|
Tạo sinh vô tính và
vấn đề sinh đạo đức
Nguyễn Văn
Tuấn
Những ai từng
đọc truyện “Tề thiên đại thánh” đều biết đến câu chuyện Tôn ngộ không nhổ
một cọng tóc, và từ cọng tóc hóa thành hàng trăm Tôn ngộ không khác với
h́nh dạng y chang như Tôn ngộ không “thật”. Cố nhiên, chúng ta cho rằng
câu chuyện chỉ là huyền thoại, một giả tưởng, có tính cách giải trí.
Nhưng với phát triển của công nghệ sinh học ngày nay, câu chuyện trên
không c̣n là huyền thoại nữa mà có thể thành sự thật. Trong một tương lai
không xa, chúng ta có thể “sao y bản chính” chính chúng ta, bằng một kĩ
thuật có tên là Biến đổi nhân của tế bào thể, c̣n được đề cập đến [một
cách không mấy chính xác] là “tạo sinh vô tính” (hay cloning) [1].
Tạo sinh vô
tính là một trong những phát triển cực ḱ quan trọng trong công nghệ sinh
học. Lần đầu tiên trong lịch sử con người, chính con người có thể đóng
vai tṛ của một “Thượng đế” để tạo ra chính ḿnh. Lần đầu tiên, con người
có thể được kiến tạo mà không cần đến giao hợp giữa nam và nữ, không cần
đến tinh trùng của người đàn ông. Tạo sinh vô tính là một tiến bộ quan
trọng cho thấy tiềm năng vĩ đại của con ngườ. Con người đă tiến gần đến
t́nh thế mà chúng ta có thể sản xuất, hơn là sản sinh, con người.
Quá tŕnh và
phương pháp tạo sinh vô tính bắt chước quá tŕnh sinh sản tự nhiên trong
con người, hay động vật nói chung, và dựa vào mô h́nh của sinh học phân tử
(molecular biology). Theo mô h́nh này, con người được cấu trúc bằng hàng
tỉ tế bào. Mỗi tế bào của cơ thể (trừ hồng cầu) đều có nhân; trong nhân
chứa các chất liệu di truyền, nhiễm sắc thể (chromosome) quyết định cấu
trúc đặc tính cho mỗi cá thể. Con người có 23 đôi nhiễm sắc thể (22 đôi
thường và một đôi xác định giới tính). Trong mỗi nhiễm sắc thể có nhiều
gien. Mỗi gien được cấu tạo bằng một mảng DNA (viết tắt của từ
DeoxyriboNucleic Acid) nằm trong các nhiễm sắc thể này. Mỗi mảng DNA gồm
có bốn yếu tố hóa học (hay 4 mẫu tự): A (adeline), C (cytosine), G
(guanine), và T (thymine).
Trong quá
tŕnh sinh sản tự nhiên, sự phát triển của một con người bắt đầu bằng chỉ
một tế bào. Khi một tinh trùng thụ tinh với một trứng và tạo ra một tế
bào đơn, và tế bào đơn này có tiềm năng phân chia để h́nh thành nên một cơ
thể sống hoàn chỉnh. Do đó, phương pháp tạo sinh vô tính nhại theo quá
tŕnh này, nhưng không cần đến tinh trùng. Có thể tóm lược phương pháp
tạo sinh vô tính một cách ngắn gọn như sau: Bước 1, lấy một trứng của một
phụ nữ, rút bỏ các chất liệu di truyền (tức là DNA hay ADN). Bây giờ cái
trứng trở thành, nói như ngôn ngữ hàng ngày, một cái hăng sản xuất các
phôi. Bước 2, lấy chất liệu di truyền DNA từ một tế bào của một người
khác hay của chính người phụ nữ, rồi chuyển chất liệu này vào cái trứng.
Bước 3, chuyền điện vào trứng để trứng bắt đầu hoạt động, và một khi trứng
hoạt động thành công, chúng ta sẽ có một phôi. Bước 4, phôi sẽ đưa vào
một môi trường sinh học (chẳng hạn như cấy vào tử cung của người phụ nữ)
sao cho nó phát triển thành nhiều tế bào mầm hay thành một thai hoàn
chỉnh. Bước 5, nếu không muốn cho nó phát triển thành phôi thai, có thể
lấy tế bào mầm (và dùng nó cho các mục tiêu trị liệu), và nếu lấy tế bào
mầm th́ cái phôi sẽ bị tiêu hủy.
