
năng chuyển hoá thành các nitrite trong đường tiêu hoá khi ăn phải hơn là
các nitrate ở dưới dạng ion phân tử trong thành phần nước giếng. Yếu tố tiêu
thụ trường cửu nước giếng có thể là quan trọng nếu đem so sánh với việc ăn
uống rau quả không mấy thường xuyên. Và có thể là do yếu tố này hay yếu tố
khác mà việc thành phần nitrate trong rau trong khẩu phần ăn của trẻ không
đủ để gây tăng MetHb trong máu ngay cả ở những trẻ xếp vào nhóm nhạy cảm.
Trong một
số điều kiện, các nitrate trong thực vật có thể đă chuyển hoá thành nitrite
trước khi ăn vào, trong trường hợp này có thể sẽ gây hiện tượng tăng MetHb
trong cơ thể nặng nề hoặc có thể tử vong. Đă có báo cáo có 2 trẻ 3 tháng rưỡi
tuổi bị MetHb [13] sau khi ăn rau cải bó xôi (spinach), khi xét nghiệm rau
chỉ có vết Nitrate, nhưng nitrite đạt đến nồng độ 2180 phần triệu (ppm). Cũng
gần sau đó, người ta cũng phát hiện một trẻ nữa 2 tháng rưỡi tuổi, ở Đức bị
MetHb do ăn cải bó xôi11. Trong những trường hợp này, thức ăn là rau tinh
khiết chế biến tại nhà, được để lưu trữ nhưng không biết trong điều kiện nào,
và rơ ràng là rau cải bó xôi đă trở thành “độc” trong quá tŕnh lưu trữ do
có hiện tượng chuyển hoá nitrate thành nitrite.
Schuphan
[11] đă báo cáo rằng thành phần nitrite trong rau cải bó xôi sẽ tăng lên từ
3 lên đến 335mg trong mỗi 100g chất khô trong quá tŕnh vận chuyển và bảo
quản lá rau không chế biến. Phillips [14] cũng đă xác nhận hiện tượng này.
Việc chuyển đổi từ nitrate sang nitrite trong lá rau dưới dạng không chế biến
có thể là do hậu quả của vai tṛ của các enzyme chuyển hoá nitrate có trong
rau hoặc vai tṛ của các vi khuẩn [15]. T́nh trạng nhiệt độ môi trường giữ
rau tăng lên trong quá tŕnh vận chuyển cộng với t́nh trạng thiếu oxy do sắp
và bó chặt rau quả lại cũng được cho là nhân tố làm tăng quá tŕnh chuyển
đổi từ nitrate sang nitrite này.
Một số
nhà quan sát [16] cũng chỉ t́m thấy vết tích của nitrite trong các thực phẩm
trẻ em đóng hộp được kiểm nghiệm dưới những điều kiện mà người ta cho rằng
có thể là yếu tố kích thích việc chuyển đổi này. Phillips [17] đă minh hoạ
rằng nitrite không thể tích tụ được trong thực phẩm đóng hộp dù đă mở hộp
và được cất giữ trong tủ mát dưới điều kiện b́nh thường trong ṿng 25 ngày
liền. Sự khác biệt giữa cải bó xôi đóng hộp và loại tươi này có thể được coi
như là do việc làm bất hoạt các enzyme, loại bỏ vi khuẩn, và mất nitrate trong
quá tŕnh trụng hấp và chế biến [14]. Brown và Smith cũng đă khuyến cáo rằng
phần rau cải bó xôi không ăn hết cần phải bỏ đi [18].
Việc sử
dụng rộng răi thức ăn trẻ em đóng hộp là một bằng chứng hỗ trợ cho sự khác
biệt này. Trong một ước tính sơ bộ, trong ṿng 20 năm, Mỹ và Canada đă sử
dụng trên 350 triệu hộp cải bó xôi và củ dền đóng hộp mà chưa gặp phải một
trường hợp bị MetHb nào [19].
Một nghiên
cứu vừa mới gần đây nhất [20] trên 7 trẻ bị chứng tăng MetHb trong máu có
liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm rau. Điều đặc biệt đáng lưu tâm ở đây
là tuổi trung b́nh của các trẻ này là 8.14 tháng (dao động từ 7-13 tháng tuổi).
