|
Thay lời tựa: Sư tử
trùng, tại sao?
Giới
Tử
Không
ai phủ nhận cuộc vận động tự do tín ngưỡng và công bằng xă hội của Phật
giáo Việt Nam năm 1963 tại Miền Nam đem lại tư cách pháp nhân mới cho Phật
giáo, biến Phật giáo thành một định chế tôn giáo, một đoàn thể áp lực qua
danh nghĩa Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất.
Cũng không ai phủ
nhận đến năm 1964, Phật giáo mới công khai chính thức trở thành một giáo
hội. Nhưng trước đó, Phật giáo không phải là một thực tế vô định h́nh, vô
tổ chức. Thật vậy, phong trào thống nhất Phật giáo khởi sự từ thập niên 20
với các Hội Phật Học, Hội Phật Giáo ở cả ba miền Nam Trung Bắc. Ngót 30
năm sau, các tổ chức đó thống hợp thành Tổng Hội Phật Giáo năm 1951. Nói
thế khác, trước năm 1964, Phật giáo đă tồn tại không chỉ như một thực tế
mà là một thực thể có tư cách pháp nhân hẳn ḥi.
Nhưng v́ những
ràng buộc của Dụ số 10, Phật giáo chỉ có tư cách pháp nhân của một hiệp
hội tương tự như hội tương tế hay hội thể thao. Vào thời này ở Việt Nam
chỉ có Công giáo La-Mă được thừa nhận như một định chế tôn giáo không lệ
thuộc vào Dụ số 10, dù cho Công giáo La-Mă này không phải là một tổ chức
của người Việt sáng lập hoặc do người Việt điều hành mà chỉ là một chi
nhánh của Hội Thừa Sai trực thuộc Vatican. Măi đến năm 1961, Giáo Hội Công
Giáo "tại" Việt Nam mới được khai sinh.
Dụ số 10 do Quốc
Trưởng Bảo Đại ban hành ngày 6/8/1950 dưới sự bảo hộ của Pháp. Năm 1954,
Hoa Kỳ thế chân Pháp ở Miền Nam, đưa Ngô đ́nh Diệm về truất phế Quốc
Trưởng Bảo Đại, nhưng chính quyền mới vẫn duy tŕ Dụ số 10 như một màn
khói ngụy trang để trói buộc trù dập các tôn giáo khác và yễm trợ Công
giáo tiếp tục bành trướng. Phật giáo là nạn nhân chính.
Sau chín năm nhẫn
nhục, Phật giáo buộc ḷng phải phản ứng. Chế độ Ngô đ́nh Diệm cáo chung.
Cùng chấm dứt với chế độ Ngô đ́nh Diệm là chính sách dùng người Việt chống
người Việt của chính quyền Kennedy dưới danh nghĩa "chiến tranh đặc biệt".
Kennedy thấy rơ sở đoản của chính sách đó và chưa kịp điều chỉnh th́ bị ám
sát. Johnson lên thay, đảo ngược chính sách của Kennedy bằng cách trực
tiếp điều động chiến tranh và thực sự dùng người Mỹ đích thân đánh người
Việt, dưới danh nghĩa trả đũa bằng cách "leo thang" phi pháo những nơi
không đổ bộ được và "lùng diệt" những nơi đặt chân đến được.
Năm 1964 là năm
h́nh thành Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Năm 1965, chiến tranh
Mỹ-Việt thực sự bắt đầu với vụ gây hấn ở Vịnh Bắc Việt và cuộc đổ bộ của
Thủy Quân Lục Chiến Mỹ vào Chu Lai-Đà Nẵng. V́ không chấp nhận các ư thức
hệ ngoại lai mà cũng không đồng ư cuộc chiến nhân danh ư thức hệ do Mỹ tự
tung tự tác điều động nên Phật giáo lại bị trù dập. Sắc Luật 23/67 được Đệ
Nhị Cộng Ḥa ban hành, phủ nhận quy chế và đập vỡ thực thể Phật giáo thành
hai mảnh Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự. Nếu ngày xưa Đệ Nhất Cộng Ḥa đă
dùng thủ thuật Phật tử trị Phật tử bằng cách chỉ thừa nhận những người
Phật tử thân chính trong Ủy Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo Thuần Túy của
Cổ Sơn Môn, th́ Đệ Nhị Cộng Ḥa cũng chỉ thừa nhận những Phật tử thân
chính thuộc Việt Nam Quốc Tự của qúy ngài Tâm Châu-Tâm Giác. Chiến dịch
đàn áp bắt đầu... Thầy Trí Quang bị dồn vào thế phải ra tuyệt thực trước
Dinh Độc Lập để phản đối, Thầy Nhất Hạnh được phép chính thức xuất ngoại
nhưng lúc hồi hương th́ bị cấm cửa đành phải chọn kiếp lưu vong bất đắc
dĩ. Trong Tết Mậu Thân, Chùa Ấn Quang bị liệt vào vùng oanh kích tự do,
Thầy Trí Quang phải tá túc ở Tổng Vụ Thanh Niên Phật Tử Sài G̣n của Thầy
Thiện Minh trước khi bị hốt về giam trong Tổng Nha Cảnh Sát, Thầy Thiện
Minh và một số sinh viên trong Tổng Vụ Thanh Niên Phật Tử bị Nguyễn văn
Thiệu lôi ra ṭa án Quân Sự Mặt Trận lảnh án.