Công nghệ
sinh học và kĩ thuật thường đi trước luật pháp và đặt ra nhiều vấn đề đạo
đức. Việc phát triển công nghệ tạo sinh vô tính là một ví dụ. Vào cuối
tháng 12 năm 2002, một công ty sinh học ở Canada, Clonaid, có liên quan
mật thiết với một giáo phái ḱ dị có tên là Rael, tuyên bố rằng họ đă
thành công sáng tạo ra một bé gái, được đặt tên Eve, bằng kĩ thuật tạo
sinh vô tính. Từ khi tin này được loan truyền đi, dư luận thế giới bàn
tán một cách mê loạn, từ hoài nghi đến lên án. Chính phủ nhiều nước trên
thế giới, kể cả Pháp và Mĩ, kêu gọi tẩy chay, thậm chí cấm đoán hoàn toàn
kĩ thuật tạo sinh vô tính.
Phản ứng này
có thể hiểu được, v́ trước đây, một cuộc thăm ḍ ư kiến trong công chúng
cho thấy phần lớn (90%) dân Mĩ phản đối việc tạo sinh vô tính. Hai cuộc
thăm ḍ ư kiến khác [3,4] cũng cho thấy một kết quả tương tự. Nhưng kết
quả của thăm ḍ ư kiến thường bị ảnh hưởng bởi cách mà nhà nghiên cứu đặt
câu hỏi. Ngoài ra, công chúng thường không có kiến thức sâu về công nghệ
sinh học, nên ư kiến của họ có thể không phản ánh ư kiến “thực” của họ, và
do đó, có vẻ mang nặng cảm tính hơn là phân tích khoa học.
Cloning, hay
tạo sinh vô tính, là một cách nói chung cho ba h́nh thức kiến tạo di
truyền, mà tôi tạm gọi là tái sản sinh vô tính (reproductive cloning, hay
adult DNA cloning), tạo phôi vô tính (embryo cloning), và trị liệu bằng
tạo sinh vô tính (therapeutic cloning, hay biomedical cloning).
Tái sản sinh
vô tính, nói một cách nôm na, là phương pháp sao y bản chính một động vật
đang sống. Người ta chiết DNA từ một trứng và thay thế nó bằng DNA từ một
tế bào lấy từ một động vật đă trưởng thành. Sau đó, trứng thụ tinh, bây
giờ gọi là tiền phôi (pre-embryo), cấy vào tử cung và cho nó phát triển
thành một động vật hoàn chỉnh. Đây là phương pháp mà Tiến sĩ Ian Wilmut
thuộc Viện Roslin ở Scotland đă thành công tạo ra một con cừu nổi tiếng
“Dolly” vào năm 1997. Năm 1998, Tiến sĩ Ryuzo Yanagimachi thuộc Đại học
Hawaii cũng thành công tạo ra một số chuột bằng kĩ thuật tạo sinh vô
tính. Cùng năm, ở Nhật một số nhà khoa học tạo ra một số bê cũng bằng kĩ
thuật này.
Tuy nhiên,
những nghiên cứu trên chưa được ứng dụng trong con người, mà chỉ được thực
hiện trong các động vật cấp thấp. Đến cuối năm 1998, các nhà nghiên cứu
thuộc Đại học Kyeonghee (Nam Hàn) tuyên bố rằng họ đă thành công trong
việc tạo ra phôi con người bằng kĩ thuật tạo sinh vô tính. Hai nhà khoa
học, Kim Seung-bo và Lee Bo-yeon, lấy một trứng từ một phụ nữ 30 tuổi, họ
loại bỏ DNA trong trứng, và thay vào đó một tế bào của chính người phụ
nữ. Trong một báo cáo khoa học, họ cho biết họ có thể “nuôi” cho phôi đến
giai đoạn mà họ có thể cấy vào tử cung của người phụ nữ để sản sinh ra một
em bé. Tuy nhiên, mục tiêu của họ không phải tạo ra một con người, mà chỉ
tạo ra những bộ phận của cơ thể để chữa trị. Dù thế, nghiên cứu của họ đă
bị công chúng Nam Hàn phản đối dữ dội.
