|
Về một chuyện xưa
rất mới
Giới
Tử
Dù đă cố xả,
thế mà chuyện đụng độ giữa quư Thầy Huyền Quang, Quảng Độ với chính quyền
hồi tháng trước vẫn khiến Hoàng tôi bất an phiền muộn. Chuyện phải đến
thôi, và có thể c̣n trầm trọng hơn nữa. Nhà tu cũng là người, khi nhà tu
không c̣n ǵ bận bịu th́ họ có thể làm bất cứ ǵ mà người đời thường ngại
ngần run sợ gọi là hy sinh. Nguyện cầu điều ấy đừng xảy ra, bởi chẳng có
lợi ǵ cho những người c̣n sống.
1.
Bảy năm trước, năm
1992, giữa cơn phong ba nghiệt ngă của Phật sự tại quê nhà, Hoàng tôi đă
có một bài ngắn với tựa đề Dưới Chân Tường Nhẫn Nhục, nội dung như
sau:
Quan
hệ giữa chính quyền và Phật giáo tại quê nhà, một lần nữa lại rơi vào khúc
quẹo ngặt qua vụ quư Ḥa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ yêu cầu chính
quyền chấm dứt lệnh lưu đày và để cho hai ngài trở lại Sài G̣n.
Trước năm 1975,
Ḥa Thượng Quảng Độ là Phó Viện Trưởng và Ḥa Thượng Huyền Quang là Tổng
Thư Kư Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Sau năm 1975,
đại hội Giáo Hội kỳ 7 suy cử Ḥa Thượng Huyền Quang vào chức vụ Quyền Viện
Trưởng và Hoà Thượng Quảng Độ Tổng Thư Kư Viện Hóa Đạo.
Chính quyền không
thừa nhận đại hội nầy và phóng tay đàn áp.
Nạn nhân đầu tiên
là Ḥa Thượng Thiện Minh. Ḥa Thượng bị bắt v́ tội “cư trú bất hợp pháp”
tại chùa Già Lam của Ḥa Thượng Trí Thủ sau khi chính quyền chiếm đoạt trụ
sở Tổng Vụ Thanh Niên Phật Tử 294 Công Lư Sài G̣n và tống xuất Ḥa Thượng
khỏi nơi nầy. Ḥa Thượng đă giải nghiệp trong tù. Ḥa Thượng Huyền Quang
bị bắt giam hai năm cộng thêm hai năm án treo và sau đó bị đày về Quảng
Ngăi. Quảng Ngăi không phải là nguyên quán, cũng không phải là nơi Ḥa
Thượng xuất gia. B́nh Định mới là sinh quán và nơi Ḥa Thượng xuất gia tu
học. Ḥa Thượng Quảng Độ di cư vào Nam năm 1954, thường trú tại Thanh Minh
Thiền Viện Phú Nhuận. Năm 1979, Ḥa Thượng được đoàn tụ với thân mẫu ở Bắc
vào. Năm 1982, hai mẹ con bị trục xuất khỏi Sài G̣n và lưu đày về một nơi
đồng không mông quạnh ở Thái B́nh. Tuổi già phải sống trong cảnh cơ cực
thiếu thốn, bà cụ mơi ṃn từ trần ba năm sau đó. Ḥa Thượng được tạm thích
và bị chỉ định cư trú tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Tháng 3.1992, Ḥa Thượng
động trở lại chùa cũ chờ chính quyền bắt xét. Từ Quảng Ngăi, tháng 5.1992
Ḥa Thượng Huyền Quang tuyệt thực đ̣i về Huế dự tang lễ Ḥa Thượng Đôn
Hậu. Tang lễ xong trở về Quảng Ngăi, Ḥa Thượng yêu cầu chính quyền thả
Ḥa Thượng về Sài G̣n và phục hồi pháp lư chính thống cho GHPGVNTN.
Năm 1975, sau khi
thống nhất đất nước, chủ thuyết Mác-Lê-Mao được áp dụng vào mọi lề lối cai
trị. Tôn giáo không thoát khỏi tham vọng ư thức hệ nầy. Theo Marx, tôn
giáo là thuốc phiện của nhân dân, là thế lực phản động hoặc đồng lơa phản
động, là lực lượng phi sản xuất, ăn bám xă hội. Phật giáo là một.