Như vậy, GHPGVNTN
đă thực sự bị khai tử từ năm 1967 bằng Sắc Luật 23/67 của Đệ Nhị Cộng Ḥa
chứ không phải đợi đến khi Nhà Nước Cộng Ḥa Xă Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cho
phép thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam và Thầy Thiện Minh chết trong
tù. Quư Thầy Huyền Quang, Quảng Độ, Tuệ Sĩ biết rơ chuyện này hơn ai hết.
Quư Ḥa Thượng Tâm Châu, Hộ Giác, Đức Niệm và quư vị trong GHPGVNTN "hải
ngoại" cũng biết rơ chuyện này hơn ai hết. Biết rơ như vậy nhưng họ đă làm
ǵ khi Giáo Hội bị khai tử năm 1967 và phản ứng như thế nào sau đó là
chuyện khác.
Khi gia tăng cường
độ bức ép đối với quư Thầy trong GHPGVNTN cũ, Nhà Nước thực sự cũng chỉ
lặp lại hành động của các chế độ Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Ḥa ngày trước với
Phật giáo. Nghĩa là dùng luật lệ, tuyên truyền, dùng công cụ ngoại đạo hay
vô đạo, ngay cả dùng Phật tử để khống chế, khuynh loát và trù dập. Thế
lưỡng đầu thọ địch bi hài đó chỉ làm rơ hơn vị trí và lập trường của Phật
giáo. "Quốc gia quá khích" không ưa mà "Cộng sản độc thiện" cũng chẳng
thích.
Sau 1975, giai
đoạn "truy kích địch" và "căi tạo xă hội chủ nghĩa" gây ra những lỗi lầm
và bất công đáng tiếc. Phật giáo là một nạn nhân. Các cơ sở văn hóa xă hội
từ thiện của Phật giáo bị ngưng đọng, suy sụp, phung phá oan uổng. Một số
Tăng Ni Phật tử hy sinh, số khác vào tù, một số chạy ra ngoại quốc. Những
lỗi lầm và bất công đáng tiếc đó đă gây ra một t́nh trạng gần như là "nội
chiến" bi hài giữa Nhà Nước và Phật giáo. Bi hài đáng tiếc v́ trong khi
Nhà Nước không biết đàn áp Phật giáo để làm ǵ th́ một số Phật tử cũng đă
không biết chống Nhà Nước để làm ǵ.
Nhà Nước khuynh
loát lũng đoạn Phật giáo để làm ǵ? Nhà Nước chỉ có một định nghĩa về tôn
giáo. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân. Nghĩa là tiêu cực và phản
động. Định nghĩa tôn giáo ấy chỉ đúng cho các tôn giáo Tây phương, cụ thể
là Công giáo La-Mă. Marx không biết chút ǵ về Ấn giáo, về Tam giáo, khoan
nói là Phật giáo. Cho nên, áp dụng quan điểm Mác-xít cho Phật giáo th́ chỉ
là lấy thúng úp voi, mà hậu quả cực đoan cùng tột sẽ như thế nào th́ mọi
người đều thấy rơ qua kinh nghiệm của Pol Pot ở Campuchia. Phải chăng hồn
thiêng sông núi và Việt tính đă ngăn chặn không để cho hậu quả tồi tệ đó
xảy ra? Phải chăng Phật giáo tồn tại với dân tộc này như một ḍng nước,
lúc bị ngán trở th́ tràn lan thấm tận vào ḷng đất bao la nên không c̣n
biết chỗ nào mà chận đập nữa? Mặt khác, nếu Phật giáo đúng là một tôn giáo
"tiêu cực và phản động" th́ thời tiền cách mạng cũng như thời kháng chiến,
trong những ngày đen tối bị truy lùng trốn tránh, Hồ chí Minh và các đồng
chí có dám nương nhờ cửa Phật như họ đă làm không? Mười Anh Đỗ trung Hiếu
là trưởng ban trí giáo vận của Cục R và sau là của Thành Ủy Sài G̣n -
người trực tiếp chỉ huy chiến dịch giải thể GHPGVNTN sau 1975. Cả Ḥa
Thượng Tâm Châu và đệ tử thân tín cũng như Mười Anh Đỗ trung Hiếu đều c̣n
đó và hẳn phải nhận rằng nếu Ḥa Thượng Tâm Châu trước năm 1975 mà cũng
quyết tử chống Cộng như lâu nay ở hải ngoại th́ làm thế nào Mười Anh Đỗ
trung Hiếu có thể nương thân làm thị giả của Chùa Từ Quang suốt bao nhiêu
năm trường trước 1975 như thế?
