|
Hóa chất khai hoang
trong cuộc chiến Viện Nam: Qui mô và tầm ảnh hưởng
Nguyễn Văn
Tuấn
Có thể nói
chưa có một vấn đề nào có khả năng làm chia rẽ ư thức hệ của xă hội Mĩ như
cuộc chiến ở Việt Nam. Và, cũng chưa có một vấn nạn y tế công cộng nào
làm cho thế giới thức tỉnh và ư thức được hậu quả của chiến tranh bằng ảnh
hưởng của dioxin, hay của chất màu da cam. Bốn mươi năm về trước, trong
lúc cuộc chiến c̣n trong ṿng tranh căi quyết liệt ở Mĩ, Bertrand Russell,
một nhà toán học danh tiếng trên thế giới, tố cáo thẳng thắn rằng quân đội
Mĩ đang tiến hành một cuộc chiến tranh hóa học ở Việt Nam, qua việc sử
dụng hóa chất có khả năng gây ra ung thư trong con người. Lúc đó, báo chí
và hệ thống truyền thông Mĩ lăng mạ nhà toán học bằng những ngôn ngữ hạ
cấp, nhưng sau này, Đô đốc Zumwalt (người ra lệnh dùng hóa chất khai hoang
trong cuộc chiến Việt Nam) tin rằng cái chết v́ ung thư của con trai ông
có thể là do ảnh hưởng của hóa chất mà quân đội Mĩ đă sử dụng ở Việt Nam.
Thực vậy, một
trong những “di sản” lớn nhất của cuộc chiến Việt – Mĩ là ảnh hưởng của
hóa chất mà quân đội Mĩ đă từng dùng trong thời chiến hơn 30 năm về
trước. Cho đến nay, mặc dù khoa học đă biết được một số tác hại của những
hóa chất này, đặc biệt là dioxin, đến hàng loạt bệnh tật trong con người,
nhưng vẫn có nhiều vấn đề, câu hỏi hoặc đang c̣n trong ṿng nghiên cứu
thêm, hoặc chưa có câu trả lời thỏa đáng. Một trong những câu hỏi cơ bản
và quan trọng thường được đặt ra là trong thời chiến tranh, quân đội Mĩ đă
dùng bao nhiêu hóa chất ở Việt Nam, và bao nhiêu người Việt đă phải chịu
ảnh hưởng của hóa chất. Những câu hỏi này tuy đơn giản, nhưng câu trả lời
không dễ chút nào, v́ thiếu thốn hồ sơ, và nhất là sự miễn cưỡng của giới
quân sự Mĩ trong việc cung cấp thông tin.
Trong hơn 20 năm qua, các
nhà nghiên cứu thường dựa vào con số do các cơ quan trực thuộc Pentagon
công bố: khoảng 72 triệu lít hóa chất, và 167 kg dioxin đă được rải xuống
Việt Nam [1]. Nhưng theo một nghiên cứu mới nhất vừa được công bố trên
Tập san Nature (một tập san khoa học số 1 trên thế giới) [2], những
con số này thấp hơn nhiều so với thực tế. Như vậy, Mĩ đă dùng bao nhiêu
hóa chất ở Việt Nam, ở đâu, vào thời gian nào, và có bao nhiêu người bị
ảnh hưởng? Phát hiện mới nhất này có ư nghĩa ǵ? Bài viết này muốn trả
lời những câu hỏi đó và bàn đến một vài ngụ ư và ư nghĩa đằng sau kết quả
nghiên cứu quan trọng này.
Ngược ḍng lịch sử
Vào cuối thập
niên 1950s, qua sự thành công của Anh trong việc sử dụng hóa chất
2,4,5-trichlorophenoxyacetic (2,4,5-T) để tiêu hủy mùa màng ở Malaya, Bộ
quốc pḥng Mĩ ủy nhiệm cho cơ quan ARPD (Advanced Research Project Agency)
nghiên cứu và phát triển các hóa chất diệt cỏ để dùng cho các mục đích
quân sự. Một cuộc thử nghiệm tương đối qui mô đầu tiên dùng hóa chất màu
tím (Agent Purple) được tiến hành ở Trại Drum (bang New York) vào năm
1959, và mô h́nh này được ứng dụng trong chiến tranh Việt Nam sau đó vài
năm.