Phải mất gần mười
năm, Nhà Nước mới thấy được những sai lầm kinh tế chính trị xă hội và t́m
cách sửa sai bằng đổi mới, nghĩa là cố gắng quay trở lại với chủ trương
cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được đề ra từ 70 năm trước và chưa hề
được thực nghiệm. Thế nhưng chính sách tôn giáo th́ vẫn giữ nguyên mặc dù
Marx chẳng có một ư niệm ǵ về tôn giáo Đông phương, khoan nói đến Phật
giáo. Tôn giáo với Marx chỉ là Thiên Chúa giáo, nhất là Ki-tô giáo La Mă.
Ki-tô giáo La Mă hay c̣n gọi là Công giáo là một trong những đối tượng
chính mà Cách Mạng 1789 ở Pháp nhằm triệt hạ. Nếu Phật giáo cũng từng là
phản động hay đồng lơa phản động với thực dân xâm lăng th́ giờ đây Phật
giáo phải tự hóa thân thành một tập thể nhắm mắt thỏa hiệp với chính quyền
ít nữa là bề mặt, hoặc phải tỏ ra hồ hởi ít nữa là ngoài mặt tuân theo mọi
chủ trương chính sách của Nhà Nước theo đúng chiến thuật mềm nắn rắng
buông hay lùi một để tiến ba. Đă hẳn. Nhưng Phật giáo không phải là một
tôn giáo phản động mà cũng không đồng lơa phản động. Trên nguyên tắc, Nhà
Nước tuyên bố rất công b́nh ṣng phẳng về tôn giáo, nghĩa là công nhận tự
do tín ngưỡng và tự do vô tín ngưỡng. Thực tế, có một điều nữa được Nhà
Nước thừa nhận khuyến khích nhưng lại không được công khai tuyên bố đó là
tự do chống tín ngưỡng. Điều đáng nói là thành phần tự do vô tín ngưỡng và
tự do chống tín ngưỡng lại có quyền, có nhà tù, có súng đạn trong khi Phật
giáo lại bị quy kết là “kẻ chiến bại, có truyền thống phản động, bóc lột”.
Bởi không thuyết phục được - và cũng không kiểm soát được, tôn giáo nên
chỉ c̣n một đường là khống chế, g̣ ép, bức xúc. GHPGVNTN bị dẹp qua một
bên như không hề hiện diện trong lịch sử Việt Nam. Ít ra là lịch sử đấu
tranh của dân tộc từ Cách Mạng Mùa Thu 1945 đến nay, cụ thể là từ 1963 đến
1975.
Bức tường ư thức
hệ Berlin sụp đổ nhưng những thiên kiến ư thức hệ, những mù mờ nhập nhằng
về ư niệm tôn giáo, những lầm lẫn bất công với Phật giáo vẫn c̣n cho nên
bức tường quyền lực dựng lên vây hăm tôn giáo của tuyệt đại đa số dân
chúng Việt Nam vẫn được duy tŕ một cách khập khễnh. Ngày nào bức tường đó
vẫn c̣n th́ ḥa hợp ḥa giải và đối thoại chỉ là cố gắng một chiều giữa
hai người điếc. Không lư những kẻ đă tự hào là “đỉnh cao trí tuệ loài
người” và đă “chiến thắng những đế quốc sừng sơ” lại sợ đối thoại với Phật
giáo, một tôn giáo không có thế dựa quốc tế, không có tài sản kếch xù,
không có cả một tổ chức chặt chẽ được bện buộc lại với nhau bằng giáo điều
và quyền lợi? Không lư những kẻ đă từng tổ chức được đảng để lănh đạo
chiến đấu và chiến thắng, lại lo ngại một tổ chức Phật giáo thống nhất?
Tại sao không cố gắng tiến đến một giải pháp ổn thỏa khả dĩ vừa hoà giải
được những bất đồng dị biệt, vừa ḥa hợp được những nguyện vọng đem đạo
phục vụ đời của hàng lănh đạo trong cả hai tổ chức Giáo Hội Phật Giáo Việt
Nam và GHPGVNTN, vừa thu hút và vận dụng được những đồng t́nh hổ trợ của
khối Phật tử Việt Nam lưu vong vào việc tái hiết đất nước?