V́ không nhất
thiết theo đuổi danh lợi và quyền lực thế tục nên Phật giáo không nhất
thiết lệ thuộc vào quyền lực thế tục. Phật giáo không cần chính quyền bằng
chính quyền cần Phật giáo. Bởi lư, sau khi đă chiến thắng ngoại nhân, thu
hồi độc lập, tái thống nhất quốc gia, sau khi đă triệt hạ những độc quyền
kinh tế, giáo dục của những thiểu số tầm gửi, sau khi đă đuổi những thế
lực tôn giáo "phản động" ra khỏi chính quyền... không lư Nhà Nước lại dựa
vào những khẩu quyết rỗng không để điều hướng một xă hội từng bầm dập đói
khổ dài ngày đang lăm le "tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc" đại nhảy
vọt theo những quyến rũ xa hoa hưởng thụ vị kỷ? Nếu chiến tranh và bị trị
là nguy cơ làm cho nhân tâm ly tán hư hoại, th́ ḥa b́nh tái thiết cũng có
thể là nguy cơ làm cho nhân tâm điên đảo. Để đáp ứng nhu cầu an định và
định hướng tiến bộ, chính quyền cần sự hỗ trợ của những truyền thống luân
đạo chân chính. Phật giáo là một. Trước tiên, Phật giáo là cái thắng để
ngăn chận những tác hại của tham lam, sân hận, dục vọng "bẩm sinh" cả của
hạng có quyền thế, có của cải, có tương lai lẫn của hạng cô thế, nghèo
túng, vô vọng. Thứ đến, Phật giáo là thế lực tán trợ điều hướng và chỉ đạo
công cuộc ḥa hợp dân tộc, tái thiết xă hội, củng cố tự chủ. Hăy nh́n vào
những núi xương sông máu ở Rwanda, Ireland, Yugoslavia... rồi tự hỏi nếu
những biến cố 1963, 1966, 1975 tại Miền Nam mà do một thành phần khác chủ
động th́ chuyện ǵ sẽ xảy ra cho phe "thua cuộc"? Sau một thời gian lập lờ
đi lại gượng ép với Công giáo và Tin Lành, Nhà Nước đă thấy rơ chuyện ǵ
có thể, và đă xảy ra.
Phật tử chống Nhà
Nước để làm ǵ? Phật pháp không có Nam có Bắc, và Phật pháp cũng không có
đoạn nào khuyến cáo Phật tử phải tiên quyết chống "tư bản" hay chống "cộng
sản". Phật giáo chỉ giải mê, giải hoặc tiềm ẩn trong những ư thức hệ đó.
Tư bản chủ nghĩa với "thập tự quân" đến Việt Nam bất quá cũng chỉ mới xấp
xĩ 150 năm. Chủ nghĩa Marx mới mon men đến Việt Nam khoảng 80 năm và phải
núp bóng cao trào đấu tranh giải phóng dân tộc - chứ không phải đấu tranh
giai cấp, để tồn tại. Vui buồn nổi trôi với dân tộc này cả ngàn năm trước,
Phật pháp không phải là một ư thức hệ quốc tế, Sơn môn Tăng già không phải
là một thượng tầng kiến trúc phi quốc gia và Phật tử không phải là bầy cừu
để nhu cầu và quyền lợi của tập đoàn lên trên nhu cầu và quyền lợi của dân
tộc quốc gia, nhu cầu và quyền lợi của đồng đạo lên trên quyền lợi của
đồng bào và đồng loại. Thánh địa của Phật giáo là Việt Nam, là Sài G̣n,
Huế, Hà Nội, chứ không phải một địa danh địa điểm ngoại biên nào. Tôn giáo
chân chính trước tiên phải là một tôn giáo của Việt Nam, cho Việt Nam, v́
Việt Nam.