Cách đây vài
tháng, có tin đồn rằng Bác sĩ Severino Aninori (Ư) đă thành công làm thụ
thai, và sẽ cho ra đời một em bé vào khoảng tháng Một năm 2003. Nhưng,
như đă đề cập trên, cuối năm 2002, công ty Clonaid thuộc giáo phái Rael,
đă đi trước ông một bước và tuyên bố là họ đă thành công cho ra đời một em
bé bằng phương pháp tái sản sinh vô tính.
Trong thực tế
tái sản sinh vô tính rất phức tạp và c̣n nhiều vấn đề. Nói chung hiệu quả
của tái sản sinh vô tính hiện nay vẫn c̣n rất thấp. Tỉ lệ thành công chỉ
khoảng 0.1 đến 3%. Tức là trong 1000 lần thử nghiệm, chỉ có 30 trường hợp
thành công. Trong trường hợp con cừu Dolly, các nhà khoa học phải thử
nghiệm 277 lần để tế bào phân chia, và chỉ có 29 lần là họ thành công.
Ngay cả khi cấy vào cừu cái, chỉ có 13 trường hợp có thai, và cuối cùng
chỉ có một Dolly ra đời.
Ngay cả khi
thành công, một sinh vật được tạo bằng tạo sinh vô tính tuy có cùng DNA
với bản chính, nhưng hoạt động của gien có thể khác với người cho DNA.
Trong môi trường tự nhiên, DNA trong phôi được lập tŕnh sao cho một số
gien hoạt hóa. Khi phôi bắt đầu phân chia, chương tŕnh hoạt động thay
đổi. Mỗi tế bào, máu, da, xương, thần kinh, chương tŕnh này hoạt động
khác nhau. Trong tạo sinh vô tính, cái nhân được cấy vào trứng không có
cùng chương tŕnh hoạt động của cái phôi tự nhiên. Nhà khoa học phải huấn
luyện và lập chương cho cái nhân, giống như huấn luyện con chó những mưu
mẹo hàng ngày. Nếu lập chương hoàn hảo, th́ quá tŕnh phát triển sẽ b́nh
thường. Nếu lập chương sai hay không hoàn hảo, phôi sẽ phát triển bất
b́nh thường và có thể sẩy thai. Do đó, không ai ngạc nhiên khi thấy các
động vật được sản sinh bằng phương pháp tái sản sinh vô tính có nhiều dị
tật, hay bị ung thư, tiểu đường, và có tuổi thọ thấp.
Nói chung,
hiện nay, giới y sinh đức và nghiên cứu khoa học xem đây là một phương
pháp cực ḱ phi đạo đức. Ngoài ra, về mặt kĩ thuật mà nói, tế bào con
người có một chu kỳ sống nhất định. Con cừu Dolly được tạo ra từ tế bào
hơi già (khoảng 6 tuổi, tức là ở độ tuổi trung niên), thành ra, khi ra
đời, Dolly được xem là 6 tuổi, và Dolly chỉ có thể sống 6 năm mà thôi,
thay v́ 11 năm như thông thường. Nếu điều này cũng đúng trong con người
th́ con người được tạo sinh bằng phương pháp tái sản sinh vô tính cũng sẽ
có tuổi thọ ngắn.
Tái sản
sinh vô tính chỉ cần một trứng, mà không cần đến một phái nam. Nếu
phương pháp này có thể ứng dụng trong con người th́ người ta sẽ không cần
đến đàn ông trong tương lai, và khi đứa bé ra đời mối quan hệ t́nh cảm của
nó với người cho DNA và gia đ́nh sẽ không b́nh thường. Chẳng hạn như một
đứa bé sinh ra từ một tế bào của người cha th́ em bé này sẽ là em [nhỏ
tuổi] của người cha! Do đó, đạo lí xă hội và gia đ́nh sẽ bị hỗn loạn.
Đối với giới
tôn giáo (Ki-tô giáo), có người tin rằng con người được tạo bằng tái sản
sinh vô tính sẽ không có linh hồn. Họ tin rằng khi trứng gặp tinh trùng
và thụ tinh là lúc mà phần hồn cũng h́nh thành. Và khi không có tinh
trùng, thai nhi sẽ không có linh hồn. Có điều là không ai biết linh hồn
có tồn tại hay không, bởi v́ linh hồn không thể thấy, sờ, ngửi, hay nghe
được.