Khoan kể những cái
chết đau thương mờ ám của Ḥa Thượng Thiện Minh và Trí Thủ, t́nh cảnh của
Ḥa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ hiện nay là biểu tượng cụ thể về những
bất công và sai lầm đối với một tín ngưỡng của đại đa số dân chúng trong
nước, trong đó có những đảng viên của một đảng theo nguyên tắc là vô tín
ngưỡng và chống tín ngưỡng. Đẩy Phật tử vào cùng đường nhẫn nhục, biến họ
thành những kẻ tử v́ đạo là hành động chẳng có lợi ǵ cho chính sách ḥa
giải ổn định cả. Họ không thể quỳ gối măi dưới chân tường nhẫn nhục đó,
ngày nào đây họ có thể đứng dậy và sẽ có người theo họ, như có người đă
suưt theo Ḥa Thượng Đôn Hậu để ngăn cản âm mưu biến tang lễ nầy thành một
chuyện tuyên truyền chính trị và tranh chấp quyền lực nội bộ. Nếu Ḥa
Thượng Huyền Quang và Quảng Độ đứng dậy th́ chuyện ǵ sẽ xảy ra cho thế
nước ḷng dân quốc nội và uy tín quốc tế của Việt Nam nếu một vụ Thiên An
Môn, dù cỡ nào đi nữa, xảy ra? Chính quyền có thừa xe bọc sắt, súng đạn,
nhà tù để nghiền nát bất cứ cuộc nổi dậy nào. Nhưng nhà tù, súng đạn có
che được mắt, bịt được mồm dư luận trong và ngoài nước, có ngăn cản được
âm mưu của những kẻ muốn lợi dụng vụ những vụ như thế để gây thêm chia rẽ
giữa chính quyền và dân chúng, để gây thêm khó khăn bối rối cho chính
quyền về mọi mặt không?
Kinh nghiệm mười
mấy năm qua chứng tỏ chính quyền không thể và không cần biểu dương lực
lượng với Phật giáo. Điều cần - và phải làm, là tranh thủ sự đồng t́nh của
quần chúng trong đó có Phật tử cho các chương tŕnh chính sách cai trị.
Đọa đày, bức bách, giam hảm Ḥa Thượng Huyền Quang, Quảng Độ không phải là
phù hợp với chủ trương tranh thủ đó, đă hẳn.
Điều cần thiết thứ
hai là tranh thủ sự đồng thuận của Phật tử đối với tổ chức tôn giáo do
chính quyền yễm trợ. Muốn vậy th́ phải khuyến khích hàng giáo phẩm hai bên
gặp nhau, gần gũi, thông cảm và cộng tác với nhau trong các hoạt động Phật
sự có tầm mức quốc gia và nhân loại. Bức bách Ḥa Thượng Huyền Quang,
Quảng Độ chỉ làm cho hố ngăn cách giữa họ sâu rộng thêm mà thôi.
Các cơ chế của
Phật giáo càng bị manh mún bể nát th́ một đàng chỉ tạo cơ hội cho những tư
tưởng ngoại lai độc hại len lỏi phát triển, và đàng khác Phật giáo sẽ như
ḍng sông vỡ bờ lan tỏa vào dân gian, ở với dân, tồn tại với dân măi măi
như bao ngàn năm qua mà thôi. Lư thuyết Marx chỉ mới hơn trăm năm, chính
quyền xây dựng trên lư thuyết nầy chỉ mới định h́nh từ 1917 và đại đa số
đă tàn lụi từ năm 1989. Trong khi Phật giáo tồn tại với dân tộc Việt Nam
ít ra cũng cả ngàn năm qua. Cho nên, không thể nhân danh sự thật, không
thể nhân danh khoa học, và lại càng không thể nhân danh quyền lợi của nhân
dân và đất nước để truy bức Phật giáo, cụ thể trước mắt là cánh Phật giáo
Thống Nhất.
Một số lănh đạo
chủ trương phải trù dập Phật giáo Thống Nhất v́ đây chỉ là một thiểu số
không có quần chúng. Nhưng nếu Phật giáo Thống Nhất thật sự không có quần
chúng hậu thuẩn th́ c̣n e ngại ǵ mà phải trói tay trói chân bịt mồm bịt
miệng cho mất công mà lại c̣n mang tiếng? trù dập Phật giáo Thống Nhất là
một cách gián tiếp thừa nhận cánh nầy có quần chúng, trước mắt là quần
chúng Phật tử lưu vong.
Đẩy cánh Phật giáo
đó vào thế đối kháng thay v́ đối thoại là điều chỉ có lợi cho những kẻ
không muốn cho xă hội an lạc, không muốn cho quan hệ giữa chế độ và dân
chúng được đề huề để tiếp sức cùng nhau vùi chôn quá khứ đau thương, để
vươn lên khỏi hiện tại khó khăn thiếu thốn, để tạo điều kiện cho một tương
lai no ấm cho mọi người Việt Nam đủ sức ngẩng mặt nh́n thiên hạ mà không
phải bối rối nghĩ rằng dân tộc nầy chỉ có những anh hùng khố rách áo ôm,
hết chống người ngoài lại quay về hành hạ đồng bào anh em trong nhà.
