|
Một vài ghi nhận nhân buổi giới thiệu sách
“Vietnamese
Engaged Buddhism: The Struggle Movement of 1963-1966”
của Tác giả Quán Như Phạm
Văn Minh
Chiều Chủ nhật vừa qua ((15/12), tại Chùa
Phước Huệ, Tác giả Quán Như Phạm Văn Minh và một số thân hữu tổ chức một
buổi giới thiệu sách “Vietnamese Engaged Buddhism: the Struggle Movement
of 1963 – 1966” [1] (tạm dịch: Phong trào Phật giáo dấn thân: cuộc đấu
tranh 1963 – 1966). Có mặt tại buổi giới thiệu là thân nhân, bạn bè – kể
cả bạn người Úc – của tác giả, và hai vị Thượng toạ Thích Bảo Lạc (Chùa
Pháp Bảo) và Thích Phước Đạt (Chùa Phước Huệ).
Mở đầu buổi giới thiệu sách, Tác giả Phạm
Văn Minh ngỏ lời chào mừng và cám ơn thân hữu (khoảng 50 người) đă dành
th́ giờ đến tham dự và ủng hộ Tác giả. Qua giọng nói hàm chứa nhiều xúc
động, Tác giả cám ơn Nhạc mẫu, hiền thê và ba con của Tác giả, những người
đă hi sinh, chịu đựng, khuyến khích Tác giả có tinh thần và ư chí để hoàn
thành tác phẩm. Tác giả cũng không quên cám ơn những người đă trực tiếp
cung cấp dữ kiện (như Hoàng Nguyên Nhuận), góp ư và động viên (như Thomas
Nguyễn, Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thu), biên tập (Barbara Lee), và thẩm định
công tŕnh nghiên cứu (Tiến sĩ Malcolm Pearce).
Trong lịch sử Phật giáo Việt Nam cận đại,
thời gian 1963 đến 1966 có lẽ là một giai đoạn đầy thử thách và biến cố.
Ai cũng biết trong thời gian này, Phật giáo Việt Nam bị Chính phủ của Tổng
thống Ngô Đ́nh Diệm, một người theo đạo Ki-tô giáo La Mă, đàn áp rất dă
man. Nhiều Phật tử đă “xuống đường”, và trong quá tŕnh đấu tranh đă có
nhiều người hi sinh. Trong số những người hi sinh, có lẽ Thích Quảng Đức
là người nổi tiếng nhất v́ ông là người tự thiêu đầu tiên để phản đối
chính sách kỳ thị tôn giáo của Chính phủ, và đánh động lương tri của quần
chúng trên khắp thế giới. Phong trào đấu tranh này, thường được giới
truyền thông quốc tế gọi là “The Struggle Movement 1963 – 1966”, đánh dấu
một giai đoạn bi hùng của Phong trào Phật giáo Dấn thân.
Biến cố 1963 – 1966 đă được nhiều người
ghi lại qua một số sách báo xuất bản trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phần
lớn – nếu không muốn nói là hầu hết – đều viết bằng tiếng Việt và cho độc
giả người Việt. Cuốn “Vietnamese Engaged Buddhism: The Struggle Movement
of 1963-1966”, theo Tác giả, là một cuốn sách đầu tiên viết bằng tiếng Anh
về Phong trào này và nhắm vào độc giả là thành phần nghiên cứu và người
nước ngoài. Trong sách, Quán Như ghi lại những sự kiện quan trọng dưới
tầm nh́n của một người trong cuộc, bởi v́ Tác giả là một người từng tham
dự tích cực vào phong trào tranh đấu. Tác giả nhấn mạnh rằng đây không
phải là một công tŕnh sử học, mà là những diễn dịch của một người trong
cuộc, và có thể nói là cũng đại diện cho đám đông thầm lặng trong giai
đoạn đó.