Nếu đă lấy tiêu
chuẩn "thương người như thể thương thân" và "an bần lạc đạo" để đo lường
thành tích tu chứng, th́ người Phật tử cũng phải lấy thành tích tranh thủ
quyền tự chủ tự quyết và quyền xây dựng tương lai cho cả một dân tộc để
phán đoán bất cứ chính quyền nào, bất cứ chế độ nào. Kẻ nào đem lại ḥa
b́nh, độc lập, thống nhất và tương lai cho Việt Nam kẻ ấy là một "điều ngự
trượng phu", dù cho trên đường đấu tranh hành thiện, kẻ trượng phu đó có
thể vấp phạm những sai trái lỗi lầm đối với quần chúng và riêng với Phật
giáo. Phê phán những lầm lỗi sai trái đó không có nghĩa là đối kháng,
triệt hạ, quét sạch theo ư nghĩa "thà chết c̣n hơn đội trời chung". Phê
phán những lầm lỗi sai trái đó là một trách nhiệm đạo đức, và đồng thời là
một nhu cầu thế trị theo quy luật dân chủ tự do. Và một trong những quy
luật tất yếu của tự do dân chủ là tôn trọng quyền sống và quyền khác biệt
của kẻ ḿnh chống đối.
Phật tử Việt Nam
đối kháng những chủ trương hành động thực dân xâm lăng của bất cứ chính
quyền ngoại quốc nào và đối lập với bất cứ chính quyền nào của người Việt
Nam, do người người Việt Nam điều hành. Qua cuộc đối đầu năm 1963, trong
khi Ngô đ́nh Diệm trăn trối "tôi chết hăy trả thù cho tôi" th́ lănh tụ
Phật giáo chỉ kêu gọi "tôi chết hăy cầu nguyện cho kẻ giết tôi". Cũng chỉ
v́ Phật giáo không tiên quyết đ̣i lật đổ mà cũng chẳng đ̣i triệt hạ Ngô
đ́nh Diệm, Phật giáo chỉ đ̣i b́nh đẳng tín ngưỡng và công bằng xă hội.
Phật giáo không đ̣i lật đổ mà cũng chẳng đ̣i triệt hạ Nguyễn văn Thiệu năm
1966, Phật giáo chỉ đ̣i hiến pháp dân chủ và hủy bỏ Sắc Luật 23/67 can
thiệp vào nội bộ và phá nát cơ chế giáo hội của Phật giáo. Sau năm 1975,
Phật giáo không đ̣i lật đổ chế độ mà cũng không đ̣i triệt hạ Nhà Nước
CHXHCNVN, Phật giáo chỉ đ̣i được "b́nh đẳng" với những người tự do vô tín
ngưỡng, đ̣i chính quyền xét lại những quan niệm tốc đoán, lỗi thời về tôn
giáo, từ bỏ tham vọng độc thiện và những lo sợ cũng như tham vọng chính
trị viễn vông đối với Phật giáo để chấm dứt những can thiệp nặng nề vào
sinh hoạt Phật sự. Thầy Trí Quang quyết tịnh khẩu đă đành, nhưng những
nhân vật chủ chốt khác của Phật giáo sau 1975 như qúy Thầy Thiện Minh, Đôn
Hậu, Trí Thủ, Thiện Hoa có nói một lời nào khuyến thỉnh Phật tử phải tiên
quyết đối kháng hay lật đổ chế độ để phục hồi, bảo vệ hay thăng tiến
GHPGVNTN? Một đôi lời "mặn mất ngon" rất thế trị của Thầy Quảng Độ xét cho
cùng chỉ là cô đơn tức nước vỡ bờ. Bị phát văng ra Thái B́nh rồi được
phóng thích và chỉ định cư trú ở chùa Quán Sứ năm 1992, nếu lúc đó - thay
v́ trở về Thanh Minh Thiền Viện, Thầy Quảng Độ cứ ẩn nhẫn bám trụ ở lại
Miền Bắc và dùng chiến thuật dĩ tịnh trị động th́ Phật giáo Miền Bắc đă
hưởng được biết bao nhiêu kinh nghiệm công đức của Thầy?
Phật tử không hề
phải lựa chọn giữa chế độ và tín ngưỡng, không hề phải tiến thoái lưỡng
nam trước quyết định "thà mất nước không thà mất Chúa" như một số đồng bào
khác tín ngưỡng. Số Tăng Ni Phật tử thường la lối om ṣm phải triệt hạ tức
khắc thế lực này, chế độ nọ... chỉ là những kẻ mê sảng đến độ quên ḿnh là
người Việt Nam, quên ḿnh là Phật tử, quên rằng Phật không khuyến thỉnh
Phật tử phải ủng hộ một chính quyền như một tín lư, hoặc phải chống đối
chính quyền như một tín điều. Đó là những bài học lịch sử mà một số Phật
tử trong ngoài nước, xuất gia cũng như tại gia, trong những tổ chức gọi là
Phật Giáo Thống Nhất Hải Ngoại, Phật giáo liên tôn, những bè nhúm tăng ni
núp dưới danh nghĩa giải trừ pháp nạn, bảo vệ chánh pháp, truyền bá chánh
pháp, tuyên úy chính phủ tự do v.v... h́nh như đă quên mất. Họ hành động
như những kẻ bị qủy ám hôn mê lặp lại khẩu quyết chính trị của tà ma ngoại
đạo, hân hoan cầm lọng cầm cờ cho những ma đầu chính trị, cơ hội chủ nghĩa
núp dưới danh nghĩa phục quốc, giải phóng, pháp nạn, bảo vệ quyền làm
người.