Nếu các trại tập
trung cải tạo dành cho những người theo “chế độ cũ” đă đóng cửa th́ tại
sao vẫn duy tŕ các nơi phát văng dành cho những người tu hành của một tôn
giáo từng là nạn nhân của chế độ cũ? Không lẽ muốn cho thiên hạ nghĩ rằng
ḿnh đang hiên ngang đi vào lối ṃn của thực dân đế quốc ngày xưa là chia
để trị, là vuốt ve một tôn giáo nầy để ép dập một tôn giáo khác?
Trong hiện tại, có
những dấu hiệu khiến người ta phải tự hỏi phải chăng Nhà Nước đang cất
công tái lập bang giao với một vài thế lực tôn chính phản động từng gây
“nợ máu” không chỉ ở Việt Nam mà khắp thế giới với hy vọng vuốt ve dư luận
thế giới để khả dĩ một đàng, giải tỏa những áp lực chính trị kinh tế nặng
nề và đàng khác, có thể mở đường cho những móc ngoặc và thỏa hiệp giữa chế
độ với thành phần bản địa của các thế lực tôn chính đó để dự bị cho những
màn dân chủ h́nh thức giả hiệu sau nầy khi mà chế độ buộc ḷng phải từ bỏ
chủ trương độc tôn, độc thiện để cởi trói chính trị?
Thỏa hiệp với
thiểu số vẫn chắc ăn là với đa số, đă hẳn. Nhưng kinh nghiệm Ba Lan,
Yugoslavia và Nga vẫn c̣n đó. Thế lực quốc tế chỉ nhận những mệnh lệnh
quốc tế, chỉ phục vụ quyền lợi quốc tế, bất chấp đồng bào, dân tộc, tổ
quốc.
Trong lúc liên hệ
giữa Phật Giáo Thống Nhất và chế độ đang căng thẳng, Phật tử mọi tầng lớp
và khắp nơi đang bất bằng th́ một số tín hữu Ki-tô giáo hải ngoại đă nhận
lệnh của Vatican mở chiến dịch cầu nguyện ḥa b́nh tại Việt Nam. Ḥa b́nh
nào đây? Phật tử Việt Nam đă không ngớt cầu nguyện cho điều đó từ năm 1945
trong khi một vài tôn giáo khác đă xem chiến tranh Việt Nam như một cuộc
thánh chiến chống “quỷ đỏ” và đồng thời là một cơ hội đấu thầu ư thức hệ
để làm giàu và phát triển ảnh hưởng. Bây giờ “quỷ đỏ” đă lên ngôi th́ lại
cầu nguyện ḥa b́nh, như người ta làm lễ cầu nguyện cho cha mẹ được an
khang khánh thọ. Điều nầy có thể nhất thời ru ngủ một số thành phần lănh
đạo đương quyền nhưng chắc chắn không thuyết phục được các Phật tử ngồi
yên mặc cho những bậc tôn trưởng của ḿnh bị bức bách.
T́nh trạng căng
thẳng giữa Nhà Nước với Phật giáo không hẳn là hoàn toàn bế tắc, quư hồ là
Nhà Nước không tự cao tự đại để thực tế thấy rơ những ǵ có thể - và có
lợi thực, về lâu về dài cho đất nước. Đối với Tăng tín đồ Phật giáo mọi
nơi, căn bản giải quyết vấn đề trước sau vẫn là “trả lại cho Ceasar những
ǵ thuộc về Ceasar”. Nói thế khác, hăy để cho các hàng lănh đạo Phật giáo
tự dàn xếp nội bộ trước thay v́ dùng nhà tù, hộ khẩu, súng đạn, thuốc
độc... để buộc họ theo ư ḿnh. Làm như vậy th́ chỉ thêm loạn mà thôi.
*
* *
Sau khi bài báo
xuất hiện ngày 13.8.1992, một tuần sau nhân kỷ niệm ngày chế độ Ngô đ́nh
Diệm đánh phá chùa chiền toàn quốc ngày 20.8.1963, Hoàng tôi lại viết thêm
một đọan nữa như sau...
2.
Lời
Bạt - V́ khuôn khổ bài báo có hạn, không thể nói rơ hơn một vài điều thấy
cần phải nói. Sau đây là phần thêm
đó...
