Đọc "Weapons of
Mass Deception": Vũ khí lừa dối hàng loạt
Nguyễn Văn
Vài tháng trước và sau
cuộc chiến ở Iraq xảy ra, bao nhiêu sự thật xung quanh cuộc chiến được
phơi bày trước công chúng thế giới làm cho ngay cả những người “chủ chiến”
cũng phải kinh ngạc về mức độ lừa dối công chúng của chính phủ Anh và Mĩ.
Tổng thống George W. Bush và Thủ tướng Tony Blair liên tục khơi màu cho
cuộc chiến bằng những hù dọa về hiểm họa của vũ khí tàn phá hàng loạt
(weapon of mass destruction, hay WMD) của Saddam Hussein. Đó cũng là
nguyên nhân chính để hai ông này gây chiến ở Iraq. Qua hồ sơ, h́nh ảnh do
vệ tinh nhân tạo chụp được, và phỏng vấn các nhân vật “đối kháng” Iraq,
ông Bush và Blair cho chúng ta biết rằng cần phải xâm lăng Iraq để ngăn
chận một thảm họa chiến tranh sinh hóa học. Không chỉ xâm lăng mà c̣n
phải xâm lăng càng sớm càng tốt. Lúc đầu công chúng c̣n nghi ngờ trước
những tuyên bố mang tính hù dọa này, nhưng sau khi cuộc chiến bắt đầu và
quân đội đang xông vào chiến trường th́ một phần những nghi ngờ đó chuyển
sang ủng hộ quân đội. Song, nhiều câu hỏi về lí do thật sự đằng sau cuộc
chiến vẫn c̣n đó, và quan trọng hơn, Bush và Blair đă buôn bán cuộc chiến
cho công chúng như thế nào.
Weapons of Mass
Deception là
cuốn sách đầu tiên hệ thống hóa những lừa dối đó. Cuốn sách giải thích
cho công chúng thấy cái chiến dịch thông tin và chỉ ra sự đồng lơa của
giới truyền thông trong công cuộc buôn bán cuộc xâm lăng vào Iraq. Cả hai
tác giả quyển sách, Sheldon Rampton và John Stauber, đều là chuyên gia
nghiên cứu thuộc trung tâm nghiên cứu về truyền thông và dân chủ (Center
for Media and Democracy, CMD). CMD là một trung tâm bất vụ lợi do Stauber
thành lập vào năm 1993 nhằm vạch trần những âm mưu tuyên truyền của giới
chính khách và thương măi.
Phải nói ngay rằng
Rampton và Stauber không phải là những người mù quáng thừa nhận những biểu
tượng như đoạn phim mô tả lính Mĩ giật sập bức tượng Saddam Hussein tại
quảng trường Firdos ở Baghdad vào ngày 9/4/2003. H́nh ảnh này được
truyền đi khắp thế giới nhằm cho công chúng thấy dân Iraq đă thực sự được
“giải phóng”. Nhưng Rampton và Stauber cho chúng ta một sự thực khác: Đó
là một màn tŕnh diễn được dàn dựng khá công phu, và hôm đó chỉ có vài
chục người hiện diện chứng kiến sự kiện đó.
Rampton và Stauber nêu
bật nhu cầu truyền thông trong cuộc chiến và sự công tác vui vẻ của John
W. Rendon, một chuyên gia về truyền thông do Ngũ giác đài và CIA mướn làm
việc, trong công cuộc buôn bán chiến tranh. Ngày 29/2/1996, trước các học
viên sĩ quan không quân Mĩ (US Air Force Academy), ông tuyên bố, “Tôi
không phải là một chiến lược gia về an ninh, cũng không phải là một chiến
thuật gia về quân sự. Tôi là một chính trị gia ... Tôi là một chiến sĩ
thông tin và một giám đốc tri giác.” Rendon hỏi các học viên rằng c̣n
nhớ khi quân đội Mĩ tiến vào thành phố Kuwait vào năm 1991 và được hàng
trăm người Kuwaitis chào đón với những lá cờ Mĩ: “Các anh có khi nào
ngạc nhiên về sự kiện đó không? Làm sao mà người Kuwait sau nhiều tháng
bị kềm kẹp lại có cờ Mĩ trong tay, mà c̣n thậm chí có cờ của các nước đồng
minh? Tốt. Câu trả lời cũng không khó lắm đâu. Đó là một trong những
công việc của tôi lúc đó.” Weapons of Mass Deception cung cấp
nhiều giai thoại làm cho người đọc phải tỉnh ngộ. Chẳng hạn như trường
hợp của Andrew H. Card Jr, Chánh văn pḥng Ṭa bạch ốc, khi b́nh luận về
những lí do lật đổ Saddam Hussein vào giữa năm 2002, nói: “Đứng trên quan
điểm thị trường, không ai đưa vào thị trường một sản phảm vào tháng Tám”.