Trong số đó không có trẻ nào bị suy dinh dưỡng, nhiễm trùng, tiêu chảy hay
dùng các thuốc, cũng như không có bằng chứng ǵ mắc bệnh bẩm sinh tăng MetHb
(tức là trẻ hoàn toàn không được xếp vào nhóm nhạy cảm hay có nguy cơ).
Các trẻ này hầu hết ăn là loại rau hỗn hợp có chủ yếu là cải bó
xôi trắng (silver beets), được cất giữ trong môi trường tủ mát.
Như vậy
nghiên cứu này cho thấy rằng không phải chỉ có các đối tượng trẻ dưới 4 tháng
mới mắc bệnh, và không phảûi chỉ ăn rau tươi thôi mà mẵc bệnh mà thường phải
kết hợp với các yếu tố khác như: thức ăn lưu giữ không thích hợp.
Cũng
trong nghiên cứu này, khảo sát đánh giá nồng độ nitrate trong một số loại
rau được coi là có chứa nitrate ở nồng độ cao, đă cho trẻ ăn, cho thấy kết
quả như sau:
|
Rau
|
Nồng độ ion
nitrate (mg/kg)
|
|
Trung b́nh
|
Tối thiểu
|
Tối đa
|
|
Cải bó xôi trắng (silver beets)
|
2900
|
100
|
4800
|
|
Cải bó xôi (spinach)
|
2750
|
2100
|
3200
|
|
Rau diếp (lettuce)
|
1250
|
350
|
2700
|
|
Tỏi tây (leek)
|
850
|
50
|
1300
|
|
Cải bắp (cabbage)
|
900
|
500
|
1200
|
|
Bí đỏ
|
700
|
200
|
950
|
|
Đậu xanh (green bean)*
|
700
|
400
|
850
|
|
Cà rốt
|
-
|
0
|
200
|
* Giống như đậu cô-ve, haricot
bean
Tuy nhiên
nồng độ này thay đổi trong rau theo mùa trồng. Khảo sát này c̣n cho thấy nồng
độ ion nitrate cao nhất trong rau là rau thu hoạch vào tháng 8, 9. Ví dụ:
rau cải bó xôi trắng, ion nitrate đo được ở tháng 8 là 6300mg/kg, tháng 9
là 4800mg/kg nhưng ở tháng giêng chỉ có 100mg/kg.
Nồng độ
nitrate trong các loại rau khác nhau tuy øtheo vùng, thí dụ như ở nghiên cứu
này cho thấy cà rốt có chứa nitrate ở một nồng độ rất thấp, hầu như không
đáng kể, nhưng ở các nước khác lại khá cao [21]. Và cũng một loại rau trong
một nước trồng ở các vùng khác nhau cũng có nồng độ nitrate khác nhau [21].
Từ các đặc điểm này có thể liên hệ đến đặc tính của đất trồng, sử dụng phân
bón nitrate.
Một nghiên
cứu khác ở Thái lan [22] trên 33 loại rau bày bán ở các chợ thuộc tỉnh Chiang
Mai th́ thấy rằng 18/33 loại rau có nồng độ Nitrate cao, 15/33 có nồng độ
Nitrate thấp, và 4 loại rau tự mọc không có dùng phân bón hoá học th́ 3/4
loại tự mọc có nồng độ Nitrate cao như loại cao bày bán ở chợ. Nhóm nghiên
cứu chỉ vẫn đặt giả thuyết về nguyên nhân là có thể do thành phần phân bón
hoá học có chứa nồng độ Nitrate cao (loại Nitrate Kali), hoặc Nitrate nằm
tồn lưu lại dưới đất. Một số loại rau có nồng độ Nitrate thấp là có thể do
quá tŕnh chuyển hoá sang protein xảy ra trong thực vật.
Trong
khi đó một nguồn tiềm tàng có khả năng gây tăng MetHb trong máu ở trẻ em phát
triển trong những năm vừa qua là việc ô nhiễm nitrate trong nước uống do việc
sử dụng phân bón trong nông nghiệp. Tầm vóc của việc nguy hại này vẫn luôn
nằm ngoài khả năng đánh giá đúng mức cho đến khi có được các cuộc khảo sát
có hệ thống về thành phần nitrate trong nước uống, đặc biệt là những vùng
cho là có nguy cơ.