Tiếp theo sau phát biểu của Quán Như là
phần phát biểu của Hoàng Nguyên Nhận, một người bạn thân của Tác giả, và
một trong những người có thể nói là đóng một vai tṛ quan trọng trong
Phong trào Tranh đấu 1963 – 1966. Theo Hoàng Nguyên Nhận, cuốn sách của
Quán Như cho chúng ta thấy hai khía cạnh: một là Phong trào Phật giáo Dấn
thân (hay có người đề cập đến như là Phong trào Phật giáo Nhập thể) có cơ
sở xă hội và tâm linh; và hai là tu hành không phải chỉ tại chùa, mà cũng
có thể tại tâm, hay tích cực hơn, là tại xă hội.
Phát biểu trong buổi giới thiệu sách c̣n
có Hoà thượng Thích Bảo Lạc. Hoà thượng ghi nhận rằng buổi giới thiệu
sách này rất đặc biệt, bởi v́ Tác giả không bán, mà tặng, sách cho người
đến tham dự. Thật vậy, mỗi người dự đều được Tác giả cẩn thận tặng sách
trong b́a thư màu vàng, mà không đề cập đến chuyện ủng hộ tài chính.
Trong t́nh trạng in ấn sách vở ngày nay ở hải ngoại, có lẽ đây là một hi
sinh lớn của chính tác giả.
Bà Barbara Bee và Tiến sĩ Malcolm Pearce
(thuộc Karuma Foundation tại Sydney) cũng phát biểu ư kiến và bày tỏ ḷng
ngưỡng mộ Phong trào Đấu tranh 1963 – 1966, và qua sách này, hai người đă
học hỏi rất nhiều về lịch sử, văn hóa Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.
Trong phần giới thiệu, Tiến sĩ Pearce viết rằng cuốn sách của Quán Như sẽ
cung cấp nhiều sử kiện có giá trị cho các nghiên cứu sinh về Việt Nam và
Phật giáo Việt Nam.
Xen kẻ trong các phát biểu là phần văn
nghệ nhẹ do các thân hữu như Đăng Lan, Vũ Hùng, Hữu Vọng và Thanh Tuyền
đóng góp. Những bài hát mang chút khói lửa của chiến tranh như Đại bác ru
đêm, Tôi sẽ đi thăm, Ghế đá công viên (Trịnh Công Sơn), hay chút triết lí
như Giọt mưa trên lá, Kẻ thù ta, Chấp tay lạy (Phạm Duy) cùng tiếng đàn
guitar đă đưa người tham dự về một quá khứ sôi động trong các khuôn viên
đại học Sài G̣n thời đầu thập niên 1960s.
Ghi nhận của người viết
Cụm từ “Phật giáo Dấn thân” có lẽ làm cho
nhiều người ngạc nhiên, bởi v́ hai chữ dấn thân có vẻ chính trị và không
nằm trong phạm vi suy nghĩ của những người nh́n Phật giáo như là một tôn
giáo “thụ động”. Thật vậy, có người từng nói Phật giáo quá ôn ḥa, không
quyết liệt đối với các hệ thống triết lí xa lạ với Phật giáo. Dung ḥa,
chấp thuận, và thậm chí bảo vệ các hệ thống triết lí khác là một đặc tính
của Phật giáo, nhưng nếu bị đặt vào t́nh huống khó khăn, Phật giáo sẽ hành
động với tinh thần nhân đạo và xây dựng. Đối với người Việt chúng ta,
Phật giáo dấn thân không phải là một ư niệm mới, bởi v́ một trong những
đặc tính nổi bật của Phật giáo Việt Nam là sự kết hợp chặt chẽ giữa đạo và
đời. Trong lịch sử dài dựng nước và giữ nước, Phật giáo đă từng là một
lực lượng làm thay đổi và tiến triển xă hội, thậm chí chấp chính. Khuông
Việt Đại sư Ngô Chân Lưu từng làm sứ thần nhà Tống, Thiền sư Vạn Hạnh từng
đóng vai tṛ cố vấn cho vua Nhà Lê và Nhà Lư. Trong thời gian đầu thế kỉ
20, Phật tử là một lực lượng tích cực đ̣i tự do độc lập cho nước nhà, và
tích cực đấu tranh đ̣i ấn xá cho nhà ái quốc Phan Bội Châu. Do đó, việc
Thượng tọa Thích Quảng Đức hi sinh, hay Phật tử xuống đường để phản đối
chính sách của Chính phủ Ngô Đ́nh Diệm không nằm ngoài những hành động xây
dựng và nhân đạo của Phật giáo.