Trường hợp Làng
Mai và pháp môn Tiếp Hiện của Thầy Nhất Hạnh, trường hợp Trúc Lâm với chủ
trương Tăng già Cư sĩ cùng gánh vác Phật sự của Thầy Thiện Châu, là những
thành tích ngoại lệ, có nhiều mặt tích cực nhưng không phải là không có
vấn đề - những vấn đề đáng quan tâm nhưng không phải là chí tử. Phật tử
Việt Nam lưu vong không gia tâm rút tỉa kinh nghiệm của Làng Mai, của Trúc
Lâm để cải thiện, củng cố và phát triển công cuộc hành đạo nơi xứ lạ quê
người cũng như đẩy mạnh công cuộc tiếp trợ cho Phật giáo tại quê nhà.
Ngoài quyển Phật Giáo Nhập Thế 1963-1966 bằng Anh ngữ của Quán Như - một
công tŕnh nghiên cứu tiên khởi độc đáo về Phật giáo nhập thế hiện đại, hy
vọng sẽ có nhiều người khác nữa gia tâm học hỏi kinh nghiệm Làng Mai, Trúc
Lâm một cách đầy đủ cụ thể hơn để làm phong phú thêm kinh nghiệm sống đạo
và hành đạo của Phật giáo Việt Nam ngoài cũng như trong nước.
Mặt khác, về
truyền thống nhập thế cũng như về số lượng nhân sự, Phật giáo Việt Nam lưu
vong vượt xa Phật giáo Tây Tạng lưu vong. Nhưng thành tích Pháp thí của
Phật giáo Việt Nam lưu vong và Phật giáo Tây Tạng lưu vong th́ chênh lệch
một trời một vực. Với Phật giáo Việt Nam lưu vong, thành tích Pháp thí đó
lại tỷ lệ nghịch với số lượng các tự viện, các đoàn thể, các giáo hội và
các chức vụ tôn giáo của hàng sơn môn. Nói thế khác, càng lập nhiều chùa,
càng bày ra nhiều "giáo hội", nhiều tổ chức, càng nhiều Ḥa Thượng, Thượng
Tọa, Đại Đức th́ thành tích Pháp thí của Phật giáo Việt Nam lưu vong lại
càng ít đi.
Không chỉ quần
chúng Tây phương âm thầm bỏ đạo để theo Đức Đạt Lai Lạt Ma, đa số quần
chúng Việt Nam có học, nhất là lớp trẻ, nghĩ đến Phật giáo th́ không phải
họ nghĩ đến quư vị trong các giáo hội "thống nhất hải ngoại" mà là nghĩ
đến Đức Đạt Lai Lạt Ma, Thầy Nhất Hạnh, Đại sư Suzuki, hay ít ra cũng là
Thầy Thanh Từ. Mặc dù thính chúng mà Thầy Thanh Từ nhằm đến là hàng trung
và cao niên chất phát từng quen với không khí tu học Tịnh Độ ở quê nhà
ngày trước đang càng ngày càng cảm thấy xa lạ lạc lơng với Phật giáo lưu
vong vừa chính trị không tưởng, cơ hội, lá mặt lá trái, bán buôn thù hận,
vừa lộ liễu với cảnh chùa to Phật nhỏ.
Phật giáo Tây Tạng
và Thầy Nhất Hạnh biết tự "chấn hưng", biết "đổi mới" phương thức sống đạo
hành đạo, cũng như ngôn từ và phương thức diễn đạt, nên chinh phục được
tâm linh của thế giới Tây phương như thế. Phật giáo lưu vong không chỉ có
trách nhiệm với Phật tử lưu vong - nhất là tầng lớp trẻ đă trưởng thành
trong khung cảnh Tây phương mà thôi. Phật giáo lưu vong c̣n gián tiếp chịu
trách nhiệm với tầng lớp trẻ trong nước trưởng thành trong khung cảnh một
xă hội đang vồ vập thoát xác và hưởng thụ, trách nhiệm với lớp trung niên
và cao niên ở Miền Bắc vốn chỉ quen thuộc với một Phật giáo của đầu thập
niên 50, trách nhiệm với lớp trung niên và cao niên ở Miền Nam vốn chỉ
quen thuộc với một Phật giáo của thời chiến tranh và ngoại thuộc một phần
tư thế kỷ trước. Phật giáo không hăm hở tuyển mộ tín đồ, cũng không lăm le
dành dân lấn đất với các tôn giáo khác. Nhưng Phật giáo cũng không thể
nhắm mắt cho đồng bào "si mê lầm lạc" vào đường tà ma ngoại đạo, nhiều khi
chỉ v́ tham vọng tiến bộ, v́ thời thượng hiện đại hóa, v́ mốt đổi mới.