Tóm lại
lược khảo qua y văn thế giới trong ṿng trên 50 năm qua về chứng MetHb mắc
phải ở trẻ em liên quan với thức ăn rau củ ta thấy các điểm nổi bật sau đây:
1.
MetHb hay xảy ra ở các đối tượng trẻ em, nhất là nhóm nhạy cảm là nhóm
dưới 4 tháng tuổi v́ các lư do sau:
1.1: Cơ thể c̣n chứa nhiều huyết
cầu tố bào thai, là loại nhạy cảm dễ bị chuyển thành MetHb
1.2: Do đặc tính chưa trưởng
thành của cơ thể nên thiếu hụt enzyme khử MetHb
1.3: Nồng độ acid dạ dày kém
toan nên nitrate dễ chuyển hoá thành nitrite
1.4: Tồn tại nhiều loại vi khuẩn
có khả năng chuyển hoá nitrate trong đường tiêu hoá thành nitrite
1.5: Chế độ ăn thiếu các Vitamin
khác kèm theo (C, K) là các chất giúp khử MetHb.
2. MetHb do ngộ
độc Nitrate ở trẻ em đă được báo cáo từ lâu, các nguồn nitrate được xác nhận
chủ yếu là từ nước uống bị nhiễm nitrate nhất là nước giếng, và được ghi nhận
là phổ biến hơn nitrate trong thực phẩm.
3. MetHb do ngộ độc nitrate
trong thực phẩm được xác nhận dưỡng như rất nhất quán là bắt nguồn từ các
loại rau quả có chứa nitrate nồng độ cao, đặc biệt là cải bó xôi trắng, cải
bó xôi; c̣n trong ṿng bàn căi là nước vắt cà rốt, củ dền. Nồng độ nitrate
trong rau củ dưỡng như có liên quan với việc sử dụng phân bón, tưới tiêu.
Tuy nhiên, bằng chứng đă cho thấy việc ngộ độc nitrate trong thành phần rau
củ không phải do đơn thuần rau củ gây nên mà phải có các yếu tố gây tăng nồng
độ nitrate trong chế độ ăn đi kèm như: rau tươi chuyên chở lâu, giữ lâu, sau
khi chế biến rồi được lư u giữ trong tủ lạnh, hoặc dùng nước rau có hai yếu
tố nguy cơ là nước có nồng độ nitrate cao, và các loại rau củ này luộc lên
có khả năng làm tăng nồng độ nitrate vốn có.
4. Chưa có bằng
chứng các rau củ có chứa nitrate đóng hộp gây ngộ độc.
Như
vậy thuật ngữ sử dụng “ngộ độc nước củ dền hay ngộ độc củ dền” là không chính
xác, và cách dùng như vậy sẽ gây một sự ngộ nhận sai lạc về củ dền, một loại
thực phẩm có giá trị về dinh dưỡng. Việc bị ngộ độc nếu có cũng có
thể không phải do đặc tính sinh học của củ dền gây nên, mà do nhiều yếu tố
kết hợp lại, trong đó chủ yếu là sử dụng sai qui cách. Về mặt chuyên môn th́
đây là một quy kết thiếu cẩn trọng, vội vă nếu không nói là thiếu chính xác
trong khoa học.
Trên lâm
sàng nếu xác định được có thành phần nitrate trong máu hay trong nước tiểu
th́ thuật ngữ sử dụng cũng chỉ nên dùng là “Ngộ độc Nitrate”, nếu chưa có
bằng chứng mà trên lâm sàng chỉ có xanh tím, xét nghiệm máu có tỷ lệ MetHb
tăng cao bất thường th́ gọi là Chứng tăng MetHb trong máu (Methemoglobinemia).