Phật giáo là một loại thuốc cho
thế giới bệnh tật. Phật giáo không phải là một con đường dẫn đến hạnh
phúc cho một cá nhân, mà là nhắm vào mục tiêu vun trồng ḥa b́nh và đạo
đức, diệt khổ, dung ḥa, và cuộc sống hạnh phúc cho thế giới chung quanh.
Bởi v́ mỗi con người đều có một cuộc sống, thành ra, con người phải hành
động; và cái ư tưởng sâu xa của Phật giáo là những ǵ con người hành động
đều có hậu quả. Do đó, chúng ta cần phải hành động có ư thức. Phật giáo
là một ư thức từ con tim. Đức Phật ngày xưa, khi chứng kiến những bất
công trong xă hội và đau khổ của quần chúng, đă sẵn sàng xa rời cuộc sống
vương giả và dấn thân vào hoạt động xă hội. Hành động của Phật không phải
do cảm tính chi phối mà là một việc làm hoàn toàn có nguyên lí đem lại
phúc lợi cho thế giới. Do đó, có thể nói Phật cũng là một người dấn thân,
hay nói cho đúng hơn, Ngài là một nhà tổ chức phong trào xă hội.
Chính trị là lịch sử của hiện tại, và lịch
sử là chính trị của quá khứ. Ở một số nước và trong một giai đoạn nào đó
Phật giáo bị suy yếu đi. Thảm trạng của Phật giáo Việt Nam trong thời
1963 – 1966 nằm trong tham số của của chu ḱ lịch sử. Cuốn sách của Quán
Như là một chính trị của quá khứ, v́ nó ghi lại cho chúng ta nhiều sự kiện
thực trong thời gian đó, nhưng cũng là chính trị của hiện tại bởi v́ nhiều
bài học quan trọng trong thời gian trước vẫn là những tiền đề để những
người Phật tử chân chính ngày nay suy nghĩ cho những hành động đấu tranh
của ḿnh. Riêng người viết bài này ghi nhận một bài học trong cuốn sách
của Quán Như: đó là Phật giáo và dân tộc là một, và dân tộc Việt Nam không
thích sự can thiệp của ngoại bang.
Nguyễn Văn
16/12/2002
Chú thích:
[1] Sách
gồm 10 chương, dài 512 trang, không kể 17 trang với h́nh ảnh, do Nhà xuất
bản Văn Nghệ (California) in ấn và phát hành năm 2002. Giá bán là 25 Mỹ
kim. Mười chương của sách mô tả con đường dẫn Tác giả đến với Phật giáo
và Phong trào Phật giáo Dấn thân; những nguyên lí của Phong trào; những
khía cạnh đặc thù của Phật giáo Việt Nam; Phật giáo Việt Nam và chủ nghĩa
yêu nước; Phong trào Phật giáo 1963; những người đóng vai tṛ then chốt
trong chiến tranh và ḥa b́nh; hoạt động cho ḥa b́nh của Nhất Hạnh; cuộc
nổi dậy của Phật giáo năm 1966; và sau cùng là chương thẩm định lại Phong
trào Phật giáo dấn thân. Sách c̣n có một danh mục để tra cứu, và tiểu sử
của các nhân vật có liên quan đến hai chế độ của Ngô Đ́nh Diệm và Nguyễn
Văn Thiệu.
|