Lẽ sống của người
Phật tử là thoát ṿng luân hồi mà con đường ngắn nhất có lẽ là ân đền oán
trả. Bởi như Kinh Na-Tiên Tỳ-Kheo dạy: “Những ai c̣n ân nghĩa, luyến ái
th́ con sinh trở lại đời sau. Và những ai dứt ân nghĩa luyến ái th́ không
sanh ra nữa.” Đă hẳn, người Phật tử không lấy oán báo oán mà lấy ân đức để
đáp oán và ân đức để đền ân đức. Nhưng oán hay ân th́ cái nào cũng phải
thanh toán gọn mới mong dứt nợ lai sanh.
Thấy được điều đó
là phải lo cho công quả tu hành của Ḥa Thượng Huyền Quang, Quảng Độ và
tất cả Tăng Ni Phật tử đă góp cả tâm sức lẫn máu, nước mắt, khổ nhục, tội
tù để gầy dựng và bảo quản cơ đồ Phật giáo Việt Nam hôm nay. Lo v́ nếu quư
vị đó không thực hiện được di huấn của Ḥa Thượng Đôn Hậu th́ khó mong dứt
nợ lai sinh. Nghĩa là bao nhiêu công đức tu tập đều uổng phí. Di huấn đó
là phải thực hiện đại hội Phật giáo Việt Nam kỳ 8. Ḥa Thượng Huyền Quang
năm nay 75 tuổi, Ḥa Thượng Quảng Độ đă 67, hai vị c̣n sống được bao lâu
nữa? Thời gian và cơ duyên có chịu chờ đợi để giúp họ giải nghiệp bằng
cách hoàn thành di huấn đó không? Công quả tu tập của hai vị quả đang bị
di huấn của Ḥa Thượng Đôn Hậu thứ thách tận cùng vậy.
V́ tùy phương tiện
lợi hành mà GHPGVNTN được khai sinh năm 1964 như một pháp nhân. Đây là
thành tựu sau chót của chương tŕnh canh tân mà Phật giáo Việt Nam theo
đuổi từ thập niên 20.
Đức Phật chạy trốn
ngai vàng đạt giác ngộ không phải để trở lại làm vua mà chỉ để làm Thầy,
nghĩa là làm tấm gương sáng. GHPGVNTN tồn tại không phải để tranh lại địa
vị quốc giáo mà thực dân đă mặc nhiên ủy thác cho một tôn giáo bạn.
GHPGVNTN không tồn tại để mà dành dựt chức quyền bổng lộc sau khi Đệ Nhất
Cộng Ḥa sụp đổ, GHPGVNTN cũng không tồn tại để bức ép các tôn giáo bạn
ḥng chiếm lấy ngôi vị độc tôn độc thiện như lịch sử đă và đang chứng tỏ
giữa một vài tôn giáo ở một vài nơi trên thế giới. GHPGVNTN tồn tại để mà
vun quén và phát triển những thành quả của cuộc canh tân Phật giáo hiện
đại, nghĩa là vun quén thực lực hầu thiết thực đóng góp cho dân tộc về mọi
mặt, nhất là đạo đức, văn hóa, xă hội, giáo dục.
Sau 1963, Phật
giáo Việt Nam đă cố gắng giữ vai tấm gương sáng của vị Thầy đó. Tai hại
cho Phật giáo là tấm gương đó đă phản ánh những điều mà các thế lực đương
quyền không muốn nh́n thấy và cũng không muốn ai nh́n thấy. Thế nên, năm
1967, GHPGVNTN bị đập vỡ thành hai mảnh. Vết thương chưa lành th́ lịch sử
chuyển ḿnh. Chế độ mới áp đặt một pháp nhân mới cho Phật giáo. Nói thế
khác, cho đến bây giờ Phật giáo đă bị băm thành ba mảnh, dù có mảnh chỉ là
hữu tướng vô pháp. Cho nên, sứ mạng của đại hội kỳ 8 theo di huấn của Ḥa
Thượng Đôn Hậu hẳn không phải chỉ là cũng cố “khối Ấn Quang”, ḥa giải hơn
nữa với “khối Việt Nam Quốc Tự” hay xóa bỏ khối tân lập xuất hiện sau
1975. Sứ mạng đó là hợp nhất Phật Giáo Việt Nam thành một khối. Và đă
hợp nhất th́ không thể gạt bỏ một hợp phần nào hết. Như ba đoạn thẳng
rời rạc đă hợp nhất tạo thành tam giác th́ không c̣n là ba đoạn thẳng nữa
và tam giác cũng sẽ không c̣n là tam giác nếu thiếu một trong ba đoạn
thẳng đó.