Một h́nh thức
tạo sinh vô tính thứ hai có tên là tạo phôi vô tính. Đây là một
phương pháp bắt chước theo cách tạo phôi tự nhiên trong quá tŕnh thụ thai
và sinh đôi trong con người. Một hay hai tế bào được chiết ra từ phôi đă
được thụ thai, rồi cấy vào tử cung của người phụ nữ để phôi này phát triển
thành một hay nhiều phôi khác có cùng chất liệu di truyền. Đây là một
phương pháp đă được dùng qua nhiều năm (từ thập niên 1970s) trên chuột và
các động vật cấp thấp khác.
Tạo phôi vô
tính có tiềm năng ứng dụng trong con người, nhưng cũng gây ra một số quan
tâm. Qua nghiên cứu cách thức tạo phôi vô tính, các nhà khoa học có thể
t́m hiểu sâu rộng hơn về nguyên nhân dẫn đến sẩy thai, mà cho đến nay vẫn
c̣n là một bí mật. Ngoài ra, nó có thể dẫn đến việc phát triển các phương
pháp trị liệu và pḥng ngừa nạo thai. Đối với cha mẹ có những gien nguy
hiểm và những gien này có thể lưu truyền trong con cái, tạo phôi vô tính
có thể pḥng ngừa được t́nh trạng này xảy ra. Người ta có thể thử nghiệm
nhiều phôi khác nhau cho đến khi một phôi toàn hảo và tránh t́nh trạng
bệnh tật cho con cái sau này.
Tạo phôi vô
tính thực chất là một h́nh thức làm cho người phụ nữ sinh đôi. Đối với
các phụ nữ thích có con sinh đôi (thay v́ sinh hai lần), tạo phôi vô tính
cũng có thể giúp họ trong việc tạo dựng sự nghiệp và kế hoạch hóa gia
đ́nh.
Một quan tâm
hàng đầu của phương pháp này là nếu nó lọt vào tay của những người (hay
nhóm người, hay chính quyền) có những tham vọng điên rồ như thời Đức quốc
xă. Đối với những nhóm người này, họ có thể dùng phương pháp tạo phôi
sinh vô tính để tạo ra những con người hoàn hảo như giấc mộng của Đức quốc
xă ngày xưa. Và một phương pháp tương tự cũng có thể dùng để tạo ra những
con người thấp kém hơn (nhưng có thể lực mạnh mẽ) để dùng vào các mục tiêu
phi nhân, phi chính khác, như nô lệ chẳng hạn.
Sau cùng là
phương pháp trị liệu bằng tạo sinh vô tính. Đây là một phương pháp
mà các giai đoạn đầu cũng giống như phương pháp tái sản sinh vô tính.
Nhưng tế bào mầm (stem cells) được chiết ra từ một phôi với mục tiêu sản
sinh ra những mô hay một cơ phận để ghép vào một bệnh nhân, chứ không để
h́nh thành một bào thai hay một con người.
Thay v́ dùng
trứng của con người, các nhà khoa học cũng có thể dùng trứng của lợn (cũng
có gien giống như con người). Tức là lấy trứng của một con lợn, rút DNA
ra, và thay vào đó là DNA của con người, và để cho nó phát triển thành cơ
phận của một con người.
Nói tóm lại,
mục tiêu của tạo sinh vô tính cho trị liệu là “trồng” một cơ phận của con
người để dùng cho mục đích ghép (transplant). Phương pháp này có một lợi
điểm lớn là thay v́ dùng cơ phận của người khác, các nhà khoa học chỉ việc
dùng cơ phận của chính bệnh nhân. Nguồn cung cấp coi như vô tận, và sẽ
không có vấn đề chờ đợi để được giải phẫu hay ghép. Người được ghép sẽ
chẳng phải dùng thuốc miễn nhiễm (immunosuppressant drugs) suốt đời như
hiện nay.