Sau phê chuẩn của Tổng
thống John F. Kennedy, với sự tán thành nồng nhiệt của Ngô Đ́nh Diệm, các
hóa chất bắt đầu được vận chuyển đến Việt Nam vào thời gian từ tháng 8 đến
tháng 12 năm 1961. Các hóa chất này được chứa trong các thùng phuy, với
mă màu khác nhau: chất màu hồng (Agent Pink), chất màu xanh lá cây (Agent
Green), màu tím (Agent Purple), màu da cam (Agent Orange), màu trắng
(Agent White), và màu xanh da trời (Agent Blue). Mỗi thùng phuy chứa
khoảng 250 lít (tức 55 gallons). Mỗi loại hóa chất màu có thành phần hóa
học khác nhau, nhưng nói chung phần lớn chúng đều có thành phần 2,4,5-T,
tức có chứa dioxin. Dioxin là một độc chất có khả năng gây ra ung thư và
hàng loạt bệnh tật khác trên con người. V́ thế, nói đến chất màu da cam,
người ta thường hay đồng hóa với dioxin.
Chiến dịch xịt hóa chất
xuống Việt Nam có tên là "Operation Trail Dust". Trong chiến dịch này có
nhiều chiến dịch và chương tŕnh nhỏ. Chiến dịch Ranch Hand (nằm trong
chiến dịch Trail Dust) thực hiện khoảng 95% việc xịt hóa chất. Khi đến
Việt Nam, trên danh nghĩa, các hóa chất này thuộc quyền sở hữu của chính
phủ miền Nam Việt Nam lúc bấy giờ. Điều này có nghĩa là quân đội Nam Việt
Nam trực tiếp quản lí và sử dụng các hóa chất này. Trong chương tŕnh có
tên là “Farmgate” (do Bộ quốc pḥng Mĩ điều khiển), máy bay mang nhăn hiệu
Việt Nam, do phi công mặc đồ dân sự lái và với sự trợ giúp của một nhân
viên người Việt, đă tiến hành những phi vụ tiêu hủy mùa vụ ở miền Nam và
Trung Việt Nam.
Trong chiến
dịch Ranch Hand, có nhiều dự án với những mục tiêu cụ thể, chẳng hạn như
xịt ở đâu, bao nhiêu, loại hóa chất nào, và do ai tiến hành. Mỗi dự án
đều có sự chấp thuận của hai bên, Mĩ và Nam Việt Nam. Sau khi thi hành
nhiệm vụ, phi công và nhân viên hành chính ghi chép số lượng hóa chất đă
xịt, số lượng c̣n tồn đọng. Dựa vào những nhật kí phi hành này, các nhà
nghiên cứu có thể ước tính số lượng hóa chất đă xịt xuống Việt Nam, và bao
nhiêu người cũng như số lượng làng xă bị ảnh hưởng.
Sau khi chiến
tranh Việt Nam kết thúc, hai nhóm làm công việc ước tính này là Không quân
Mĩ, và Viện Y khoa (Institute of Medicine; viện này trực thuộc Viện Hàn
lâm khoa học Mĩ (National Academy of Sciences). Nhưng kết quả ước tính
của hai nhóm này rất khác nhau. Nói chung, ước tính về số lượng cũng như
nồng độ hóa chất của Không quân Mĩ thường thấp hơn ước tính của Viện Y
khoa. Trong quá tŕnh nghiên cứu về ảnh hưởng của dioxin, các nhà dịch tễ
học thuộc Đại học Columbia (New York) t́nh cờ phát hiện ra một số tài liệu
và hồ sơ trong chiến dịch Ranch Hand chưa bao giờ được đề cập hay sử dụng
trong các ước tính trước đây. Do đó, họ quyết định tiến hành một nghiên
cứu mới. Trong chương tŕnh nghiên cứu này, với sự tài trợ của Viện Y
khoa (ngân sách lên đến 5 triệu Mĩ kim), các nhà dịch tễ học thuộc Đại học
Columbia c̣n phát triển một hệ thống trắc địa điện tử [3] để xác định
những địa điểm (chính xác đến cấp thôn ấp) và dân số đă từng bị ảnh hưởng
hóa chất trong thời chiến.