Hoàng Phủ Ngọc Tường đă cao hứng dựa vào ư niệm Phục Sinh và Lễ Tro của
Công giáo để kiến giải ư nghĩa của bản nhạc Cát Bụi của Trịnh công Sơn. Là
một bạn thân của Trịnh công Sơn, Hoàng Phủ Ngọc Tường dĩ nhiên đă biết rơ
rằng "cát bụi" của Trịnh công Sơn chẳng dính líu ǵ với lễ Phục Sinh và Lễ
Tro cả. Liên tưởng đó hoàn toàn là thời thượng "tiên tiến". Liên tưởng đó
không phải là một thứ hạnh tín mà chỉ là một biểu hiện bay bướm được coi
là "hiện đại" hay "hậu hiện đại". Như hàng trăm hàng ngàn thanh niên thiếu
nữ Sài G̣n tuôn xuống đường đi tới đi lui đêm Noel vậy đó. Nhưng có mấy
người trong số đó ư thức như Hoàng Phủ Ngọc Tường rằng huyền thoại Phục
Sinh, Lễ Tro không hiện đại mà cũng chẳng hậu hiện đại, mà là những huyền
thoại đă hóa thạch?
Điều đáng ngạc
nhiên là trong lúc cả thế giới "đi tới" với Phật giáo th́ Phật giáo Việt
Nam lưu vong lại dậm chân tại chỗ hay thụt lùi. Phải chăng, nếu Phật giáo
lưu vong không thoát xác th́ trước sau rồi cũng đi theo vết xe của Phật
giáo Đài Loan lưu vong để bao thầu chuyện Tu Giùm, Tu Giúp của kẻ khác với
các bàn vong, Bạch Y Thần Chú, cúng sao giải hạn, cúng khai trương, cầu an
cầu siêu, nghĩa là công việc b́nh thường của các Thầy Cúng, như Cổ Sơn Môn
của Ḥa Thượng Giác Lượng hay như Giáo Hội Đại Chúng của Pháp sư Giác Đức?
Có người trả lời
bằng cách đổ lỗi cho hiện tượng sa đoạ của một số thành phần xuất gia và
thái độ ỷ lại, cầu phước cầu đức của hàng tại gia. Điều đó không phải là
sai, nhưng hiện tượng lạc đạo đó không phải đến bây giờ, không phải khi đă
lưu vong mới có. Có tốt là có xấu, có thăng là có trầm, thời nào cũng vậy.
Thế nhưng, trong hoàn cảnh lưu vong, t́nh trạng tŕ trệ đó trở nên trầm
trọng thêm v́ hiện tượng dậm chân tại chỗ hay thụt lùi của một số Phật sự
Việt Nam hải ngoại có thể do những lư do sau đây:
Thứ nhất, "duy ngă
độc tôn", thiếu khiêm cung, lục ḥa. Một số vị xuất gia cũng như Phật tử
càng nói "tu" th́ cái ngă càng lớn v́ tham, v́ háo danh, v́ lười học, v́
thiếu trí huệ. Họ thực sự không biết vượt biên để làm ǵ nên cuối cùng trở
thành một di dân kinh tế, dần dần ch́m vào nếp sống hưởng thụ, đă lơ là
đạo học lại xem nhẹ thế học, chỉ tự măn với cảnh chùa to Phật nhỏ biến đạo
tràng thành cơ sở kinh doanh, nên rốt cuộc thầy không ra thầy, ông không
ra ông. Cứ lắng nghe một số đầu tṛn áo vuông gặp ai cũng kêu túng thiếu,
gặp ai cũng vay mượn hay kêu gọi đóng góp tịnh tài, gặp ai cũng xưng
"thầy" kêu "con" bất kể già trẻ lớn bé th́ đủ thấy cái loạn này trầm trọng
đến đâu. V́ vụ lợi và ngă mạn như thế nên số này thường trở thành ồn ào
lăng xăng trong các hoạt động chính trị thời thượng, dễ bị lợi dụng làm
b́nh phong, làm bàn đạp dưới danh nghĩa phục vụ cộng đồng, giải trừ pháp
nạn, liên tôn đoàn kết, quốc gia đối kháng, đấu tranh tự do tôn giáo, vận
động nhân quyền. Thực tế, phần đông chỉ bảo vệ và hô hào quyền làm "người
nô lệ" cho đồng tiền ngoại bang, nô lệ cho những mánh mung móc túi đồng
hương đồng đạo.