Vấn đề mấu
chốt trong việc tạo sinh vô tính cho trị liệu, hay nghiên cứu tế bào mầm,
là cứ mỗi tế bào được chiết ra từ túi phôi (gồm khoảng 100 tế bào) th́
phôi bị tiêu hủy. Đối với Ki-tô giáo, việc tiêu hủy phôi này là phi đạo
đức. Giáo hoàng John Paul II, từng tuyên bố rằng “Một xă hội tự do và
đạo đức, mà nước Mĩ thiết tha muốn có, phải từ bỏ những thói quen làm giảm
phẩm cách và xâm phạm sự sống của con người trong bất cứ giai đoạn nào từ
thụ thai cho đến khi qua đời” . Quan điểm này bắt nguồn từ niềm tin của
Ki-tô giáo rằng sự sống của con người khởi đầu từ lúc trứng và tinh trùng
liên hợp. Nói một cách khác, Ki-tô giáo công nhận quyền sống và địa vị
đạo đức của trứng lúc thụ tinh. Do đó, các tu sĩ Ki-tô giáo phản đối mạnh
mẽ việc nghiên cứu tế bào mầm phôi.
Nhiều thành
phần trong xă hội cũng phản đối việc hủy diệt một túi phôi để lấy tế bào
mầm. Họ cho rằng phôi phải được tôn trọng như một con người. Và ư kiến
phản đối này c̣n đến từ những vị khoa bảng có tiếng tăm. Giáo sư
Pellegrino, giám đốc trung tâm Y đức sinh học lâm sàng, Viện đại học
Georgetown (Mĩ), tuyên bố: “Tôi phản đối bất ḱ mọi nghiên cứu nào mà làm
huỷ hoại cấu trúc phôi người c̣n sống. Phôi người là thành viên của loài
người tính từ khi thụ tinh, và v́ vậy cần phải gắn liên với đạo đức đặc
biệt. Tôi chọn điểm mốc là 14 ngày, các nghiên cứu tiến hành trên phôi
người vào thời điểm trước đó th́ chấp nhận được”.
Tuy nhiên các
quan điểm trên đây, kể cả quan điểm của Ki-tô giáo, không giải thích tại
sao một trứng thụ tinh được xem là một con người có đạo đức, cũng như
không cho biết những tiêu chí nào mà Ki-tô giáo và những người phản đối
[chương tŕnh nghiên cứu tế bào mầm] dùng để định nghĩa một con người.
Thành ra, câu hỏi cần được đặt ra là: “sự sống con người bắt đầu từ lúc
nào?” Phát biểu một cách khác: khi nào th́ một sinh vật, một thực thể
được xem là một con người.
Phải nói ngay
rằng không có câu trả lời đơn giản cho câu hỏi này, bởi v́ có nhiều khía
cạnh để định nghĩa thế nào là một con người, và những khía cạnh này phát
sinh trong nhiều thời điểm khác nhau. Theo chúng tôi, một thực thể chỉ là
con người khi thực thể đó hội đủ những đặc tính di truyền, khả năng nhận
thức, nhân dạng sinh học, và ư thức đạo đức. Dựa vào những tiêu chí này,
thật khó mà cho rằng phôi là con người, và không có lí do ǵ để điều chỉnh
cái thời điểm phát sinh con người lùi lại thời điểm thụ tinh. Một hợp tử
có thể có đầy đủ các thông tin di truyền (cũng như một cọng tóc, một khối
nước bọt, một giọt máu đều có thông tin di truyền), nhưng hợp tử cũng có
thể tự tách rời thành hai hợp tử (sinh đôi), hay cũng có thể phát triển
thành một bào thai. Chỉ khi nào một hợp tử phát triển thành bào thai th́
những khía cạnh con người mới có ư nghĩa. Và ngay cả khi hợp tử có khả
năng phát triển thành bào thai, có nhiều yếu tố khác trong giai đoạn thai
nghén có thể ảnh hưởng đến sự h́nh thành và phát triển của bào thai. Thụ
tinh chỉ là một trong nhiều bước cần thiết để phát triển thành một cá
nhân, một con người. Thụ tinh không phải là mốc thời điểm để định nghĩa
một con người, và kết quả khởi đầu của thụ tinh không phải là một con
người.
Như tŕnh bày
trên đây, tạo sinh vô tính không phải là một lĩnh vực đặc thù, mà gồm ba
h́nh thức khác nhau từ kĩ thuật đến mục tiêu. Do đó, không thể nào phát
biểu một cách dứt khoát là tẩy chay hay không tẩy chay, cấm đoán hay cho
phép tất cả các h́nh thức tạo sinh vô tính, bởi v́ những phương pháp này
có nhiều ứng dụng khác nhau. Điều quan trọng cần phải nhận thức là tất cả
các phát triển dù là kĩ thuật hay công nghệ sinh học, đều có những ích
lợi, và không ít th́ nhiều, tiềm năng gây ra tác hại.