Qui mô sử dụng hóa chất
trong cuộc chiến Việt Nam
Công tŕnh
nghiên cứu của họ kéo dài 3 năm. Tuy kết quả nghiên cứu, nhất là các bản
đồ, vẫn c̣n đang được hệ thống hóa và sẽ công bố trên hệ thống internet,
nhưng các kết quả chính đă được chính thức công bố trên Tập san Nature
dưới dạng một bài báo khoa học [2]. Những phát hiện chính trong bài
báo này có thể tóm lược như sau:
Tổng số
hóa chất sử dụng mà quân đội Mĩ đă xịt xuống Việt Nam trong thời gian
1962 - 1971 là 76.9 triệu lít. Con số này cao hơn ước đoán trước đây
khoảng 9.4 triệu lít. Trước đây, người ta tưởng rằng chỉ có chất màu da
cam được sử dụng trong cuộc chiến, nhưng trong thực tế, hóa chất này chiếm
64% (hay 49,3 triệu lít), phần c̣n lại là các hóa chất khác. Trong số
76,9 triệu lít, 20.6 triệu lít (27%) là chất màu trắng, 4,7 triệu lít
(6.2%) là hóa chất màu xanh, và phần c̣n lại là hóa chất màu xanh lá cây
(2.5%). Ngoài ra, c̣n có một số hóa chất màu tím (0.6%) cũng được sử dụng
(xem bảng thống kê số 1).
Bảng 1.
Số lượng hóa chất quân đội Mĩ dùng trong chiến tranh Việt Nam 1962-1971.
|
Hóa chất
|
Số lượng (lít) |
Phần trăm |
|
Agent Pink - màu tím |
495.190 |
0.6% |
|
Agent Green - màu
xanh lá cây |
1.892.773 |
2.5% |
|
Agent Orange - màu da
cam |
49.268.937 |
64.0% |
|
Agent White - màu
trắng |
20.556.525 |
26.7% |
|
Agent Blue - màu xanh |
4.741.381 |
6.2% |
|
Tổng số |
76.954.806 |
100.% |
Nguồn gốc:
Số liệu trong bảng thống
kê này được trích và tổng hợp từ bảng số 1 (trang 682) trong bài báo trên
Tập san Nature [2].
Cần phải nhấn
mạnh rằng, đây chỉ là một ước tính tối thiểu. Như tác giả viết trong bài
báo, qua xem xét hóa đơn thu nhập, một số hóa chất được quân đội Mĩ mua từ
các công ti hóa học và chuyển đến Việt Nam, nhưng không có hồ sơ chỉ rơ
những hóa chất này được xịt ở đâu và bao nhiêu. Chẳng hạn như hồ sơ thu
nhập quân sự cho thấy quân đội mua 464.164 lít hóa chất màu tím và 31.026
lít hóa chất màu xanh (hai hóa chất có chứa lượng dioxin cao hơn chất màu
da cam), nhưng chỉ trên dưới 65.000 lít được báo cáo là đă xịt.
Một phần lớn
(gần 90%) hóa chất khai hoang được xịt trong thời gian 1966 đến 1969 (xem
bảng thống kê số 2). Điều đáng chú ư là các hóa chất có hàm lượng dioxin
cao (như hóa chất màu tím chẳng hạn) được xịt trong những năm đầu của
chiến dịch. Những hóa chất có chức năng hủy diệt lúa và mùa vụ (như hóa
chất màu xanh, Agent Blue) được sử dụng liên tiếp từ 1966 đến 1971, đặc
biệt là năm 1970 trong tổng hóa chất xịt, có đến 20% là hóa chất màu xanh.