Thứ hai, một số
Phật tử hữu tâm, có căn cơ, có ư thức chính trị th́ lại câu nệ h́nh thức,
lầm lẫn Phật sự với định chế, cứ nhất quyết đấu tranh chống "giáo hội quốc
doanh" và phục hoạt "giáo hội thống nhất". Thầy Thanh Từ sang Mỹ thuyết
pháp chỉ có một vài Thầy công khai chào đón. Thầy Thanh Từ đến Úc phải
thuyết pháp trong một hàng ăn c̣n phảng phất mùi thịt cá mắm muối. Không
một chùa lớn nào cho Thầy xử dụng giảng đường. Họ chỉ bán sách, bán băng
của Thầy Thanh Từ - và cả của Thầy Nhất Hạnh, Thầy Thiện Châu, đă không
trả tiền bản quyền th́ chớ, họ c̣n nếu không nặng nhẹ đàm tiếu quư vị đó
th́ cũng làm như không biết quư vị đó là ai. V́ sợ lây tiếng "quốc doanh",
"chủ ḥa", "không có tinh thần cộng đồng".
Một vị Tăng qua
đời v́ một lư do thầm kín nào đó đang được cảnh sát điều tra thế mà lại
được tổ chức tang lễ trang nghiêm hoành tráng như tang lễ của một anh hùng
tử đạo trong khi Thầy Thiện Siêu, Thầy Đức Nhuận văng sanh th́ một vài
chùa chỉ âm thầm cúng cơm cầu siêu như cho một Phật tử vô danh. Những
người này cũng đă quên t́nh trạng đất nước và hoàn cảnh chính trị quốc tế
hôm nay. Họ khư khư ôm lấy khẩu hiệu Bốn Không thời c̣n nửa triệu quân
nhân Mỹ ở Miền Nam và những khẩu hiệu lỗi thời của Chiến Tranh Lạnh. Họ
bất biết đồng bào tỵ nạn cần ǵ sau khi định cư. Họ quên người dân cần ǵ
sau khi chiến tranh chấm dứt. Họ quên tâm tư của lớp trẻ trong và ngoài
nước hôm nay. Họ quên nhu cầu và trách vụ đào tạo tăng tài để chấn chỉnh
sơn môn, thanh tịnh đạo tràng và trang nghiêm giáo hội, để tạo ra một lớp
tăng ni mới đủ trang nghiêm, tài trí khả dĩ khắc phục những tệ trạng,
tránh những vết xe đổ hầu có thể kế thừa sự nghiệp vệ đạo hộ đời của tiền
nhân.
Với tư cách là một
định chế, Phật giáo không cần quyền lực và phương tiện để củng cố và bành
trướng nên Phật giáo không nhất thiết cảm thấy nhu cầu phải thỏa hiệp,
nhất là những thỏa hiệp phương hại đến việc tŕ giới, tu chứng và hành
thiện độ đời. Chính quyền cần Phật giáo hơn là Phật giáo cần chính quyền.
Chính quyền Pháp rồi chính quyền Mỹ, Đệ Nhất Cộng Ḥa rồi Đệ Nhị Cộng Ḥa
không chịu thấy điều đó, khi thấy được th́ đă quá muộn. Trong lúc tiến
hành Phật sự, các hàng Phật tử xuất gia và tại gia cũng phải làm cho chính
quyền thấy điều đó, không phải để bắt bí ṿi vĩnh hay kể công, nhưng là để
cho chính quyền ư thức rằng nếu không trợ duyên th́ cũng đừng ngán trở
những cơ duyên hay phung phí những tài nguyên và nổ lực hành thiện của
Phật giáo.
Mặt khác, chính
quyền cần Phật giáo nhưng chính quyền cũng có thể bắt bí Phật giáo. V́
chính quyền biết rơ nếu phải lựa chọn giữa Việt Nam và Pháp, Mỹ, Nga,
Trung Hoa, giữa tự chủ và lệ thuộc, giữa độc lập và thân phận một đồng
minh nhỏ, giữa quốc gia và quốc tế, giữa dân tộc và toàn cầu, giữa an b́nh
và tao loạn th́ đại khối Phật tử sẽ chọn Việt Nam, tự chủ, độc lập, quốc
gia, dân tộc và an b́nh. Đó là điểm "yếu" của Phật giáo, đó là những điều
Phật giáo ít khi chịu thỏa hiệp. Đó là điểm làm cho Phật giáo bị bắt bí.
