WWW CHUYỂN LUÂN

 

Chuyển Luân kính chúc quư bạn đọc gần xa một năm Mậu Tư-2008 Sức khoẻ, An lạc và Tinh tấn

Trang chủ || Liên hệ

   
  Trang chủ
  Thời sự - xă hội
  Khoa học
  Lịch sử
  Văn nghệ / văn hóa
  Hồ sơ
  Đọc sách
  Đọc báo bạn
  Bạn đọc viết
 

Góp nhặt cát đá

 

Tác giả

  Video clips
  Online số cũ từ 2003
  Các số báo trước 2003
   

 

Nối Kết:

      

   
  Tác phẩm chọn lọc
  Thầy Nhất Hạnh
   

CHUYỂN LUÂN SỐ THÁNG 11/2003

Đọc "Weapons of Mass Deception": Vũ khí lừa dối hàng loạt

 

Nguyễn Văn

 

 Vài tháng trước và sau cuộc chiến ở Iraq xảy ra, bao nhiêu sự thật xung quanh cuộc chiến được phơi bày trước công chúng thế giới làm cho ngay cả những người “chủ chiến” cũng phải kinh ngạc về mức độ lừa dối công chúng của chính phủ Anh và Mĩ.  Tổng thống George W. Bush và Thủ tướng Tony Blair liên tục khơi màu cho cuộc chiến bằng những hù dọa về hiểm họa của vũ khí tàn phá hàng loạt (weapon of mass destruction, hay WMD) của Saddam Hussein.  Đó cũng là nguyên nhân chính để hai ông này gây chiến ở Iraq.  Qua hồ sơ, h́nh ảnh do vệ tinh nhân tạo chụp được, và phỏng vấn các nhân vật “đối kháng” Iraq, ông Bush và Blair cho chúng ta biết rằng cần phải xâm lăng Iraq để ngăn chận một thảm họa chiến tranh sinh hóa học.  Không chỉ xâm lăng mà c̣n phải xâm lăng càng sớm càng tốt.  Lúc đầu công chúng c̣n nghi ngờ trước những tuyên bố mang tính hù dọa này, nhưng sau khi cuộc chiến bắt đầu và quân đội đang xông vào chiến trường th́ một phần những nghi ngờ đó chuyển sang ủng hộ quân đội.  Song, nhiều câu hỏi về lí do thật sự đằng sau cuộc chiến vẫn c̣n đó, và quan trọng hơn, Bush và Blair đă buôn bán cuộc chiến cho công chúng như thế nào.

 

Weapons of Mass Deception là cuốn sách đầu tiên hệ thống hóa những lừa dối đó.  Cuốn sách giải thích cho công chúng thấy cái chiến dịch thông tin và chỉ ra sự đồng lơa của giới truyền thông trong công cuộc buôn bán cuộc xâm lăng vào Iraq.  Cả hai tác giả quyển sách, Sheldon Rampton và John Stauber, đều là chuyên gia nghiên cứu thuộc trung tâm nghiên cứu về truyền thông và dân chủ (Center for Media and Democracy, CMD).  CMD là một trung tâm bất vụ lợi do Stauber thành lập vào năm 1993 nhằm vạch trần những âm mưu tuyên truyền của giới chính khách và thương măi.

 

Phải nói ngay rằng Rampton và Stauber không phải là những người mù quáng thừa nhận những biểu tượng như đoạn phim mô tả lính Mĩ giật sập bức tượng Saddam Hussein tại quảng trường Firdos ở Baghdad vào ngày 9/4/2003.  H́nh ảnh này được truyền đi khắp thế giới nhằm cho công chúng thấy dân Iraq đă thực sự được “giải phóng”.  Nhưng Rampton và Stauber cho chúng ta một sự thực khác: Đó là một màn tŕnh diễn được dàn dựng khá công phu, và hôm đó chỉ có vài chục người hiện diện chứng kiến sự kiện đó. 

 