Hoàn cảnh lịch sử
đă xóa bỏ những ngăn cách oan nghiệt Ấn Quang - Quốc Tự, nổ lực của mọi
tầng lớp Phật tử hôm nay là góp phần xóa bỏ những ngăn cách giữa GHPGVNTN
trước 1975 và khối Phật giáo tân lập sau 1975. Điều đó chỉ có thể làm được
khi những người liên hệ hữu trách của Phật giáo hôm nay thông cảm được với
nhau cả về những nghiệp chướng đă làm tan nát Phật giáo Việt Nam, cũng như
về những cơ duyên khả dĩ giúp cho Phật giáo hồi sinh để thiết thực góp
phần xây dựng đạo pháp và đất nước.
Mang màu sắc hay
nhăn hiệu nào th́ cũng chỉ là phương tiện, dù đi với ma có thể phải mặc áo
giấy nhưng cái áo th́ không bao giờ làm nên thầy tu. Hết bị chụp mũ là
“thân cộng” đến bị tố cáo “phản cách mạng”, Phật giáo đă không v́ những
cái mũ đó mà trở thành “cộng sản” hay “phản động”. Hết bị gọi là sư áo đỏ
đến bị gọi là sư quốc doanh, quư vị trong tổ chức Phật giáo tân lập đâu có
v́ vậy mà trở thành đảng viên hay cán bộ công nhân viên nhà nước. Đă tự
nguyện quy y Tam Bảo th́ hông thể hồi chánh với bất cứ một thế lực nào nếu
thế lực đó đi ngược lại nhu cầu giải thoát của đồng bào đồng loại.
Văn thư ngày
25.7.1992 của Ḥa Thượng Huyền Quang không phải là phát súng lệnh chống
chế độ. Điều kiện thực tế của Phật giáo cũng nhu nhu cầu đất nước không
cho làm như vậy. Thông Bạch Vu Lan ngày 4.7.1992 đă gián tiếp nói lên điều
đó. Lời phát biểu ứng khẩu của Ḥa Thượng Huyền Quang trong tang lễ Ḥa
Thượng Đôn Hậu tại Huế ngày 3.5.1992 cũng hàm ư như thế. Tuy nhiên nếu
nguyện ước xây dựng của Phật giáo mà Ḥa Thượng Huyền Quang phản ánh không
được đáp ứng th́ những hậu quả đau buồn tủi nhục có thể xảy ra cho tất cả
mọi thành phần đang lâm vào cảnh “chiếu bí” hiện nay.
Nhà Nước đă lên án
Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa là phản lại nguyện vọng quần chúng và nô lệ
ngoại bang, nhưng rồi liệu có khỏi bị kết tội là đang sao y những sai lầm
của chế độ cũ đối với Phật giáo là cả vú lấp miệng em và chia để trị
không? Quả vậy, tháng 8.1963, Đệ Nhất Cộng Ḥa thành lập Ủy Ban Liên Phái
Bảo Vệ Phật Giáo Thuần Túy sau khi tấn công chùa chiền bắt nhốt Tăng Ni
Phật tử tranh đấu. Năm 1966, Đệ Nhị Cộng Ḥa ban hành Sắc Luật 23/67 sau
khi thẳng tay đàn áp phong trào vận động dân chủ, vận động Quốc Hội Lập
Hiến của Phật giáo. Khối Phật giáo tân lập hôm nay được truy phong sau bao
nhiêu tù tội chết chóc, kể cả cái chết của Ḥa Thượng Thiện Minh. Quyết
định truy phong đó có làm cho quần chúng bớt hoài nghi và gần lại với
chính quyền hơn không, hay trái lại đă trở thành cái bẫy mà chính quyền
dăng ra để tự sập chính ḿnh? Càng duy tŕ t́nh trạng nầy thêm ngày nào
th́ càng làm cho thế bí hiện nay thêm rối rắm trầm trọng. GHPGVNTN không
thể thiết thực đối thoại với chính quyền v́ thực thể giáo hội đă bị chính
quyền phủ nhận. Chính quyền cũng không thể chính thức thương thuyết với
GHPGVNTN v́ đă lỡ thừa nhận khối Phật giáo tân lập. Cho nên, thế bí hiện
nay chỉ có thể gở nếu:
1. Qúy vị hữu
trách của Phật giáo ngồi lại nói chuyện thông cảm với nhau.