Về
nguyên nhân: MetHb ta thấy có các mối liên quan sau:
Các
tác nhân khác
Mắc phải:
Nước uống ô nhiễm nitrate }
à
Methemoglobinemia
ß
Bẩm sinh
(ngộ độc)
Rau củ chứa nitrate
Như vậy
nếu muốn quy kết là Ngộ độc Nitrate từ nguồn rau củ (ở đây là củ dền) th́
các điều kiện cần và đủ là:
(1)
Phải loại trừ được các nguyên nhân bẩm sinh
(2)
Phải loại trừ được các tác nhân ngoại sinh khác gây tăng MetHb.
(3)
Định lượng được nồng độ nitrate trong nước uống nơi khu vực bệnh nhân
sinh sống.
(4)
Và sau cùng là định lượng nồng độ Nitrate trong rau củ nghi ngờ là
tác nhân (ở đây là củ dền). Nhưng như đă tŕnh bày nó chỉ có giá trị quy kết
ở các đối tượng không xếp vào nhóm nhạy cảm (trên 4 tháng tuổi).
Thay cho
đoạn kết chúng tôi xin đưa ra lời khuyên thực hành dinh dưỡng cho các bà mẹ
nuôi con, trước hết là để tối ưu hoá vấn đề nuôi dưỡng trẻ em, sau nữa cũng
là phương cách để giảm tiếp xúc với các yếu tố nguy cơ bệnh lư do môi trường
xung quanh gây nên.
1.
Theo khuyến cáo cuả Tổ chức Y tế Thế giới [23], (a) tất cả trẻ sơ sinh cần
được bú mẹ hoàn toàn cho đến tối thiểu là 4-6 tháng tuổi. Bú mẹ hoàn toàn
ở đây được hiểu là chỉ có sữa mẹ mà không có một thứ ǵ khác kèm theo kể cả
nước lọc. Ngay cả trong mùa hè nóng nực, trẻ bú mẹ cũng không có nhu cầu
thêm về nước [24]. Trong trường hợp hăn hữu phải cho bú sữa nhân tạo (không
phải sữa mẹ) th́ cần phải tham khảo ư kiến chuyên môn, và trẻ bú b́nh cũng
không có nhu cầu nước thêm [24]. (b) Trẻ con chỉ nên cho ăn xam (tức là ăn
thêm các thức ăn khác ngoài sữa) từ 6 tháng tuổi trở lên (xin nhắc lại từ
6 tháng tuổi).
Như vậy
chỉ bằng thực hành này thôi, ta đă loại bỏ được các nguy cơ cao làm cho trẻ
bị mắc MetHb đó là: cơ thể trẻ dưới 6 tháng là cơ thể nhạy cảm với t́nh trạng
MetHb, và tránh tiếp xúc được với nguồn nitrate-nitrite trong tự nhiên.
2.
Khi dùng rau tươi chế biến thức ăn cho trẻ (đặc biệt các loại có chứa nitrate
nêu trên) nên lưu ư: rau phải ăn tươi, chế biến xong ăn ngay; không giữ rau
lâu ngày, bó chặt, hoặc chế biến rồi để lâu trong tủ lạnh th́ dễ có nguy cơ
bị ngộ độc nitrate.
3. Không
nên sử dụng nước rau luộc các loại để làm thức uống (kể cả người lớn), v́
đơn giản là nó không có giá trị về dinh dưỡng. Không những không lợi
mà c̣n có thể “bất cập hại” là nước đó có thể nhiễm nitrate ở mức độ cao,
hơn nữa khi đun sôi th́ có thể làm cho nồng độ nitrate tăng lên.
4.
Nước giếng, nhất là giếng khoan sử dụng để nấu ăn, pha sữa, tối ưu
là nên được chuẩn độ nitrate
Khuyến cáo cộng đồng: Ở các
quốc gia đă phát triển như Mỹ, Úc, châu Âu v.v.., khi nguồn nước uống được
kiểm tra thấy nồng độ nitrate-nitơ trên 10mg/lít th́:
1.
Không được sử dụng nước này để pha sữa cho trẻ em dưới 6 tháng
tuổi.
2.
Phụ nữ có thai không được uống nước này.
3.
Không nên coi là có thể loại bỏ được nitrate trong nước bằng
cách đun sôi, làm như vậy là càng làm cho nồng độ nitrate tăng cao hơn.