Rampton và Stauber nêu bật nhu cầu truyền thông trong cuộc chiến và sự công tác vui vẻ của John W. Rendon, một chuyên gia về truyền thông do Ngũ giác đài và CIA mướn làm việc, trong công cuộc buôn bán chiến tranh.  Ngày 29/2/1996, trước các học viên sĩ quan không quân Mĩ (US Air Force Academy), ông tuyên bố, “Tôi không phải là một chiến lược gia về an ninh, cũng không phải là một chiến thuật gia về quân sự.  Tôi là một chính trị gia ... Tôi là một chiến sĩ thông tin và một giám đốc tri giác.”  Rendon hỏi các học viên rằng c̣n nhớ khi quân đội Mĩ tiến vào thành phố Kuwait vào năm 1991 và được hàng trăm người Kuwaitis chào đón với những lá cờ Mĩ: “Các anh có khi nào ngạc nhiên về sự kiện đó không?  Làm sao mà người Kuwait sau nhiều tháng bị kềm kẹp lại có cờ Mĩ trong tay, mà c̣n thậm chí có cờ của các nước đồng minh?  Tốt.  Câu trả lời cũng không khó lắm đâu.  Đó là một trong những công việc của tôi lúc đó.”  Weapons of Mass Deception cung cấp nhiều giai thoại làm cho người đọc phải tỉnh ngộ.  Chẳng hạn như trường hợp của Andrew H. Card Jr, Chánh văn pḥng Ṭa bạch ốc, khi b́nh luận về những lí do lật đổ Saddam Hussein vào giữa năm 2002, nói: “Đứng trên quan điểm thị trường, không ai đưa vào thị trường một sản phảm vào tháng Tám”.  Nói cách khác, chiến dịch thông tin mà Washington khởi xướng chống Iraq không thể tiến hành vào tháng Tám, mà phải vào tháng Chín (kỉ niệm một năm sau biến cố 9/11).  Và quả như thế, chiến dịch thông tin dẫn đến cuộc chiến ở Iraq được khởi đầu vào tháng Chín năm 2002.  Những bối cảnh và sự thật này làm cho người đọc nhận thức rằng một kế hoạch định hướng Trung Đông đă được soạn thảo từ trước, và biến cố 9/11 chỉ là một trong những lí do để giới cầm quyền Washington có thêm nguyên liệu cho cuộc chiến.

 

Tác giả cuốn sách tŕnh bày từng tuyên bố và phát biểu của chính phủ Bush về cuộc chiến và lí do cho cuộc chiến, rồi tuần tự vạch trần những sai trái và dối trá trong mỗi lí do, trong mỗi lời tuyên bố.  Cái thông điệp đằng sau của cuốn sách cũng chẳng khác ǵ thông điệp của cuốn phim Bowling for Columbine (do Michael Moore làm đạo diễn), đó là: Một khi chính phủ có thể gieo một nỗi hoang mang, hay tốt hơn nữa, một nỗi sợ hăi vào quần chúng, th́ giới chính khách có thể thuyết phục và động viên cái quần chúng đó làm bất cứ việc ǵ.  Trong bối cảnh này và trong một xă hội dân chủ, đáng lẽ giới truyền thông phải đóng vai tṛ chất vấn sự thật, đặt dấu hỏi đối với giới cầm quyền, nhưng Rampton và Stauber phơi bày những thất bại cơ bản của hầu như tất cả các cơ quan truyền thông ở Mĩ trong vai tṛ căn bản đó.  T́nh h́nh ở Anh cũng chẳng sáng sủa ǵ hơn t́nh h́nh ở Mĩ.

 

Mới đây, Scott Ritter, một cựu thanh tra vũ khí cho Liên hiệp quốc, đặt một câu hỏi, “Khi Bộ trưởng quốc pḥng Donald Rumsfeld tuyên bố Iraq có hàm chứa vũ khí tàn phá hàng loạt, trong giới truyền thông Mĩ không ai chất vấn ông ta, không ai đ̣i hỏi ông phải chứng minh; họ chỉ in lại những ǵ ông nói.  Và nay chúng ta đ̣i hỏi bằng chứng.”  Ông Bush và Blair dùng chiêu bài vũ khí tàn phá hàng loạt để gây chiến, và cho đến nay như chúng ta biết, Iraq không có vũ khí tàn phá hàng loạt.  Nhưng chúng ta biết rơ rằng Mĩ và Anh có hàng tá vũ khí lừa dối hàng loạt – weapons of mass deception.  Cuốn sách này là một nỗ lực ban đầu nhưng quan trọng nhằm làm cho những người được dân bầu lên phải có trách nhiệm nói sự thật trước người dân.

 

(*) Weapons of mass deception của Sheldon Rampton và John Stauber, Nhà xuất bản J. P. Tarcher, 234 trang, giá bán: $11.95 trên Amazon.com