Bảng 2.
Số lượng hóa chất xịt trong thời gian 1962-1971.
|
Năm |
Màu tím |
Màu hồng |
Màu da cam |
Màu trắng |
Màu xanh |
Các màu khác |
Tổng số |
|
1962
|
142.085 |
|
|
|
10.031 |
|
152.117 |
|
1963 |
340.433 |
|
|
|
|
|
340.433 |
|
1964 |
831.162 |
|
|
|
15.619 |
|
846.781 |
|
1965 |
579.092 |
50.312 |
1.868.194 |
|
|
18.927 |
2.516.525 |
|
1966 |
|
|
7.602.390 |
2.179.450 |
59.809 |
124.474 |
9.968.124 |
|
1967 |
|
|
12.528.833 |
5.141.117 |
1.518.029 |
86.288 |
19.274.267 |
|
1968 |
|
|
8.747.064 |
8.353.143 |
1.289.144 |
249.750 |
18.639.101 |
|
1969 |
|
|
12.679.579 |
3.897.100 |
1.035.385 |
274.291 |
17.976.356 |
|
1970 |
|
|
2.251.876 |
845.464 |
762.665 |
96.509 |
3.956.514 |
|
1971 |
|
|
|
50.251 |
50.698 |
9.085 |
110.034 |
|
Tổng cộng |
1.892.773 |
50.312 |
45.677.937 |
20.556.525 |
4.741.381 |
861.325 |
73.780.253 |
Chú ư:
Số liệu này không có trong bài báo trên Tập san Nature, mà tác giả cung
cấp riêng cho tôi. Tổng số lượng hóa chất trong bảng thống kê này chênh
lệch với bảng thống kê số 1 (bảng chính) v́, theo giải thích của tác giả
(qua liên lạc thư từ cá nhân), một số hóa chất màu trắng được sử dụng
nhưng tác giả không xác định được năm nào. Bảng thống kê này, do đó, chỉ
cho biết một cách tương đối (chứ không tuyệt đối) lượng hóa chất dùng từng
năm.
Lượng
dioxin cao gấp 4 lần so với ước tính trước đây. Dioxin là một hóa
chất được Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mĩ (Environmental Protection Agency)
xếp vào loại hóa chất độc hại số một trong các hóa chất do con người sáng
chế ra. Dioxin cũng là một thành phần hóa học trong các hóa chất khai
hoang được sử dụng trong chiến dịch Ranch Hand.
Không ai biết
chính xác tổng số lượng dioxin được sử dụng (hay nói đúng hơn là xịt
xuống) Việt Nam, bởi v́ mỗi hóa chất (như chất màu da cam, màu tím, màu
xanh, v.v...) có độ tích tụ dioxin khác nhau. Trước đây, giới không quân
Mĩ ước tính rằng lượng dioxin dùng trong toàn bộ chiến dịch Ranch Hand là
khoảng trên dưới 100 kg, và Viện Y khoa ước tính là khoảng 167 kg. Nhưng
dựa vào hồ sơ mới phát hiện, các nhà nghiên cứu đại học Columbia ước tính
số lượng dioxin được sử dụng trong toàn bộ chiến dịch Ranch Hand là 366
kg. Các nhà nghiên cứu cho tôi biết thêm (qua liên lạc cá nhân) rằng đây
chỉ là con số tối thiểu, v́ trong thực tế, nó có thể nhiều hơn thế nữa.
Lí do cho
những khác biệt này là vấn đề xác định độ tích tụ (concentration) của
dioxin trong các loại hóa chất. Trước đây, dựa vào các mẫu (samples) từ
hải quân Mĩ, các nhà nghiên cứu thuộc không quân Mĩ ước tính độ tích tụ
dioxin trung b́nh là 1,77 phần triệu (hay 1,77 particles per million, viết
tắt: 1,77 ppm), nhưng các nhà khoa học thuộc Viện y khoa Mĩ th́ ước tính
là khoảng 13,25 ppm. Tuy nhiên, cả hai ước tính này đều thấp hơn so với
thực tế. Số liệu thử nghiệm mới nhất cho thấy mức độ tích tụ trong hóa
chất màu tím là 45 ppm, trong hóa chất màu da cam là 13 ppm. Do đó, cộng
với số lượng hóa chất mới được phát hiện, tổng số lượng dioxin cao hơn
trước rất nhiều.