V́ Phật tử không thể nghĩ "thà mất nước không thà..." nên đành phải lặp
lại lời Trần b́nh Trọng "thà làm quỷ nước Nam c̣n hơn là...", hay lặp lại
lời Hồ chí Minh "thà nếm phân thằng Pháp c̣n hơn là..."
Cuộc tranh đấu
quốc-cộng hay thống nhất-quốc doanh chỉ đem lại cái hại là ngán trở công
việc hành thiện và tu chứng của Phật giáo với luận điệu phải đợi cho "giáo
hội thống nhất" tái phục hoạt rồi mới bắt tay vào việc. Bao giờ đây? Thầy
Tuệ Sĩ một lần cầm súng phục quốc rồi thất bại. Có người thở than rằng
Phật tử ở trong và ngoài nước phải "đi lạy thiên hạ sói đầu" để cứu Thầy,
cũng chỉ v́ Thầy quên rằng Thầy tu không cầm chuông mơ th́ cũng chỉ cầm
bút chứ không cầm súng, nhất là cầm súng chống lại người Việt Nam khi đất
nước đă ḥa b́nh thống nhất. Tiếp tục ăn thua đủ th́ đi đến đâu và có lợi
ǵ cho dân tộc cho Phật giáo? Gây nội chiến là mắc bẫy thiên hạ gài cho
Phật giáo và chính quyền kèn cựa nhau để họ ngư ông hưởng lợi. Thiên hạ
đối lập, Phật giáo đối kháng, cũng như ngày xưa thiên hạ an toàn ở hậu
phương để tuyển mộ tân ṭng, để chống quỷ đỏ, để kinh doanh, để ban phép
lành cho những khẩu súng phát cho hàng hàng lớp lớp quân dịch ra trận làm
chiến sĩ vô danh và chờ đem xác chết về để làm lễ mồ mặc niệm anh hùng tử
sĩ.
Phật giáo là con
sư tử, những Phật tử vụng tính, chủ quan lạc đạo, cơ hội chủ nghĩa, biếng
học, lười suy nghĩ, ham danh chính là sư tử trùng. Chỉ có những con sư tử
trùng đó mới "gây bệnh" cho những đồng đạo. Chỉ có những con sư tử trùng
đó mới cản bước vệ đạo độ đời của Phật giáo.
Trong tâm nguyện
giải hoặc, người Phật tử có khi đă bất đắc dĩ phải làm Ông Ác đối với một
số đồng bào khác tôn giáo khi họ lợi dụng tín ngưỡng của họ để làm những
điều hại cho đồng bào đồng loại, và hại cho tín ngưỡng của chính họ. Những
Phật tử có hạnh nguyện Ông Ác đó sẽ không tránh khỏi bị lên án là bất công
cục bộ nếu cảnh giác những điều tiêu cực của thiên hạ mà né tránh chuyện
những con sư tử trùng trong chính tâm cảnh tín ngưỡng của ḿnh.
Những chuyện sư tử
trùng ở đây là một cơ duyên giải hoặc. Thực t́nh, trong cơ duyên này, làm
thinh cũng "chết" mà nói ra cũng "chết". Chỉ c̣n đường sống may ra là nói
trong tâm nguyện vô tranh, vô cầu, không sân hận tư t́nh tư ư.
Mặt khác, một số
những vụ việc không được nhắc đến ở đây, không có nghĩa là chưa xảy ra,
một số danh tính không được nhắc đến ở đây, không có nghĩa là chưa có ǵ
đáng ghi nhận. Nói thế khác, những vụ việc, những danh vị được nhắc đến
không phải là độc nhất vô nhị, hết đường cải thiện. Những vụ việc, những
danh vị được nhắc đến chỉ là ví dụ mà v́ trùng trùng duyên khởi nên đă trở
thành điển h́nh. Thế thôi. Nếu đồ tể một phút buông dao thành Phật th́
đương nhiên họ vẫn có thể là những vị Phật sẽ thành để độ cho hạng ông ác
sơ cơ lấp ló ngoài cổng chùa. Cho nên, sự có mặt của họ ở đây lúc này dù
sao cũng là một công đức, công đức của những tấm gương cảnh tỉnh cho những
Phật tử có tâm nguyện "phục vụ dân tộc trong ánh sáng của đạo pháp và phục
vụ đạo pháp trong những điều kiện khế cơ khế lư của dân tộc".
Mùa Phật Đản, tháng 5.2002
|
|