4.
Chú ư đến chứng MetHb (xanh tím) ở trẻ
5.
Phát hiện và xử lư nguồn nitrate gây ô nhiễm nước.
Thiết nghĩ việc áp dụng những
khuyến cáo này cũng phần nào làm giảm nguy cơ tiếp xúc với nguồn Nitrate-nitrites
không những là tác nhân gây hội chứng xanh tím ở trẻ con, mà c̣n được quy
kết là tác nhân của một số loại ung thư ở người.
NDN
07/2002
Ghi chú
[1]
Xem tin trên báo Thanh niên số 19/07/02 và Thanh niên chủ nhật 21/07/02, hoặc
tin trên mạng của Vnexpress www.vnexpress.net
mục Sức khoẻ
[2] Methemoglobinemia là một
t́nh trạng thành phần Sắt hoá trị 2 (Fe2+) trong huyết cầu tố b́nh thường
bị oxi hoá thành Sắt hoá trị 3 (Fe3+) , chuyển Hemoglobin (Hb) của hồng cầu
b́nh thường thành dạng methemoglobin (MetHb), và lượng MetHb này tăng lên
trong máu. Do MetHb không có khả năng vận chuyển oxy (một chức năng của hồng
cầu), cho nên nếu MetHb tăng quá mức th́ trên lâm sàng gây ra hiện tượng
da xanh tím do t́nh trạng thiếu oxy mô, do chuyển hoá yếm khí ở các cơ phận.
B́nh thường th́ trong máu cũng
có một lượng MetHb nhất định, gọi là ngưỡng sinh lư (chiếm khoảng 1% nồng
độ Hb trong máu). Các chất có khả năng oxi hoá lưu hành trong máu thông thường
bị các enzyme (có sử dụng Vitamin C, các chất chứa sulfhydryl như gluthatione)
làm bất hoạt. MetHb sau đó được chuyển hoá nhờ một số men (như NADH-methemoglobin
reductase, NADPH-methemoglobin reductase) và các hệ thống enzyme có chứa Vitamin
C và sulfhydryl.
Trên lâm sàng xảy ra hiện tượng
xanh tím này khi trong máu lượng MetHb đạt tỷ lệ từ 5% trở lên (có tài liệu
cho là 15%), tức là MetHb đạt con số tuyệt đối ở mức 0,5-1,5g/100ml máu. Tuy
nhiên cũng có những bệnh nhân không hề bị xanh tím có nồng độ MetHb trong
máu cao lên đến trên 20-30%. Ngưỡng này ngoài xanh tím ra c̣n có biểu hiện
mệt mỏi, nhức đầu, chóng mặt, nhịp tim nhanh, yếu cơ. Và khi nồng độ MetHb
tăng lên trên 45% th́ khó thở, nhịp tim chậm lại, thiếu oxy, toan chuyển hoá,
co giật, hôn mê, rối loạn nhịp tim. Nếu MetHb trên 70% th́ tử vong rất nhanh
chóng
Việc xác định lượng MetHb trong
máu, người ta sử dụng Oxid carbon-oxi kế (CO-oximetry). Nếu không có máy này
th́ có thể đo lường gián tiếp bằng cách ước lượng từ độ băo hoà oxy trong
máu động mạch. Nh́n bằng mắt thường th́ máu có maù sô-cô-la.
Chữa trị chứng này là có chỉ
định tiêm tĩnh mạch Methylene Blue nếu: có hiện tượng xanh tím trên lâm sàng
hoặc nồng độ MetHb cao từ 30% trở lên. Các điều trị triệu chứng được áp dụng.
[3]
Gangolli SD, van
den Brandt PA, Feron VJ, Janzowsky C, Koeman JH, Speijers GJ, Spiegelhader
B, Walker R, Wisnok JS. Nitrate Nitrite, and N-nitroso Compounds. Euro
J Pharmacol 1994;292(1):1-38.
[4]
12. Corre
WJ, Breimer T. Nitrate and nitrite in vegetables. PUDOC Literature Survey
No. 39, 1979.
[5] Food and Nutrition Policy
conference "Nitrite as a Food Additive: State of the Science" in Washington,
D.C., Dec. 10-11, 1997.)