Trước đây,
người ta tin rằng trong những năm đầu của chiến dịch Ranch Hand, số lượng
và liều lượng thuốc khai hoang chẳng đáng kể. Nhưng nghiên cứu của các
nhà dịch tễ học đại học Columbia cho thấy đó là một quan điểm sai lầm.
Chỉ tính từ 1962 đến 1965, có đến 1,9 triệu lít hóa chất màu tím được xịt
(nhưng trong báo cáo chính thức, quân đội Mĩ chỉ ghi là 548.100 lít!) Đây
là một phát hiện quan trọng, bởi v́ hóa chất này có hàm lượng dioxin cao,
và trong thời gian đầu, họ thường xịt xuống những thôn ấp nhỏ có đông dân
cư; do đó, mức độ ảnh hưởng lớn hơn nhiều so với những ǵ mà người ta từng
nghĩ trước đây.
Tổng số
diện tích ảnh hưởng hóa chất khai hoang cao hơn 1,1 triệu ha. Trước
đây theo ước tính của các nhà nghiên cứu thuộc Viện y khoa, tổng số diện
tích không quân Mĩ và Nam Việt Nam xịt là 1,5 triệu ha. Nhưng qua sử dụng
hệ thống kiểm tra dân số thôn ấp (Hamlet Evaluation System) do quân đội Mĩ
phát triển trong thời chiến, các nhà nghiên cứu đại học Columbia cho thấy
tổng diện tích bị ảnh hưởng hóa chất khai hoang là 2.631.297 ha. Trong số
này, có đến 86% bị xịt hai lần trở lên. Khoảng 11% bị xịt hơn 10 lần.
Trong số diện tích ảnh hưởng, có đến 1.679.734 bị ảnh hưởng dioxin, và
trong số bị ảnh hưởng dioxin, có đến 80% bị rải hai lần trở lên (xem chi
tiết trong bảng thống kê số 3).
Bảng 3.
Diện tích bị ảnh hưởng hóa chất khai hoang trong thời gian 1962-1971.
|
Số lần xịt
|
Diện tích (ha) bị
ảnh hưởng hóa chất |
Diện tích bị ảnh
hưởng dioxin |
|
1 lần |
368.556 |
343.426 |
|
2 lần |
369.844 |
332.249 |
|
3 lần |
361.862 |
275.770 |
|
4 lần |
341.037 |
236.232 |
|
5 lần |
272.709 |
153.192 |
|
6 lần |
216.724 |
119.127 |
|
7 lần |
153.391 |
75.062 |
|
8 lần |
138.610 |
51.371 |
|
9 lần |
115.103 |
32.988 |
|
10 lần trở lên |
293.461 |
60.316 |
|
Tổng cộng |
2.631.297 |
1.679.734 |
Nguồn gốc:
Số liệu trong bảng thống
kê này được trích từ bảng số 2 (trang 685) trong bài báo trên Tập san
Nature [2].
Đối tượng
bị ảnh hưởng có thể lên đến 4.8 triệu người. V́ hệ thống kiểm tra dân
số thôn ấp có những thông tin về dân số cho từng thôn ấp, nên các nhà
nghiên cứu có thể ước tính số lượng dân số bị ảnh hưởng hóa chất khai
hoang. Trong toàn bộ chiến dịch Ranch Hanh, có 25.585 thôn ấp được chọn
để xịt hóa chất. Trong số này, có 3181 thôn ấp bị xịt trực tiếp. Tổng số
dân bị ảnh hưởng được ước tính tối thiểu là 2,1 triệu người. Nhưng v́ có
đến 1430 thôn ấp không có số liệu dân số rơ ràng, nên con số trên có thể
cao hơn nhiều. Theo các nhà nghiên cứu, con số nạn nhân có thể lên đến
4,8 triệu người.