2. Nhà Nước chấm
dứt việc bức xúc Ḥa Thượng Huyền Quang và Quảng Độ và để cho khối Phật
giáo tân lập nhận trách nhiệm phục hồi trú sở cho hai Ḥa Thượng Huyền
Quang, Quảng Độ.
3. GHPGVNTN và
GHPGVN tân lập hiệp thương để hợp nhất Phật giáo, tiến đến một tổ chức mới
quy kết mọi thành phần ly tán hiện nay.
4. Tổ chức Phật
giáo Việt Nam mới nầy hiệp thương với chính quyền về các vấn đề như giáo
chế, giáo sản và hoàn cảnh những người đang bị quản thúc.
Marx ít ra cũng
gặp Phật giáo ở một điểm căn bản đó là ưu tư về những thống khổ của nhân
sinh. Phật giáo gọi là Khổ Đế, Marx gọi là vong thân hay phóng thể. Marx
đă bị lịch sử qua mặt không phải quan niệm về thống khổ nhân sinh mà v́
những giải pháp Marx đề nghị để hóa giải những thống khổ đó. Nhà Nước rốt
cuộc phải nhận điều đó nên phải đổi mới. Phương thức hóa giải Khổ Đế của
Phật giáo tiên vàn chú trọng vào cá nhân, nghĩa là Phật giáo không chủ
trương tranh đoạt uy quyền thế tục làm phương tiện diệt khổ. Tham chính
hay đối chính là quyền lựa chọn của cá nhân Phật tử trong tư cách công dân
chứ không phải trong cương vị tín hữu. Cho nên, nếu một Nhà Nước thực tâm
v́ dân, cho dân và thực sự là của dân th́ hẳn phải lắng nghe và khuyến
khích những tỏ bày nguyện vọng của người Phật tử thay v́ bứt chẹt, thao
túng, lũng đoạn những tiếng nói chân thật đó, nhất là trong một hoàn cảnh
đang vắng thiếu những định chế dân chủ để cảnh giác và tiết chế những quá
đà và sai lạc của quyền lực.
Khối Phật giáo
Việt Nam lưu vong có thể hữu hiệu góp phần vào việc hợp nhất hồi phục tín
ngưỡng của ḿnh với sự d́u dắt và hiệp đức của những vị từng có kinh
nghiệm đích thực trong quá tŕnh trưởng thành của Phật giáo Việt Nam hiện
tại.
Từ chốn lưu đày,
Phật tử đă làm được những việc đáng làm cho đồng đạo đồng bào. Các cơ sở
tự viện phát triển đều khắp. Hầu như nơi nào có bóng dáng áo nâu áo vàng
là nơi đó có chùa lớn chùa nhỏ để làm chỗ dựa tâm linh cho người Phật tử
đang lao đao v́ chuyện đổi đời. Một số cơ sở đang bắt rễ vào xă hội tạm
dung thu hút những đồng đạo dị tộc. Cái mặc cảm tội lỗi “v́ ḿnh mà mất
nước” - do chiến dịch t́m vật tế thần để chạy tội của những kẻ trách nhiệm
bại trận tạo nên trong ḷng một số Phật tử, không c̣n nữa khiến cho số nầy
hồi phục được ḷng tin vào tương lai của đạo pháp và giống ṇi.
Nhưng Phật giáo
hải ngoại phát triển mạnh, đều khắp mà lại thiếu đồng bộ, ít phối hợp.
Phật giáo hải ngoại ư thức rơ điều đó và đang vồn vă đáp ứng lời kêu gọi
thống hợp của Ḥa Thượng Đôn Hậu, sau hơn 16 năm lưu lạc. Ước nguyện hợp
nhất sẽ dễ thành tựu hơn nếu một số nhỏ những thành phần được gọi là hữu
trách khắc phục được một vài sở chướng cố hữu như làm lấy lệ, chạy theo
thời thượng chính trị, tự tôn, thiếu khoan ḥa khiêm cung với đồng môn tôn
trưởng khiến cho thiện chí thanh lư môn hộ trở thành vạch áo cho người xem
lưng một cách kỳ quái.