Nói cách khác, chiến dịch thông tin mà Washington khởi xướng chống Iraq
không thể tiến hành vào tháng Tám, mà phải vào tháng Chín (kỉ niệm một năm
sau biến cố 9/11). Và quả như thế, chiến dịch thông tin dẫn đến cuộc
chiến ở Iraq được khởi đầu vào tháng Chín năm 2002. Những bối cảnh và sự
thật này làm cho người đọc nhận thức rằng một kế hoạch định hướng Trung
Đông đă được soạn thảo từ trước, và biến cố 9/11 chỉ là một trong những lí
do để giới cầm quyền Washington có thêm nguyên liệu cho cuộc chiến.
Tác giả cuốn sách tŕnh
bày từng tuyên bố và phát biểu của chính phủ Bush về cuộc chiến và lí do
cho cuộc chiến, rồi tuần tự vạch trần những sai trái và dối trá trong mỗi
lí do, trong mỗi lời tuyên bố. Cái thông điệp đằng sau của cuốn sách cũng
chẳng khác ǵ thông điệp của cuốn phim Bowling for Columbine (do
Michael Moore làm đạo diễn), đó là: Một khi chính phủ có thể gieo một nỗi
hoang mang, hay tốt hơn nữa, một nỗi sợ hăi vào quần chúng, th́ giới chính
khách có thể thuyết phục và động viên cái quần chúng đó làm bất cứ việc
ǵ. Trong bối cảnh này và trong một xă hội dân chủ, đáng lẽ giới truyền
thông phải đóng vai tṛ chất vấn sự thật, đặt dấu hỏi đối với giới cầm
quyền, nhưng Rampton và Stauber phơi bày những thất bại cơ bản của hầu như
tất cả các cơ quan truyền thông ở Mĩ trong vai tṛ căn bản đó. T́nh h́nh
ở Anh cũng chẳng sáng sủa ǵ hơn t́nh h́nh ở Mĩ.
Mới đây, Scott Ritter,
một cựu thanh tra vũ khí cho Liên hiệp quốc, đặt một câu hỏi, “Khi Bộ
trưởng quốc pḥng Donald Rumsfeld tuyên bố Iraq có hàm chứa vũ khí tàn phá
hàng loạt, trong giới truyền thông Mĩ không ai chất vấn ông ta, không ai
đ̣i hỏi ông phải chứng minh; họ chỉ in lại những ǵ ông nói. Và nay chúng
ta đ̣i hỏi bằng chứng.” Ông Bush và Blair dùng chiêu bài vũ khí tàn phá
hàng loạt để gây chiến, và cho đến nay như chúng ta biết, Iraq không có vũ
khí tàn phá hàng loạt. Nhưng chúng ta biết rơ rằng Mĩ và Anh có hàng tá
vũ khí lừa dối hàng loạt – weapons of mass deception. Cuốn sách
này là một nỗ lực ban đầu nhưng quan trọng nhằm làm cho những người được
dân bầu lên phải có trách nhiệm nói sự thật trước người dân.
(*)
Weapons of mass deception của Sheldon Rampton và John Stauber, Nhà xuất
bản J. P. Tarcher, 234 trang, giá bán: $11.95 trên Amazon.com
|