Trong thời
gian 1962 - 1971, phi công Mĩ đă thực hiện 19.905 phi vụ, chứ không phải
10.000 ngàn như báo cáo của Pentagon trước đây, để xịt hóa chất xuống Việt
Nam. Tính trung b́nh, mỗi ngày có đến 11 phi vụ. Trong suốt 10 năm thi
hành chiến dịch, có 5 máy bay bị rớt.
Một vài nhận xét
Hủy diệt môi
sinh luôn luôn là một thủ đoạn rất cổ xưa và rất thông thường trong chiến
tranh. Khi kĩ thuật và công nghệ trở nên tinh vi, sự hủy diệt môi trường
càng trở nên khốc liệt. Cuộc chiến Việt Nam đă được giới quân sự Mĩ biến
thành một băi thí nghiệm khổng lồ cho hóa chất độc hại. Điều đáng nói ở
đây là có dấu hiệu cho thấy họ biết những hóa chất này có khả năng gây ra
tác hại cho sức khỏe của người dân. Trong một lá thư gửi cho Thượng nghị
sĩ Tom Daschle, đề ngày 9 tháng 9 năm 1998, Tiến sĩ James R. Clary, thuộc
cơ quan nghiên cứu vũ khí hóa học (Chemical Weapons Branch) trực thuộc
Airforce Armament Development Laboratory (Florida), viết như sau [tạm
dịch]: “Lúc chúng tôi (các nhà khoa học quân đội) khởi xướng chương
tŕnh khai hoang vào thập niên 1960, chúng tôi biết tiềm năng độc hại của
chất dioxin chứa trong thuốc diệt cỏ. Chúng tôi c̣n biết rằng công thức
mà giới quân sự dùng có nồng độ cao hơn nồng độ mà giới dân sự dùng, v́
chi phí rẻ và thời gian sản xuất ngắn. Tuy nhiên, v́ hóa chất sẽ được
dùng trên kẻ thù, không ai trong chúng tôi quan tâm thái quá. Chúng tôi
không bao giờ nghĩ là quân đội chúng ta lại bị nhiễm độc chất. Và, nếu
chúng tôi nghĩ đến t́nh huống này, chúng tôi mong muốn chính phủ chúng ta
giúp đỡ các cựu chiến binh bị nhiễm độc chất.” (“When we (military
scientists) initiated the herbicide program in the 1960s, we were aware of
the potential for damage due to dioxin contamination in the herbicide. We
were even aware that the military formulation had a higher dioxin
concentration than the civilian version due to the lower cost and speed of
manufacture. However, because the material was to be used on the enemy,
none of us were overly concerned. We never considered a scenario in which
our own personnel would become contaminated with the herbicide. And, if
we had, we would have expected our own government to give assistance to
veterans so contaminated.”)
Một điều trớ
trêu, hay nói đúng hơn là "đồi trụy công lí", trong vấn đề dioxin, là
trong khi cựu quân nhân Mĩ, những người từng xịt độc chất xuống Việt Nam,
ngày nay tự phát hiện họ bị hóa chất gây ra bệnh tật cho chính họ, và kêu
gọi sự cảm thông của quần chúng. Báo chí Mĩ thường đề cập đến ảnh hưởng
của dioxin trong cựu quân nhân Mĩ, nhưng họ rất ít khi nào đế cập đến
những nạn nhân người Việt đang ở Việt Nam. Nói như tác giả Fred
Woodworth, "Đây là một xu hướng lạ lùng, giống như bọn Nazis từng làm cho
người Do Thái chết ngạt v́ gas, rồi nay thú nhận rằng độc chất đó làm cho
họ mắc bệnh. Nó cũng giống như câu chuyện trớ trêu trong tiểu thuyết của
Kafka, không làm cho ai cười nổi."