Bài trong tháng

Bon đạn và chiến tranh tậm lí
Bring 'em On
Buồn bă với những môi hôn_Cao Huy Thuần
Bùi Tín và vấn đề thông tin
Bảo tồn môi sinh: Chiến tranh giữa hai thế giới
Bộ gen trong cây lúa và triển vọng
Chiến tranh
Chiến tranh trên sự thật
Chuyến tàu nửa đêm
Chú Sam nổi giận
Cá mập ở Washington
Cầu ṿng nguy hiểm
Cổ máy
Cứu trợ nhân đạo?
DDT và vấn đề cân đối giữa lợi ích và nguy hiểm
Deception and Propaganda within the Vietnamese Community in Australia
Di chỉ khảo cổ học về giai đoạn "Hậu đồ đá mới"
Elite U.S. Unit Killed Hundreds of Vietnamese Civilians, Report Says
Hành tŕnh ngược chiều
Hóa chất khai hoang trong cuộc chiến Viện Nam: Qui mô và tầm ảnh hưởng
Hướng dẫn việc t́m kiếm thông tin sức khoẻ trên hệ thống thông tin liên mạng (internet)
Hồ sơ Phật Giáo Việt Nam
Hội chứng phi Việt Nam
Joseph Wilson - Những ǵ tôi không t́m thấy ở Phi châu
Khoa học, xă hội, và rủi ro
Kể chuyện mùa thu Vác-xa-va
Luận kiếm bên bờ giếng
Ly trà thời đại
Một bí mật bị chôn vùi
Ngô Đ́nh Diệm - Bảy nguyên nhân thất bại
Người cao tuổi và sự hạn chế của y khoa
NGỘ ĐỘC” (NƯỚC) CỦ DỀN-NỖI OAN THỊ KÍNH
Ngụy trí thức ?
Nhân đọc "Từ điển Văn học Việt Nam"
NHẬN DIỆN THÀNH PHỐ QUẢNG CHÂU HÔM NAY, NƠI CỐ ĐÔ PHIÊN NGUNG NƯỚC NAM VIỆT NGÀY XƯA
Nhật kư Fansipan
Nhật Thực
Những tên nói láo hay nhất thế giới
Những điều vô lí của chiến tranh
Phát hiện mới về thành Thăng Long
Phát hiện mới ở Sa Huỳnh
Phỏng vấn Nguyễn Hữu Đống
Quyền phủ quyết LHQ
Ramonet - Dối trá do nhà nước bảo trợ
Sân khấu thiện và ác
Sư tử trùng (01): Thay lời tựa
Sư tử trùng (02): Chuyện năm cũ và nguyện năm mới
Sư tử trùng (03): Ḥa Thượng có phải là phật tử xuất gia?
Sư tử trùng (04): Về một chuyện xưa rất mới
Sư tử trùng (05): Úm ba la, chúng ta cùng lên tiếng
Sư tử trùng (06): Thượng thủ pháp sư bội chủ
Sư tử trùng (07): Quyền làm người nô lệ
Sư tử trùng (08): Thầy Nhất Hạnh: nạn nhân đầu tiên và cuối cùng?
Sư tử trùng (09): Mượn sư cúng thần liên tôn
Sư tử trùng (10): Nẳm vùng_Giới Tử
Sư tử trùng (11): Giáo hội và giáo hội
Sư tử trùng (11): Quanh Sự hi sinh của huynh trưởng Hồ Tấn Anh
Sư tử trùng (13): Ḥa thượng phải nhờ "Việt cộng"
Sư tử trùng (14): Cơn Băo Trong Chén Trà
Sư tử trùng (15): Những Điều Trông Thấy_Giới Tử & Tâm Quán
Sư tử trùng (16): Vơ Văn Ái_Ch́m Xuồng Níu Phao
Sự im lặng của nghĩa đại cổ trên núi A Mang
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Sự thật về cái "nghèo" của người làm khoa học
Thiền định dưới ánh sáng khoa học
Thái độ của một số người Việt hải ngoại trước cuộc chiến Iraq và dịch SARS
Trăm năm trong cơi người ta
Tôn giáo và quan điểm tiến hóa
Tạo sinh vô tính và cái chết của Thượng đế
Tạo sinh vô tính và vấn đề sinh đạo đức
Tản mạn nhân vụ 9/11
Tản mạn về SARS
Từ những phát hiện mới về thành Thăng Long
Ung thư vú và vấn đề thông tin y khoa
Vấn đề y đức trong nghiên cứu tế bào mầm (stem cells)
Why I hate George W. Bush.
Yếu tố tôn giáo trong cuộc đụng độ giữa Mĩ và Iraq
Điểm sách "Từ thù đến bạn" của Bùi Tín_Nguyễn Văn
Đu đủ và thai nghén_Sự thật hay truyền thuyết?
Đậu nành và sức khỏe: đâu là thực và đâu là giả
Đọc "Phồn hoa kinh" của Hoàng Nguyên Nhuận_Nguyễn Văn
Đọc "Weapons of Mass Deception": Vũ khí lừa dối hàng loạt_Nguyễn Văn
Đọc sách “Secrets” của Daniel Ellsberg (*): Lừa dối và vỡ mộng_Nguyễn Văn
“Vietnamese Engaged Buddhism: The Struggle Movement of 1963-1966”

 

 

   

Copyright Chuyển Luân 2005

Designed by HT MEDSOFT

CHUYỂN LUÂN ONLINE