[6] http://www.dnr.state.wi.us
[7]
10. Stewart, C. P., and Stolman,
A.: Toxicology; Mechanisms and Analytical Methods, Vol. 2. New York. Academic
Press, p. 787, 1961.
[8]
http://www.gem.msu.edu/pubs/msue/wq19p1.html
[9]
Jaffe ER, Heler P, Methemoglobin in man,
Progress in Hematology, edited by Moore CV, Brown EB, Vol 4 New York: 1964
Grune and Stratton, 48-71
Gibson QH, Reduction
of methemoglobin in red blood cells and studies on the cause of idiopathic
methemoglobinemia in ifants, Pediatrics, 1964: 34, 78.
[10]
Comblath, M., and Hartmann A.
F: Methemoglobinemia in young infants. J Pediat, 33: 42 1, 1948.
Hammond, D., and Murphy, A.: The influence of exogenous iron on formation
of hemoglobin in the premature infant PEDIATRICS, 25:362, 1960
[11] Methemoglobinemaia in an
Infant in Winconsin, 1992, MMWR 1993: 43(12) 217-219. hoặc
www.cdc.gov
[12]
Jaffe, E. R., and Heller, P.:
Methemoglobinernia in man. In Moore, C. V., and Brown, E. B., ed.: Progress
in Hematology, Vol. 4, New York.. Grune and Stratton, pp. 48‑71, 1964.
Gibson, Q. H.: Reduction of methemoglobin in red blood cells and studies
on the cause of idiopathic methemoglobinemia. Biochem. J, 42:13, 1948.
[13]
Committee of Nutrition, American Academic
of Pediatrics, Infant Methhemoglobinemia: The role of Dietary Nitrate, Pediatrics
1970; 46(53): 475-478.
[14]
Phillips, W E. J: Changes in
the nitrate and nitrite contents of fresh and processed spinach during storage.
J. Agr. Food Chem., 16: 88, 1968.
[15]
Miller, R. A.: Observations
on gastric acidity during first month of life. Arch. Dis. Child, 16.22, 1941.
[16]
Wilson, J. K: Nitrate in foods
and its relation to health. Agronomy J, 4 1:20, 1949.
Kamm, L., MCK6own, G. G., and Smith, D. M.: Food additives; New colorimetric
method for the determination of the nitrate and nitrite content of baby foods.
J. Ass. Official Agri. Chem., 48:892, 1965.
Canada, J. C.: Baby foods as Contributing Factor to Methemoglobinemia. Gerber
Products Company Research Report. Unpublished report.
[17]
Phillips, W E. J: Lack
of nitrate accumulation in partially consumedjars of baby food. Canad. Inst.
Food Technology J, 2:160, 1969
[18]
Brown, J. R., and Smith,
G. E: Nitrate accumulation and vegetable crops as influenced by soil fertility
practices. Univ. Missouri Agr. Exot. Station Res. Bull. 920, April, 1967
[19]
Stewart, R. A.: Gerber Products
Company. Private Communication to Lowe, C. U.: Twenty Year Total U. S. Industry
Production Data for Strained Spinach and Strained Beets, 1968.
[20]
Sanchez- Echaniz J., Benito-Fernander
J., Mintegui-Raso S., Methemoglobin and xonsumption of Vegetables in Infants,
Pediatrics 2001; 107(5):1024-1028.
[21]
Keating JP, Lelle ME, Strauss AW, Zarkowsky
H, Smith GE, Infantile methemoglobin caused by carrot juice N Engl J Med.,
1973; 288:824-826.
[22] Khesorn Nathanchit , Duangporn
Winijkul, The nitrate and nitrites
contents of vegetables marketed in Chiang Mai province, report at the 20th
Congress on Science and Technology of Thailand, 1994.
[23] WHO, Global strategy for
infant and young child feeding. Report by the Secretariat for the 54th
World Health Assembley, Provisional agenda item 13.1, A54/7 9 April 2001.
[24] Ashraf RN, Jalil F, Lindblad
BS., 1993, Additional water is not needed for healthy breastfed babies in
a hot climate, Acta Paediatrica: 82:1007-11.
|