Những tưởng
30 năm sau khi cuộc chiến kết thúc, chúng ta sẽ biết nhiều hơn về qui mô
và tác hại của hóa chất màu da cam, nhưng trong thực tế chúng ta biết
không nhiều. Ngay cả những câu hỏi cơ bản như bao nhiêu lít hóa chất đă
được rải xuống Việt Nam, tưởng đă được trả lời từ lâu qua báo cáo của quân
đội Mĩ, nhưng qua nghiên cứu cực ḱ công phu này, chúng ta thấy câu trả
lời của quân đội Mĩ thiếu chính xác, và có khuynh hướng thấp hơn, nhẹ hơn,
làm giảm mức độ và qui mô của chiến dịch Ranch Hand. Ngay cả con số mà
nghiên cứu mới nhất báo cáo vẫn chưa là con số chính xác tuyệt đối. Con
số dioxin, dù cao gấp 4 lần so với ước tính trước kia, vẫn chưa phải là
con số thực, và khả năng c̣n cao hơn nhiều. Kết quả của công tŕnh nghiên
cứu này, do đó, làm cho chúng ta phải xem xét lại những hiểu biết về qui
mô của cuộc chiến mà Bertrand Russell cho là một cuộc chiến tranh hóa học,
và thẩm định lại những kết quả tích cực cũng nhiêu tiêu cực của những
nghiên cứu trước đây.
Một trong
những ứng dụng của kết quả nghiên cứu của nhóm Columbia là việc xác định
đối tượng trong các nghiên cứu tương lai ở Việt Nam. Để xác định một mối
liên hệ giữa một yếu tố và một chứng bệnh, điều quan trọng hàng đầu là xác
định đối tượng nghiên cứu, tức là những ai mà thông tin y khoa có khẳ năng
thiết thực cho đề tài và mục tiêu của công tŕnh nghiên cứu. Chẳng hạn
như nếu muốn xác định mối liên hệ giữa dioxin hay chất màu da cam và dị
tật bẩm sinh, cuộc nghiên cứu phải bao gồm những người từng sống và thực
sự bị ảnh hưởng hóa chất trong thời chiến tranh.
Trong quá khứ, có khá
nhiều nghiên cứu trên các cựu quân nhân Mĩ kết luận rằng dioxin không có
ảnh hưởng đến bệnh tiểu đường, ung thư tuyến tiền liệt, hay dị tật bẩm
sinh. Có thể một trong những lí do mà những nghiên cứu này cho ra kết quả
"tiêu cực" là các nhà nghiên cứu đă chọn các đối tượng không thích hợp, và
đó là một điều mà giới cựu chiến binh Mĩ thường hay phàn nàn. Thực ra,
ngay cả Cơ quan pḥng chống và kiểm soát bệnh tật Mĩ (Centers of Disease
Control and Prevention) cũng từng than rằng họ không biết chọn ai làm đối
tượng để nghiên cứu. Do đó, kết quả nghiên cứu của nhóm Columbia đă giải
quyết tháo gỡ một khó khăn cho những nhà nghiên cứu chất màu da cam trong
tương lai. Kết quả này c̣n đóng góp một phần tích cực và quan trọng cho
các công tŕnh nghiên cứu ở Việt Nam, v́ qua bản đồ sẽ công bố nay mai,
các nhà khoa học ở Việt Nam có thể xác định chính xác ai và địa điểm nào
cần được nghiên cứu.
Đă từ lâu,
giới khoa học nước ngoài hay nghi ngờ các kết quả nghiên cứu của các nhà
khoa học Việt Nam. Họ cho rằng các nhà khoa học Việt Nam có khuynh hướng
ước tính mức độ ảnh hưởng của hóa chất khai hoang quá cao. Nhưng những
nghi ngờ đó, qua ánh sáng của kết quả nghiên cứu của Đại học Columbia, là
rơ ràng thiếu cơ sở. Ở Ư, chỉ 30 kg dioxin bị thải ra môi trường mà đă
gây rất nhiều tác hại cho sức khỏe cư dân trong vùng, kể cả ả |