Khó khăn chính đối
với một số thành phần Phật giáo hải ngoại là xác lập chỗ đứng thế trị bên
cạnh các đoàn thể và sinh hoạt chính trị từng trăm hoa đua nở trong tập
thể người Việt lưu vong. Khó khăn nầy chỉ được khắc phục khi một số thành
phần hữu trách của Phật giáo thấy rơ thế đứng, mục đích và khả năng hành
động của ḿnh, thấy rơ Phật giáo ở quê nhà cũng như hải ngoại có ǵ, cần
ǵ, nên làm ǵ và có thể làm đến đâu. Có như thế th́ người Phật tử lưu
vong mới đủ sáng suốt để tránh được cạm bẫy của những phiêu lưu thời
thượng chính trị đối kháng và nhất là những âm mưu khai thác t́nh trạng
căng thẳng đáng tiếc giữa chính quyền với Phật giáo để biến Phật tử thành
những kẻ bưng nước cho thiên hạ uống qua chiêu bài liên tôn đấu tranh cho
nhân quyền tự do tôn giáo.
Tiếng súng đă
ngưng, đất nước đă thống nhất từ 17 năm qua, các trại tù cải tạo cũng đă
đóng cửa để khả dĩ mở đường cho ḥa giải dân tộc th́ không có lư do ǵ
Phật giáo Việt Nam lại không hợp nhất, không có lư do ǵ những h́nh thức
quản chế kềm kẹp đối với Phật giáo vẫn được duy tŕ.
Đă nhân danh nước
mà chiến đấu, đă nhân danh dân tộc mà chiến thắng, không lư bây giờ lại
nhân danh ḿnh mà chia rẽ, bứt chẹt một số những đại diện chính đáng của
một đại khối quần chúng để rồi vô t́nh mở đường cho những tũi nhục, bất
ổn, thăng trầm mới sao?
3.
Những ḍng chữ đó
viết cách nay đă ngót bảy năm. Bao nhiêu nước chảy qua cầu. Hoàng tôi
không khỏi hoảng hốt ngậm ngùi thấy rằng những điều ưu tư của tôi vẫn c̣n
lư do tồn tại. Nhất là qua cuộc đụng độ chót - nhưng chưa chắc đă là cuối
cùng, giữa Thầy Huyền Quang, Quảng Độ với chính quyền.
Trước mặt tôi là
tờ Tuổi Trẻ Chủ Nhật số 02 - 99 h́nh b́a đăng ảnh Tổng Bí Thư Lê khả Phiêu
với một số khẩu hiệu trang trọng như:
-Dân chủ là khoa
học và quy luật phát triển.
-Mất dân chủ làm
cho người dân không phát huy trí tuệ của ḿnh.
-Có dân chủ th́ có
phát triển.
-Nếu chúng ta không chặt đứt gốc rễ của nạn quan liêu, tham
nhũng th́ công cuộc đổi mới của chúng ta sẽ khó bề thành công.
Tôi không nghĩ đó
chỉ là những câu nói chơi, nói để mà nói, hay nói vậy chứ không phải vậy.
Nhưng tôi không thể nào hiểu được tại sao tự do tín ngưỡng như Thầy Huyền
Quang, Quảng Độ th́ bị cay đắng đủ điều, trong khi những người tự do chống
tín ngưỡng th́ lại có quyền năng tự tung tự tác như những ông trời con?
Trong khi một vài thành phần tôn giáo từng lún chân vào vũng lầy tội ác
với dân tộc lại được vuốt ve vinh danh cách nầy cách khác. Không lư đó là
quy luật dân chủ?
Tờ báo cũng trích
lời Tổng Bí Thư rằng: “Khi khoán hộ th́ thấy chủ nghĩa xă hội không những
không mất mà c̣n đi lên nhanh hơn.” Tôi cũng cố tin như vậy. Nhưng 7 năm
qua rồi, tôi thấy chuyện Thầy Huyền Quang Quảng Độ không những không đi
nhanh mà c̣n đi lùi nữa.
Marx, Lenin,
Stalin, Mao đă biến mất khỏi cuộc đời, biến khỏi tâm trí hàng ngũ những
người chấp nhận tín điều Mác-Lê. Không có cương lĩnh, không có chương
tŕnh, không biết đang đứng ở đâu và sẽ đi đến đâu - nghĩa là không có ư
thức hệ - th́ cai trị bằng cái ǵ đây? Không lư biến thượng tầng kiến trúc
thành “tư bản đỏ” và hạ tầng cơ sở thành một tập đoàn quan liêu tham
nhũng? Trong hoàn cảnh ấy, Phật giáo thực không phải là thuốc phiện mà
chính là thuốc giải độc. Tại sao lại mon men đùa với thuốc độc và khinh
thường thuốc giải độc?
Mùa Phật Đản 1999.
|