Ứng dụng công
nghệ tạo sinh vô tính không phải là một vấn đề lựa chọn cá nhân hay vấn đề
của y học, mà là một vấn đề của xă hội v́ nó ảnh hưởng đến quan hệ giữa
con người trong xă hội hiện tại và trong tương lai. Do đó, những tranh
luận về tạo sinh nhân tính không nên chỉ dựa vào góc độ kĩ thuật của công
nghệ tái sản sinh như hiện nay, mà cần phải chuyển điểm tranh luận từ kĩ
thuật, ích lợi, tác hại đến ảnh hưởng trong các thế hệ con người trong
tương lai. Tất cả chúng ta không muốn có một xă hội mà trong đó việc ứng
dụng công nghệ tạo sinh vô tính cho ra đời những con người như là những
món hàng có thể buôn bán, và gây thêm những bất công trong xă hội . Hiện
nay, chúng ta chưa đủ sáng suốt để đương đầu với t́nh trạng đói, nghèo, và
suy thoái môi trường, chúng ta khó mà có đủ sáng suốt để đối phó với quá
tŕnh tiến hóa của chính chúng ta. Do đó, chúng tôi cho rằng xă hội có lí
do để tẩy chay tái sản sinh vô tính (tức là reproductive cloning).
Nhưng tạo
phôi vô tính (embryo cloning) có tiềm năng giúp đỡ những cặp vợ chồng hiếm
muộn có con như họ mong ước, và do đó phương pháp này có thể chấp nhận
được nếu như các phương pháp khác (như IVF) không thành công.
Những nghiên cứu liên
quan đến trị liệu bằng tạo sinh vô tính (hay stem cells research) nên được
khuyến khích và yểm trợ, bởi v́ nó có triển vọng chữa trị những bệnh ngặt
nghèo mà y học hiện đang bó tay. Có người cho rằng trị liệu bằng phương
pháp tạo sinh vô tính là đóng vai tṛ của Thượng đế, một quyền mà con
người không nên có. Nhưng nếu việc làm đó là đồng nghĩa với vai tṛ
Thượng đế th́ các thuật giải phẫu, uống thuốc trụ sinh, ghép thận, v.v…
cũng là đóng vai tṛ Thượng đế! Trong thực tế, nghiên cứu dùng tế bào mầm
để chữa trị bệnh tật là sự mở rộng lựa chọn của con người, là mưu cầu tri
thức nhằm vào mục tiêu cuối cùng là diệt khổ.
Xă hội có
được những khám phá khoa học quan trọng, kể cả những phát triển trong y
học, xuất phát từ ḷng khao khát tri thức mới của con người, và sự sẵn
sàng ứng dụng những tri thức này vào thực tế, dù lợi hại không thể đoán
trước được. Một số phương pháp tạo sinh vô tính thể hiện sự mạo hiểm mới
của con người trong hành tŕnh chinh phục bệnh tật và đem lại hạnh phúc
cho con người. Trong quá khứ chúng ta đă can đảm chấp nhận những công
nghệ mới, và trong nhiều trường hợp những mạo hiểm này đem lại nhiều lợi
ích hơn là thiệt hại cho con người. Ngày nay, chúng ta vẫn cần can đảm và
lí trí để tiếp nhận công nghệ tạo sinh vô tính. Nói theo nhà triết học
người Mĩ, George Santayana, phớt lờ quá khứ có thể làm cho chúng ta phạm
thêm lỗi lầm, nhưng hiểu quá khứ có thể giải thoát chúng ta khỏi những u
tối.
Chú thích:
[1] Chữ “clone” xuất
phát từ tiếng Hi Lạp, klon, có nghĩa là “sprout” (mầm) hay “twig” (nhánh
con). Cloning là một phương pháp tái sản xuất, sao chép một sinh vật mà
không phải qua các quá tŕnh tái sản xuất b́nh thường như thụ tinh giữa
trứng và tinh trùng.
[2] Whatever next? The
Economist 1997 March 1;79-81.
[3] Time/CNN poll. 1997
March.
[4]
International Food Information Council. Wirthlin group quorum survey, 1997
March 21-24.
|